Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế mở - Pdf 47

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế mở
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới.
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh viết và công bố trước
toàn thế giới, là một sự kiện trọng đại, đánh dấu thắng lợi mở đầu của phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa. Quốc hiệu, quốc huy, quốc ca, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập từ đó hiên
ngang trên chính trường quốc tế, khẳng định quyền được bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.
Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đất nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới tự chủ. Nhưng tự
chủ không có nghĩa là khép lại, mà là tự lực, tự cường, là sự tự vận động bằng chính các nguồn lực sẵn có
ngay trong lòng dân tộc mình, đất nước mình, không trông chờ, ỷ lại vào bất cứ nguồn viện trợ nào dù đó
là sự viện trợ vô tư và khách quan nhất (trong thực tế không có sự vô tư và khách quan tuyệt đối đó); đồng
thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ và hợp tác với các nước khác trên tinh thần đoàn kết và cùng có lợi,
cùng vì mục tiêu hào bình và phát triển. Hồ Chí Minh viết:
“Những nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình, không can thiệp vào
việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả các nước,
những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô, đang chỉ cho nhân dân các nước
thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc”.
Một nền kinh tế mở trước tiên phải xuất phát từ một nền xã hội mở, và một nền văn hóa mở. Hồ Chí Minh
đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới, tự nguyện là một bộ phận của cách
mạng thế giới. Sự nghiệp cách mạng của Người là cuộc đấu tranh bền bỉ để toàn nhân loại bị áp bức thoát
khỏi kiếp nô lệ, tiến tới thế giới đại đồng. Người kêu gọi:
“Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới.
Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại !”.
Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc là sự mở rộng khẩu hiệu của V.I.Lênin và cả khẩu hiệu của C. Mac và
F.Enghen trước đó.Nó cụ thể hơn, bản chất hơn; rằng thế giới sau Cách mạng tháng mười Nga vĩ đại đã
bước vào kỷ nguyên toàn thể nhân loại bị áp bức đồng loạt đứng lên “chặt đứt cả hai cái vòi của con đỉa”
là chủ nghĩa đế quốc thực dân “hút máu” người lao động ở thuộc địa và cả ở chính quốc; rằng, đã đến lúc
lao động toàn thế giới phải cùng nhau giành lại bằng được tất cả những quyền lợi mà chủ nghĩa tư bản
dùng mọi thủ đoạn đã tước đoạt của họ, để từ đó bắt tay vào xây cuộc đời mới, cuộc đời tự do cho chính
mình.
Đối với xã hội loài người, sự phát triển và tiến bộ của nó trước tiên và cũng là cứu cánh là làm sao thỏa
mãn tối đa nhu cầu lao động của toàn thể nhân loại (thỏa mãn nhu cầu lao động chứ không phải thỏa mãn

tới nhà báo Liên Xô Ôxip Medenxtam ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Trên báo Ogonok số 39 ngày 23 tháng
12 năm 1923, Medenxtam viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc,
cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh Châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và
rượu độc và che dấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra
một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Sau này, đại hội
đồng Liên Hợp Quốc cũng khẳng định điều đó khi tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc”
và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” và tổ chức kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người trên toàn thế giới.
Khi xây dựng một xã hội mở, một nền văn hóa mở thì nền kinh tế trong đó không thể khép kín. Đó là một
lôgic tất yếu. kinh tế có phát triển không và phát triển như thế nào, đều phụ thuộc trước tiên và cuối cùng
cũng là nhân tố con người, trong đó quan trọng lại là ý thức lao động của quần chúng nhân dân. Tiến hành
cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc thì đồng thời giải phóng nhân dân hỏi kiếp nô lệ; nhưng, để
toàn dân có ý thức lao động đúng đắn thì cách mạng phải tiếp tục thực thi những nhiệm vụ nặng nề nhằm
gột rửa những thói hư tật xấu do chế độ thực dân và phong kiến cai trị tạo ra đã ăn sâu thành thói quen,
thành sức ì trong tâm thức người lao động. Hồ Chí minh là người thấu triệt sự cấp bách “phải có giáo dục
đạo đức công dân”, phải “giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính” không
chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà cho cả công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước
trong dài lâu. Ý thức lao động chuyển từ địa vị kẻ nô lệ sang người chủ đất nước trong người lao động là
sự dịch chuyển vừa có tính đột biên vừa chậm chạp, có tác động ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, tới
quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tới quá trình xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất.
Ý thức lao động ấy nếu không được giáo dục vận động thường xuyên lại có cơ hội nảy nở và phát triển
những mặt xấu, tiêu cực một cách tràn lan như cỏ dại. Hồ Chí Minh đã nói: “ Nêu cao và thực hành Cần,
Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”; và, bằng nhiều cách lý giải khác nhau, dưới nhiều
hình thức khác nhau, Người kiên trì giáo dục cán bộ đảng viên và nhân dân rèn luyện đạo đức cách mạng.
Bản thân Hồ Chí Minh luôn là tấm gương trong sáng về sự tự rèn luyện ấy.
[SIZE=2]Nội dung “Đời sống mới” do Hồ Chí Minh đề xuất bao hàm mối quan hệ hữu cơ giữa đời sống vật
chất và đời sống tinh thần do người lao động tạo dựng trực tiếp và chính họ trực tiếp hưởng những thành
quả đó, vậy họ phải ý thức được ý nghĩa của việc thực hành Cần, Kiệm,Liêm, Chính và lợi ích mà đời sống
mới đem lại cho họ. Sự tự ý thức ấy chẳng có con đường nào khác là phải học để giệt giặc dốt trong bản
thân mình, để nâng cao hiểu biết và từ đó có khả năng đổi mới tư duy. Vấn đề là ở chỗ cán bộ - những
người tổ chức và hướng dẫn quần chúng – có tự nguyện và chân thành làm công bộc của dân hay

Phép “ Dĩ bất biến ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng vào bất cứ hoàn cảnh nào, trong mọi lĩnh
vực đối nội và đối ngoại, trong chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự. Nguyên tắc độc lập, tự chủ là trên hết,
là bất di bất dịch, không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể lay chuyển nổi. Chỉ như vậy mới đảm bảo độc
lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Bất cứ ai, việc gì làm lợi và có lợi cho nước, cho dân thì có thể sử
dụng, huy động đến mức tối đa. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và khôn khéo, linh hoạt, tùy cơ
ứng biến, thì mọi cái khó thì trở nên dễ dàng.
Người viết:
“ Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại
quyền lợi dân chúng, không là việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với tổ quốc là có thể
dùng được. Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt ngay
vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta không lo gì thiếu cán bộ”.
Năm 1946 thời điểm đầy sóng gió đối với cách mạng Việt Nam, vận mệnh của nước Cộng hòa non trẻ như
ngàn cân treo sợi tóc, trước khi lên đường sang Pháp làm thượng khách, chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng
giao quyền điếu hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Người nói với cụ Huỳnh cái phép “ dĩ bất biến
ứng vạn biến”. Người nói chuyện với đồng bào:
[/FONT]
“ Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của tồ quốc và hạnh phúc của quốc dân.
Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo- là vì mục đích đó.
…………….
Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích,làm cho ích nước lợi dân. Vậy nên lần này,
tôi xin hứa với đồng bào rằng: tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc
dân”.
Và, Người gửi thư tới đồng bào Nam bộ với lời lẽ thiết tha, xúc động:
“ Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước.
…..
Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi !”.
Tại Pháp, với cương vị là thượng khách của chính phủ Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng tài tình phép “
Dĩ bất biến ứng vạn biến” để nhằm đạt được mục tiêu của mình cũng như nguyện vọng chung của dân tộc.
Với tinh thần, như Người trả lời phỏng vấn của báo Franc- Tireur: “ Tôi không muốn trở về Hà Nội tay

bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên hợp Quốc”.
Cần thiết phải trích dẫn như trên là để thấy rõ một cách đầy đủ và logic của lý luận của Hồ Chí Minh trong
việc giải quyết các mối quan hệ đa chiều giữa lịch sử và thời đại, giữa chính trị, kinh tế và văn hóa, giữa
dân tộc và quốc tế….. Thực tiễn ngót một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí
Minh; và cũng chứng minh rằng, do bản chất và dã tâm đen tối của các đế quốc thực dân đã cố tình làm
mất đi những cơ hội cho những hợp tác tốt đẹp trên nguyên tắc đảm bảo tính tự quyết của mỗi dân tộc và
các bên cùng có lợi.
Trong “ Lời tựa” cho lần xuất bản cuốn thứ nhất cuốn “ Pari – Sài Gòn – Hà Nội” , Philippe Devillers viết: “
Năm1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa thôi là
chúng ta đã có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản một sự liên kết, hơn thế
nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn khổ một tổng thể mà hai bên sẽ cùng
nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt”. điều này cho thấy một sự nuối tiếc của những công dân nước
Pháp, họ ý thức được những mất mát trong lịch sử Pháp- Việt, đã đem lại thiệt thòi cho cả hai dân tộc
đáng lí không nên có. P.Dellivers cũng thừa nhận: “ Ngay từ cuối 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu
nhân dân Việt Nam phải tập phân biệt giữa những người Pháp: một bên là thực dân đế quốc, một bên là
những người dân chủ tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng, bác ái và hành
động đi đôi với lòng tin”; và “ Bất hạnh đã đến,không phải không được kiểm soát cẩn thận. Sau đó, chính
phủ Pháp không muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí mật, một chính sách mà
lịch sử ngày nay lên án”. Trong cuốn sách này cũng trích thư củaCharle de Gaulle gửi chủ tịch Hồ Chí Minh
ngày 8 tháng 2 năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay
sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước ngài hôm
nay”. Đây thực sự là một nhận thức muộn màng. Vì cách đó hai mươi năm, ngày 18 tháng 6 năm 1946,
chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời Hãng thông tấn AFP: “ Tôi rất tin cậy ở kết quả hội nghị Pháp- Việt này. Hai
nước Pháp- Việt xa nhau không phải vì văn hóa, lý tưởng mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục
đích của Pháp là tự, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện
của nước Việt Nam”. Ngày ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh bằng tất cả mọi nỗ lực để tránh cho hai dân tộc một
cuộc chiến tranh đổ máu, đồng thời mở ra mối quan hệ cho sự phát triển trong hòa bình, độc lập. Song,
chiến tranh đã đóng sập cánh cửa của sự Phát triển đó không chỉ trong chín năm mà kéo dài tới tận tới
1975. Xâm lược Việt Nam và sau này đánh phá miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ theo vết xe đổ của thực
dân Pháp tự mình chuốc lấy những thất bại đắng cay và cũng lại phải chua xót thừa nhận những đắng cay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status