bộ giáo dục v đo tạo
viện khoa học x hội Việt Nam
viện triết học
phạm thanh h
vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc
trong bối cảnh ton cầu hoá hiện nay
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 80 05
Tóm tắt luận án tiến sĩ triết học
H Nội - 2009
giờ
.........
ngày
........
tháng
.........
năm
............. Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Viện Triết học
- Th viện Quốc gia
Danh mục các bi viết đ công bố
có liên quan đến đề ti luận án
trị, văn hoá của tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới. Đây là sự
vận động phù hợp với quy luật của thời đại. TCH đang làm thay đổi
sâu sắc từ nhận thức đến hoạt động thực tiễn của tất cả các nớc ở
mọi hoạt động trong phạm vi từng quốc gia cũng nh trong quan hệ
quốc tế. TCH mở ra nhiều cơ hội phát triển, nhng cũng đặt ra
những thách thức không nhỏ cho các nớc, nhất là đối với các nớc
đang phát triển. Một trong những thách thức mà TCH đặt ra đối với
sự phát triển của các nớc là sự nhạt nhoà dần bản sắc dân tộc. Hội
nhập mà bị hoà tan, hợp tác mà bị lệ thuộc chẳng khác nào tự đánh
mất chính mình và chịu thân phận phụ thuộc. Một dân tộc một khi
trở thành cái bóng và phụ thuộc vào dân tộc khác thì sẽ không thể có
độc lập, tự do và phát triển bền vững.
Vì vậy, việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hợp tác,
hội nhập quốc tế luôn đợc các nớc quan tâm, coi trọng. Mỗi nớc
đều có những phơng thức xử lý để không những đa đất nớc phát
triển đi lên, hội nhập cùng thế giới, mà còn giữ vững đợc sự độc
lập, tự chủ và khẳng định vị thế của mình trớc các nớc khác. Việc
giữ gìn bản sắc dân tộc không chỉ là cuộc đấu tranh tránh rơi vào
lệ thuộc dân tộc khác, mà quan trọng hơn là phát huy đợc sức mạnh
vốn có của dân tộc mình, đa nó trở thành động lực nội sinh thúc
đẩy dân tộc phát triển. Mọi sự vận động và phát triển đều có sự tác
động của cả nhân tố bên trong và các điều kiện bên ngoài. Song, để
có sự phát triển ổn định, bền vững phải dựa vào nhân tố bên trong,
coi nội lực là cái quyết định.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng
nớc và giữ nớc với nhiều thời kỳ phát triển khác nhau. Mặc dù
phải đối mặt với điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt và luôn phải đấu
tranh chống lại sự xâm lợc từ các thế lực bên ngoài, song dân tộc
Việt Nam đã luôn vững vàng vợt qua mọi khó khăn, thách thức để
không ngừng phát triển. Tổng kết lại những nguyên nhân, bài học
đa đất nớc hội nhập và phát triển. Nh Đảng ta đã khẳng định rằng,
phát huy truyền thống văn hoá dân tộc dới sự lãnh đạo của Đảng là
nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vợt qua khó khăn, thử thách,
xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng, an
ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo ra thế và lực mới cho đất nớc
ta đi vào thế kỷ 21. Mặc dù vậy, càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh
tế khu vực và thế giới chúng ta càng phải đối mặt với nhiều thử thách
3
khó khăn. Hơn thế, việc lựa chọn con đờng phát triển xã hội chủ
nghĩa (XHCN) hiện nay đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực, quyết tâm
nhiều hơn để không những đa đất nớc phát triển vững chắc mà còn
giữ vững con đờng XHCN đã lựa chọn.
Làm thế nào để tiếp tục mở cửa, hợp tác với bên ngoài trong
điều kiện TCH ngày càng diễn ra sôi động mà không bị dòng xoáy
TCH hoà tan? Làm thế nào để không đánh mất chính mình, để giữ
gìn, kế thừa và phát huy những đặc điểm bản sắc dân tộc làm cho
các đặc điểm đó trở thành sức mạnh nội sinh đa đất nớc phát triển
không ngừng hớng tới các mục tiêu đặt ra ? Đây vẫn đang là những
vấn đề có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam. Vì thế, việc
nghiên cứu đề tài "Vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc trong bối cảnh
toàn cầu hoá hiện nay" có ý nghĩa cấp bách, quan trọng cả về mặt
lý luận lẫn về mặt thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Toàn cầu hoá và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế
xã hội nói chung, đối với bản sắc dân tộc nói riêng là một vấn đề
lớn, phức tạp, có tính thời sự. Trong thời gian qua đã có nhiều công
trình khoa học (đề tài, hội thảo, sách, bài viết...) đề cập tới vấn đề
nói trên. Các công trình đó đã đa ra một bức tranh chung về TCH
với tác động hai chiều của nó, về những thách thức của Việt Nam
Toàn cầu hoá và khu vực hoá: Cơ hội và thách thức đối với
các nớc đang phát triển. Đây là công trình tập hợp những bài viết
của nhiều tác giả nớc ngoài và trong nớc do Viện Thông tin Khoa
học xã hội thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia
thực hiện, xuất bản năm 2000. Công trình đã tiếp cận và phân tích
nhiều chiều về bản chất, đặc trng, nội dung, hệ quả và một số vấn
đề nổi cộm hiện nay của TCH đặt ra cho các nớc, nhất là cho các
nớc đang phát triển. Tuy có sự nhìn nhận khác nhau về TCH, về lợi
ích từ TCH, song TCH, nhất là TCH kinh tế hiện nay ngày càng
đợc chấp nhận một cách rộng rãi. Muốn phát triển, mọi quốc gia
đều phải tham gia TCH. Đây là sự vận động tất yếu, hợp quy luật.
Toàn cầu hoá - Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt
Nam do Nguyễn Bá Ngọc Trần Văn Hoan đồng chủ biên (Nxb
Lao động xã hội, Hà Nội, 2002). Nội dung của công trình này tập
trung phân tích, luận giải những tác động của TCH với thị trờng lao
động Việt Nam. Nếu biết tận dụng tốt mặt tích cực của TCH chúng
ta sẽ phát huy hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào của Việt Nam.
Ngợc lại, nếu không có các giải pháp thoả đáng nhằm khắc phục
những thách thức của TCH thì lợi thế nguồn lao động của Việt Nam
sẽ không còn. Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam do Ngô Văn Điểm chủ biên (Nxb Chính trị Quốc
5
gia, Hà Nội, 2004). Các bài viết trong công trình này đã phác hoạ về
quá trình Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh
TCH, đồng thời đa ra một số giải pháp mà các nhà hoạch định
chính sách có thể tham khảo để bổ sung, điều chỉnh lộ trình hội
nhập của Việt Nam cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển.
Chúng ta còn có thể đề cập đến nhiều công trình khác, nh:
Toàn cầu hoá nghịch lý của thế giới t bản chủ nghĩa của Tôn
và giá trị truyền thống. Đặc biệt những nội dung này đợc phản ánh
qua sự trình bày mối quan hệ giữa giá trị văn hoá truyền thống với
sự phát triển. Các giá trị truyền thống đợc nhấn mạnh là những
động lực nội sinh, tạo nền tảng cơ bản để Việt Nam thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, hội nhập
vững chắc vào xu thế phát triển của thế giới và khu vực.
Công trình Bản sắc văn hoá Việt Nam của Phan Ngọc (Nxb
Văn hoá thông tin, Hà Nội, năm 2004) đã trình bày một cách tiếp
cận về bản sắc văn hoá Việt Nam, vai trò của bản sắc Việt Nam
trong giao lu hợp tác giữa Việt Nam với các nớc. Công trình cũng
đã đề cập cách phát huy văn hoá trong cuộc tiếp xúc văn hoá hiện
nay và làm rõ u thế văn hoá Việt Nam trong nền kinh tế thị trờng.
Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá trong văn hoá của Hoàng Trinh
(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000). Công trình đã phân
tích những quan niệm khoa học về bản sắc dân tộc và hiện đại hoá,
qua đó khẳng định, hiện đại hoá chỉ có thể thành công nếu bản sắc
dân tộc đợc sử dụng nh một động lực, đồng thời bản sắc dân tộc
cũng chỉ đợc phát huy trong một đất nớc hiện đại hoá. Toàn cầu
hoá và vấn đề bảo tồn văn hoá dân tộc của Trờng Lu (Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2003). Nội dung chính của cuốn
sách đề cập những vấn đề cơ bản của TCH và việc bảo tồn bản sắc
văn hoá dân tộc. Cuốn sách nhấn mạnh rằng phải tìm trong chính
mình sức mạnh nội sinh để đứng vững trớc thử thách của TCH.
Việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc là quan trọng, cần thiết,
cấp bách, nhng không đợc đề cao thái quá và thực hiện tràn lan để
tránh nguy cơ dẫn đến tình trạng bài ngoại, đóng cửa trớc phát triển
mạnh mẽ của xu thế TCH.
Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc do Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, năm 2001). Nội dung của công trình này phản
25 và 26/07/2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh), Toàn cầu hoá:
Những vấn đề triết học Châu á Thái Bình Dơng (đợc tổ
chức trong 2 ngày 22 và 23/11/2005 tại Hà Nội), Những hệ quả về
quan hệ giai cấp, ý thức hệ và văn hoá của nền kinh tế thế giới
đang biến đổi (đợc tổ chức từ ngày 9 11/01/2006 tại Hà Nội)...
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí có nội dung
liên quan đến đề tài luận án.
Có thể nói TCH và tác động của nó đối với mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội là chủ đề đợc quan tâm nghiên cứu khá nhiều trong
thời gian qua. Do khuôn khổ hoặc do mục đích riêng, các công trình
nghiên cứu đã đề cập nhiều nội dung liên quan đến các chủ đề nêu
trên. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta vẫn cha có một lời giải hoàn