LUẬN văn THẠC sĩ GIA ĐÌNH ở THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH với VIỆC GIỮ gìn bản sắc văn hóa dân tộc TRONG bối CẢNH TOÀN cầu hóa HIỆN NAY - Pdf 39

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ...........................................................................................1
Chương 1. GIA ĐÌNH VỚI VIỆC GIỮ GÌN BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA
VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA .. .
. 10....
1. 1. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam và vai trò của nó đối với sự
phát triển của đất nước..............................................................................10
1. 1. 1. Quan niệm về bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam...................10
1. 1. 2. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là nhân tố bảo đảm sự phát
triển bền vững của đất nước .........................................................................18
1. 2. Quan niệm về toàn cầu hóa và tác động của nó đối với bản sắc
dân tộc của văn hóa Việt Nam hiện nay...............................................29
1. 2. 1. Quan niệm về toàn cầu hóa............................................................29
1. 2. 2. Những tác động của toàn cầu hóa đối với bản sắc dân tộc của văn
hóa Việt Nam hiện nay.................................................................................33
1. 3. Vai trò của gia đình đối với việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn
hóa Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.............................45
1. 3. 1. Quan niệm về giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam.......45
1. 3. 2. Vai trò của gia đình đối với việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn
hóa Việt Nam ...............................................................................................49
Chương 2. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIỮ GÌN BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA
VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA
HIỆN NAY ..................................................................................................61


2. 1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh và gia đình ở thành phố Hồ
Chí Minh trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay.....................................61
2. 1. 1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh ...........................................61
2. 1. 2. Khái quát đặc điểm gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay..64

cầu hóa hiện nay, bên cạnh những tác động tích cực, có không ít những tác
động tiêu cực đối với bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam. Hiện tượng
đánh mất bản sắc dân tộc đã biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống văn
hóa tinh thần, nhất là trong các lĩnh vực nghệ thuật, đạo đức và lối sống, đặc
biệt là ở các thành phố lớn, mà nếu không được ngăn chặn, chúng sẽ lây lan
sang tất cả các lĩnh vực đời sống, họat động và quan hệ xã hội, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến kinh tế, văn hóa, xã hội, hủy hoại bản sắc dân tộc, đe dọa
sự tồn vong của quốc gia dân tộc… Do đó, việc giữ gìn bản sắc dân tộc của
văn hóa Việt Nam là một nhiệm vụ rất quan trọng và rất cần thiết của toàn
Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, của mỗi cá nhân, gia đình và của
toàn xã hội. Trong đó gia đình - một cộng đồng nhỏ, nhưng là hạt nhân của
xã hội, có vai trò rất lớn. Gia đình chính là nơi tiếp nhận, kế thừa và chuyển
giao những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Văn hóa gia đình là bộ phận cơ bản hình thành nên bản sắc
văn hóa truyền thống dân tộc.
Cũng như nhiều địa phương trên đất nước ta, gia đình ở thành phố Hồ
Chí Minh đã và đang có những nỗ lực lớn lao trong việc giữ gìn bản sắc dân
tộc của văn hóa Việt Nam. Cố nhiên, do có những nét đặc thù về lịch sử,
kinh tế, xã hội và văn hóa, gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh


2

những thuận lợi và khó khăn chung của gia đình cả nước, có cả những thuận
lợi và khó khăn của riêng mình trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa
Việt Nam.
Cùng với gia đình cả nước, các gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh, một
thành phố chỉ mới có hơn 300 năm hình thành và phát triển, nhưng là trung
tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ, văn hóa và du lịch của cả nước
và là “cửa ngõ” hội tụ, giao lưu của nhiều dòng chảy văn hoá khác nhau, các

lai, đe dọa các giá trị đạo đức, truyền thống của gia đình và dân tộc, đe dọa
bản sắc dân tộc, cản trở việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam
nói chung, vai trò của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đó là
những vấn đề đòi hỏi phải được nghiên cứu giải quyết để phát huy vai trò
của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc
của văn hóa, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển “nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Với mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu, giải quyết những vấn đề
đó, tác giả chọn vấn đề “Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh với việc giữ gìn
bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện
nay” làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: triết học,
chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc học, xã hội học v.v… Đã có nhiều công
trình nghiên cứu về gia đình gia đình Việt Nam ở nhiều góc độ khác nhau
được công bố. Trong đó có GS. Lê Thi: "Gia đình Việt Nam trong bối cảnh
đất nước đổi mới ", Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; Vũ Ngọc Khánh:
"Văn hóa gia đình Việt Nam", Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1998; Nguyễn
Từ Chi: "Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam", Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1991; Nguyễn Thị Oanh: "Gia đình Việt Nam thời mở
cửa", Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 1998; Trần Thị Kim Xuyến: "Gia đình,


4

những vấn đề của gia đình hiện đại”, Nxb. Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh,
2002; Trần Đình Hượu: "Gia đình và giáo dục gia đình - những nghiên cứu
về gia đình Việt Nam", Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; Đặng Cảnh
Khanh: "Gia đình, trẻ em và kế thừa các giá trị truyền thống", Nxb. Lao động
– Xã hội, Hà Nội, 2003; TS. Dương Thị Minh: "Gia đình Việt Nam và vai

Một số công trình của Nguyễn Minh Hòa như: “Vấn đề gia đình ở
thành phố Hồ Chí Minh”, tạp chí Khoa học xã hội, số 31/1997, và “Nhận
diện quy mô gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và dự báo xu
hướng phát triển vào thế kỷ XXI”, tạp chí Khoa học xã hội, số 35/1998; và
“Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh nhận diện và dự báo”,
Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998,… tập trung mô tả bức tranh tổng thể
của gia đình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh với hai vấn đề cốt lõi là
cấu trúc và chức năng của gia đình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra dự
báo tổng quát về sự vận động của gia đình thành phố đến năm 2010.
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về gia đình Nam Bộ
và thành phố Hồ Chí Minh như: “Truyền thống gia đình Nam Bộ” của Sơn
Nam, tạp chí Xưa và Nay, số 46B - 12/1997 bước đầu nghiên cứu về truyền
thống gia đình của các gia đình Nam Bộ; Kỷ yếu Hội thảo Khoa học và thực
tiễn xây dựng gia đình văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh: “Xây dựng gia
đình văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh” của Sở Văn hóa Thông tin Thành
phố Hồ Chí Minh và Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh,
1994, tập trung lý giải về vai trò và sự biến đổi của các giá trị gia đình hiện
đại và bước đầu sơ kết phát động phong trào “xây dựng gia đình văn hóa tại
thành phố Hồ Chí Minh”; “Xây dựng gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh
trong sự nghiệp đổi mới”, Luận án tiến sỹ của Phạm Lê Quang, Trường Đại
học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, 2009, nghiên cứu thực trạng phát triển của gia đình ở thành phố Hồ
Chí Minh và những nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất những giải pháp để


6

xây dựng gia đình trong điều kiện hiện nay. Ngoài ra còn có các công trình
như: “Gia đình và hôn nhân người Việt ở ngoại thành thành phố Hồ Chí
Minh”, Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thành Rum, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh,

giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam hiện nay. Để đạt mục đích đó,
luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận chung về bản sắc dân
tộc của văn hóa Việt Nam và sự tác động của toàn cầu hóa đối với bản sắc
dân tộc của văn hóa Việt Nam hiện nay, về vai trò của gia đình trong việc giữ
gìn bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa.
Thứ hai, phân tích thực trạng vai trò của gia đình ở thành phố Hồ Chí
Minh trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam, nguyên nhân
và những vấn đề đặt ra.
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của
gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc của
văn hóa Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: chúng tôi giới hạn việc nghiên cứu
việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam của gia đình ở thành phố
Hồ Chí Minh trong qúa trình toàn cầu hóa hiện nay, cụ thể là giai đoạn từ
đầu thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay và luận văn cũng chỉ giới hạn phạm
vi điều tra xã hội học một số gia đình ở ba quận: Quận 1 – quận nội thành,
quận 9 – quận ven và huyện Hóc Môn – huyện ngoại thành.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đồng thời sử dụng các
phương pháp lịch sử - lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương
pháp đối chiếu, so sánh, phỏng vấn sâu,… và điều tra xã hội học bằng bảng
hỏi và xử lý kết quả bằng phần mềm SPSS 11.5 với phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên. Luận văn cũng dựa trên nền tảng các quan điểm của Chủ nghĩa


8

Mác – Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, nhà nước về gia đình,

gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc của
văn hóa Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
Với ý nghĩa như vậy, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên, học viên cao học và những ai quan tâm tới lĩnh vực này. Luận văn còn
có giá trị tham khảo cho các cơ quan, ban ngành chức năng của thành phố
Hồ Chí Minh trong quá trình hoạch định chủ trương, biện pháp giữ gìn bản
sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam cũng như xây dựng gia đình “no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, phát huy vai trò của gia đình ở thành phố trong
việc giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hóa, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc
của văn hóa Việt Nam và xây dựng, phát triển đất nước.
6 . Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.


10

Chương 1
GIA ĐÌNH VỚI VIỆC GIỮ GÌN BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN
HÓA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA
1. 1. BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

1. 1. 1. Quan niệm về bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam
Bản sắc dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hóa
Lịch sử phát triển nhân loại trải qua bao thế kỷ, mọi thứ đều có thể phôi
phai và chìm trong quên lãng, chỉ riêng văn hóa vẫn đi cùng con người và
luôn gắn liền với tiến bộ của cuộc sống và sự phát triển xã hội. Là con người,
ai cũng ra đời, trưởng thành và hướng đến tương lai từ văn hóa. Nền văn hóa
của mỗi quốc gia dân tộc trước hết thể hiện ở sắc thái, diện mạo riêng của dân

và bản sắc dân tộc của văn hóa, hai khái niệm này không phải là một nhưng
nói bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến cái cốt lõi nhất của bản sắc dân tộc.
Vì "bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa, thường được biểu hiện thông qua
văn hóa, nên cũng có thể coi là bản sắc dân tộc của văn hóa" [119, 631]. Bản
sắc dân tộc của văn hóa là những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị
hạt nhân của một nền văn hóa dân tộc, đồng thời là những sắc thái biểu hiện
đặc sắc của mỗi dân tộc được thể hiện qua tính đa dạng và thống nhất,
truyền thống và hiện đại, tự tôn dân tộc và hòa hợp dân tộc [71, 73]. Cái bản
sắc đó được kết tinh từ tâm hồn, khí phách hàng ngàn đời của dân tộc, tạo
nên nhân lõi, cốt cách, bản lĩnh và sức sống của một dân tộc, nó là căn cước
để nhận dạng nó trong trăm ngàn nền văn hoá, là bộ “gen” để di truyền bản
sắc truyền thống của mình cho các thế hệ mai sau. Bản sắc dân tộc của văn
hoá là cái bảo đảm cho thế ổn định và trường tồn của một nền văn hoá. Vì
vậy, ở góc độ tiếp cận của đề tài này, tác giả luận văn thống nhất sử dụng
thuật ngữ “bản sắc dân tộc của văn hóa”.


13

Nói đến bản sắc dân tộc hay truyền thống dân tộc thì đều có thể bao
gồm cả mặt tích cực và tiêu cực. Nhưng nói bản sắc văn hóa hay truyền
thống văn hóa dân tộc thì chỉ bao gồm mặt tích cực như là hạt nhân của tinh
thần sáng tạo của dân tộc đó trong lịch sử. Bản sắc dân tộc của văn hóa là hệ
giá trị của dân tộc được sáng tạo, được vun đắp và truyền từ đời này sang
đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chỉ khi nào giá trị văn hóa của một
dân tộc được hình thành tồn tại lâu dài và trải qua thử thách mà vẫn không
mất đi thì dân tộc đó mới có được bản sắc văn hóa. “Bản sắc văn hóa dân
tộc chính là những đặc trưng văn hóa đã trở thành bền vững” [161, 101].
Các nhà khoa học thuộc lĩnh vực xã hội đều thống nhất quan niệm bản sắc
dân tộc của văn hóa là nét riêng độc đáo của mỗi nền văn hóa, được hình

trong xã hội, chứa đựng những giá trị thiêng liêng của một dân tộc.
Khi xem xét bản sắc dân tộc của bất cứ nền văn hóa nào thì phải xét các
giá trị bản sắc dân tộc của văn hóa dựa trên tính bền vững và biến đổi. Hai
hiện tượng này không đối lập nhau mà là hai mặt của một chỉnh thể. Mỗi dân
tộc đều có sắc thái diện mạo văn hóa được tạo thành không phải dựa vào
thuộc tính nào đó mà là sự tổng hợp của nhiều thuộc tính. Bởi mỗi sự vật hiện
tượng đều là một thể thống nhất bao gồm những thuộc tính, mối liên hệ chung
giống như những sự vật hiện tượng khác và hòa lẫn những mối liên hệ đặc thù
nó có. Tổng hợp những thuộc tính làm nên bản sắc dân tộc của văn hóa không
phải hoàn toàn nét riêng của dân tộc đó. Trong bản sắc dân tộc của văn hóa
chứa đựng tính nhân loại, tính khu vực, tính tộc người. Ở đó, tính nhân loại và
tính khu vực đã được đa dạng hóa, được thích ứng biến đổi phù hợp, được kết
hợp với cái riêng của dân tộc mà dân tộc đó đã sáng tạo trong lịch sử. Nghĩa
là không phải cái thiên hạ không có mà mình có mới gọi là bản sắc văn hóa
mà chính là cái chung nhưng gắn bó cùng dân tộc và được thể hiện một cách
đậm nét. Bản sắc dân tộc của văn hóa chỉ rõ anh là ai, thiếu nó anh không có
giá trị bản thân, không tồn tại như một giá trị.


15

Tóm lại, bản sắc dân tộc của văn hóa là những giá trị gốc, hạt nhân,
mang tính dân tộc sâu sắc nhất. Những giá trị đó nằm chủ yếu trong tâm
thức, cốt cách của mỗi con người, và được thể hiện ra trong hoạt động, quan
hệ, giao tiếp ứng xử, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong tư duy,
nghệ thuật kiến trúc, trong phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội
và cả trong sinh hoạt thường ngày… của từng dân tộc cụ thể.
Quan niệm về bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam
Mỗi dân tộc đều có điều kiện tự nhiên và lịch sử của riêng mình, vì vậy
có nền văn hóa mang bản sắc riêng của dân tộc. Dân tộc Việt Nam trong lịch

cốt cách của dân tộc Việt Nam, được thể hiện không chỉ ở nội dung mang
đặc tính dân tộc mà còn đậm nét cả hình thức biểu hiện trong mọi lĩnh vực
của văn hóa và đời sống xã hội, trong sinh hoạt, giao tiếp ứng xử hằng ngày,
trong tư duy, nếp sống, cách giao tiếp, ứng xử, nghệ thuật kiến trúc, lễ hội,
trong sáng tạo văn hóa, khoa học, nghệ thuật… đến cách dựng nước, giữ
nước của dân tộc. Bất kì một sản phẩm, một tác phẩm văn hóa của dân tộc
nào cũng chức đựng bản sắc của dân tộc ấy.
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là tố chất được “hợp luyện”
cùng chiều với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam. Bản sắc đó không phải là một hằng số cố định, tĩnh tại mà luôn năng
động, không ngừng phát triển và có những giá trị mới được hình thành, bồi
tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa. Chẳng hạn, yêu
nước là giá trị chung của nhiều dân tộc nhưng trở thành chủ nghĩa yêu nước,
sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa dân tộc “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “quyết tử cho tổ quốc quyết
sinh”… là nét độc đáo Việt Nam [161, 182]. Thế nhưng lòng yêu nước nồng
nàn lại được thể hiện với những hình thức khác nhau trong những giai đoạn
lịch sử khác nhau của dân tộc. Khi dân tộc ta chống giặc ngoại xâm, lòng
yêu nước thể hiện ở tinh thần xả thân vì nền độc lập của dân tộc. Thời hòa


17

bình, lòng yêu nước là dồn hết tâm sức, trí tuệ xây dựng đất nước “giàu
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như thế biểu hiện lòng yêu nước
trong mỗi giai đoạn lịch sử có khác nhau nhưng giá trị lòng yêu nước không
thay đổi. Bởi lẽ, cũng như chính sự vận động và biến đổi của đời sống các
cộng đồng người, bản sắc văn hóa của các cộng đồng cũng vừa ổn định, vừa
luôn phát triển và biến đổi. Bản sắc là ổn định vì nó bao gồm những giá trị
bền vững được hình thành nên qua lịch sử của cộng đồng người. Nhưng con

dung bên trong, khẳng định nó là dân tộc này chứ không phải là dân tộc
khác. Bản sắc dân tộc của văn hóa vì thế là bộ gien di truyền văn hóa dân
tộc, là sức sống trường tồn của dân tộc. Nói một cách khái quát, bản sắc dân
tộc của văn hóa là sức mạnh chủ thể của nền văn hóa, được thể hiện ở mỗi
cá nhân, mỗi gia đình, cộng đồng, xã hội.
Trên bình diện xã hội, động lực văn hóa đối với sự phát triển xã hội thể
hiện ở vai trò của bản sắc văn hóa đối với sự cố kết cộng đồng, tạo nên sức
mạnh tổng hợp, nội sinh của mỗi cộng đồng dân tộc. Trong quá trình tồn tại
và phát triển, mỗi cộng đồng dân tộc đều tạo dựng nên cho mình những giá
trị tinh thần nhất định. Những giá trị đó là sự phản ánh về mặt tinh thần quá
trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc. Đến lượt mình, những
giá trị đó lại trở thành định hướng giá trị, thành động lực của quá trình dựng
nước và giữ nước của các dân tộc, các quốc gia.
Giữa lịch sử phát triển của dân tộc với lịch sử hình thành bản sắc dân tộc
của văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, không thể tách rời. Bản sắc
dân tộc của văn hóa Việt Nam được cộng đồng các dân tộc Việt Nam vun đắp
nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Bản sắc
dân tộc của văn hóa chính là hạt nhân tạo nên diện mạo đặc trưng riêng của
dân tộc Việt Nam, khẳng định dân tộc Việt Nam với những đặc thù riêng có,


19

làm cho dân tộc Việt Nam khác với các dân tộc khác. Bản sắc đó đã được dân
tộc ta ý thức từ rất sớm như là những giá trị cấu thành lẽ sống của dân tộc. Sự
tồn tại của dân tộc ta chính là bằng chứng hùng hồn về bản sắc dân tộc. “Nếu
không đủ bảnh lĩnh giữ gìn bản sắc của mình thì có lẽ nước ta đã bị diệt vong
từ lâu, như một số nước, dân tộc khác đã có lịch sử huy hoàng”. “Sự tồn tại và
phát triển không ngừng của nước Việt Nam chính là do bản lĩnh”, bản sắc văn
hóa của mình [134, 93]. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam chính là sức mạnh

sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống"
[43, 56]. Chính vì những giá trị đó mà các thế hệ người Việt Nam đã sống,
lao động, chiến đấu và hy sinh để giữ gìn và phát huy. Bởi đó là điều kiện
tồn tại của dân tộc Việt Nam với tính cách là một dân tộc.
Thứ hai, bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là bộ lọc, hệ quy chiếu
để dân tộc ta lựa chọn, tiếp thu những giá trị văn hóa nhân loại, làm giàu
và giữ gìn nền văn hóa dân tộc.
Lịch sử từng chứng kiến rất nhiều nền văn hóa sáng rực lên rồi lại tắt
lịm đi trong quá trình hội nhập, giao lưu, và cũng không ít những dân tộc
biết bổ sung phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, làm bản sắc dân tộc
thêm phong phú và đứng vững trước mọi sóng gió lịch sử. Đó là nhờ biết
nhận thức và vận dụng đúng hai nguyên lí của phép biện chứng: nguyên lí
về mối liên hệ phổ biến và nguyên lí về sự phát triển. Kế thừa và giao lưu
văn hóa là qui luật nội tại của mọi nền văn hóa. Văn hóa Việt Nam ta trong
lịch sử đã chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa từ văn hóa Ấn Độ,
Trung Hoa đến văn hóa Pháp, Mỹ và văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa.
Nhưng ta đã thành công trong tiếp biến những giá trị tinh hoa của các nền
văn hóa ấy để phù hợp dân tộc, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc mà vẫn giữ
được hương sắc Việt Nam. Đó là nhờ bản sắc dân tộc.
Bên cạnh đó, bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam ta được giữ gìn
đồng thời là quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tiếp thu những giá


21

trị văn hóa, khoa học tiến bộ, hiện đại của thế giới. Đây là qui luật đã có từ
ngàn xưa. Xu hướng hướng ngoại để tìm hiểu, tiếp nhận những cái mới lạ,
bổ ích cần thiết là một xu hướng có tính khách quan lịch sử, phản ánh nhu
cầu tồn tại, phát triển. Đóng kín cửa, biệt lập sẽ làm xói mòn, suy vong nền
văn hóa dân tộc. Trong lịch sử không có nền văn hóa nào là hoàn toàn bản

và thực tiễn hóa. Có vậy, bản sắc dân tộc mới được giữ gìn bền vững.
Như vậy bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam được giữ gìn đồng thời
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là qui luật phát triển của văn hóa
Việt Nam, là nhân tố quan trọng giữ gìn và làm giàu thêm nền văn hóa dân
tộc, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Thứ ba, bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là một trong những
nhân tố tạo sức mạnh tổng hợp gắn kết cộng đồng dân tộc trong xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, chống mọi âm mưu đồng hóa của kẻ thù.
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam ta cũng chính
là lịch sử giữ nước hào hùng bấy nhiêu năm. Trong đó, dân tộc ta phải
chống chọi không biết bao nhiêu kẻ thù lớn nhỏ, từ các đế chế phong kiến
đến các cường quốc thực dân kiểu cũ và kiểu mới cũng như các đế quốc
binh hùng tướng mạnh Đông Tây. Tất cả các kẻ thù dù mạnh hơn, đông hơn,
chiếm ưu thế và sức mạnh hơn gấp bội phần nhưng dân tộc nòi giống lạc
hồng vẫn chiến thắng oanh liệt, vẻ vang. Cái giúp chúng ta luôn giữ được
mình trong những hoàn cảnh lịch sử khó khăn nhất để tồn tại và phát triển
đến hôm nay chính là nhờ dân tộc ta có một nền văn hóa lâu đời mang đậm
bản sắc dân tộc Việt Nam.
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam hình thành trên cơ sở tự lực tự
cường, thường xuyên thắng mọi sự nô dịch và áp đặt ngoại lai, là hạt nhân
làm nên sức mạnh Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Một đất nước nhỏ bé, dân ít hơn các nước láng giềng từ
15 đến 20 lần, với lịch sử hơn 1000 năm Bắc thuộc với mưu đồ “Hán hóa”,


23

và mưu đồ “Tây hóa”, “Mỹ hóa” trong hơn 100 năm thực dân đế quốc xâm
lược nhằm đồng hóa, nô dịch văn hóa Việt. Song điều gì đã làm mọi chính
sách đồng hóa của kẻ thù phải thất bại? Điều gì đã làm con cháu Vua Hùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status