Lễ hội chùa Trông và vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc - Pdf 17

LỄ HỘI CHÙA TRÔNG
(xã Hưng Long, huyện Ninh Giang)

I. KHÁI QUÁT DI TÍCH
Nằm ở phía tây nam huyện Ninh Giang, xã Hưng Long có ba thôn là
Hào Khê, Hán Lý và Trại Hào, tổng diện tích 409ha, dân số 42 nghìn người
(tính đến đầu năm 2009). Nguồn sống chính là sản xuất nông nghiệp và làm
một số nghề phụ như thợ mộc, thợ xây, chế biến thực phẩm và buôn bán
nhỏ, là xã thuộc vùng xa của huyện Ninh Giang. Phía bắc giáp xã Hưng
Thái, phía nam giáp sông Luộc, bên kia sông là huyện Quỳnh Phụ của tỉnh
Thái Bình, phía tây giáp xã Văn Giang của huyện Ninh Giang và xã Quỳnh
Hoàng huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình, phía đông giáp xã Hồng Phúc.
Đầu thế kỷ 19 chùa Trông thuộc xã Hán Triền, tổng Văn Hội, huyện
Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng. Tổng Văn Hội lúc bấy giờ có 12 xã, trang đó là:
Văn Hội, Lê Xá, Đào Lạng, Tuy Lai, Trang Tam Cửu, An Triền, Hán Triền,
Đoàn Xá, Xuân Trì, Phù Cựu, Phù Tải và Di Linh.
Quá trình lịch sử có sự thay đổi về địa giới và tên. Trước Cách mạng
tháng Tám năm 1945 chùa Trông thuộc xã Hán Lý, bấy giờ Hào Khê và Hán
Lý là một xã gọi là xã Hán Lý thuộc tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, phủ
Ninh Giang, ở mỗi thôn lại có một trại nhỏ, trại của Hào Khê gọi là Trại
Hào, trại của Hán Lý gọi là Trại Hán. Sau này hai trại sát nhập vào thành
một gọi là Trại Hào vì Hào có số dân lớn hơn. Năm 1947 lập xã Hưng Long
thuộc huyện Ninh Giang như ngày nay. Chùa Trông vẫn ở vị trí cũ nhưng
theo sự phân cấp hành chính thì ngày nay thuộc thôn Hào Khê tiếp giáp với
thôn Hán Lý.
Kết quả khảo cứu bước đầu các tộc phả, thần tích và truyền thuyết
cho biết: Chùa Trông được đức thánh Minh Không xây dựng từ thời Lý
(TK11) để làm nơi tu luyện và phục vụ tự do tín ngưỡng của nhân dân địa
phương. Vào thế kỷ 19 chùa được trùng tu lớn theo kiểu nội công ngoại
quốc, công trình gồm: Tam quan, tắc môn, hai nhà thờ Mẫu, chùa chính
kiểu chữ đinh (J) 7 gian, hai nhà giải vũ, nhà đại bái và đền thờ Đức Thánh ở

dâu, qua nhiều thập kỷ làng La Vân giầu lên nhờ có nhiều bèo hoa dâu. Từ
Đạo Hạnh sang đến đất chùa Trông hiện nay đã dừng lại xây dựng một ngôi
chùa nhỏ để thờ phật đem từ chùa La Vân sang, và gọi là chùa Trông. Hiện
nay chùa La Vân chỉ còn một pho tượng phật lớn vì xưa vướng cửa không
đem đi được, cho nên dân La Vân vẫn thờ vọng phật bên chùa Trông. Cứ khi
nào chùa Trông nổi trống mở lễ hội thì chùa La Vân cũng mở hội theo và cử
người mang lễ vật sang chùa Trông để cúng phật, lệ này đến ngày nay vẫn
được duy trì. Sau khi Minh Không hoá, vua cho phép dân làng dựng đền ở
sau chùa để thờ tự, tương truyền từ khi lập đền rất linh thiêng cầu đảo đều
được theo ý nguyện, và dân làng tôn thờ ngài đến ngày nay. Tại địa phương
còn truyền tụng câu ca:
"Trông lên chỉ thấy trời cao
Sắc vua đặt đó ngài sao không về
Chúng sinh xin nguyện lời thề
Ghi ơn đức thánh của quê hương mình
Chùa Tông ngài đã hiển linh
Chùa Trông dân gọi tôn vinh muôn đời"
Có tài liệu còn ghi Minh Không sinh thời là người dậy nghề đúc đồng
đầu tiên ở nước ta, nên được tôn là tổ sư của nghề đúc đồng. Dưới triều Lý
tập trung thợ giỏi của 5 làng đất kinh Bắc đó là: Đề cầu, Cầu Nôm, Đồng
Xá, Làng Hè và Làng Hồ lập thành một làng mới ở ven Hồ Tây đó là làng
Ngũ Xá để đúc tiền và các khí vật thờ cúng. Hiện nay ở làng Ngũ Xá có đình
thờ Nguyễn Minh Không làm Thành Hoàng, ngài còn được thờ ở nhiều nơi
nhưng lớn nhất là chùa Keo (Thái Bình) và chùa Lý Quốc Sư (Hà Nội). Các
triều đại phong kiến ở Việt Nam đều ban sắc và phong cho ngài là Phật
Thánh thượng đẳng thần.
Chùa Trông cũng là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử tại địa phương,
là sự kết tinh văn hoá làng xã, nhất là thông qua lễ hội cổ truyền tương đối
độc đáo diễn ra ở đây. Chùa Trông đã được sách Đại Nam nhất thống chí
ghi: "ở xã Hán Lý, huyện Vĩnh Lại, trước chùa có sông cửu khúc, tương

thanh niên mặc áo nậu đỏ khiêng, bên trên là lễ vật gồm lợn, gà, oản quả,
giầu rượu, hoa nghi Kiệu thứ hai rước long đình cũng do các thanh niên
khoẻ mạnh khiêng, tiếp đó là hai kiệu của hai làng Hào Khê và Hán Lý, trên
kiệu đặt choé sứ phủ vải điều, hai kiệu này được trang trí cầu kỳ, đẹp nhưng
phải chắc chắn, hai kiệu được con trai của các vị chức sắc trong hai làng
khiêng, nhân dân ăn mặc trang phục lễ hội đi theo. Đoàn rước ra đến bờ
sông Luộc, đoạn đê trước cửa chùa, trước đây do chưa được bồi đắp nên
lòng sông luộc rộng mênh mông, bến sông lúc bấy giờ ở ngay trước tam
quan chùa. Dưới sông đã chuẩn bị hai chiếc thuyền rồng trang trí cờ quạt đợi
sẵn, mỗi thuyền bố trí 20 người, những người này đầu đội khăn đỏ, mặc áo
nậu, lưng thắt bối hậu, chân đi giầy, riêng trương tuần mỗi người cầm một
đốc thước và một tù và làm hiệu lệnh giới nghiêm khi hành lễ. Đặc biệt 20
người này đều phải chay tịnh hàng tuần trước, mỗi thuyền mang theo hai
choé sứ, 2 thau đồng, 2 gáo đồng, 1 bộ bát biểu, 1 trống cái, 1 trống con và 1
cờ thần. Kiệu long đình và kiệu lễ vật được đặt trên bờ sông để làm lễ cúng
Hà bá. Sau lễ cúng này hai kiệu rước choé được chuyển xuống hai thuyền
rồng và đi ra giữa dòng sông, ngược lên khoảng 500m, lấy nước trong, sạch
đổ đầy hai choé và rước trở lại bến, nước phải được lấy vào chính ngọ (12
giờ trưa). Đoàn rước trở lại chùa và làm lễ tắm cho tượng đức Thánh, việc
bao sái tượng do các cụ tiên thứ chỉ và sư trụ trì chùa thực hiện. Nước tắm
còn lại được để trong choé thờ trong cung cấm, nước đã tắm đức Thánh
được để hết hội đem ra sông Luộc đổ, ở làng có ai vi phạm điều gì với chùa,
đền thì tự xin một ít nước đã tắm tượng để uống mong xám hối về những
điều vi phạm, việc tự xin nước này phải tự giác và tế nhị. tắm xong thay áo
mới cho đức Thánh, việc may áo mới đã được chuẩn bị từ trước hội, chiếc
áo mà Thành Hoàng thay ra được cắt ra chia đều cho các giáp và chia đến
từng người dân từ già đến trẻ ai cũng có để lấy khước, gọi là dải miều, có
khi dải miều chỉ là mấy sợi vải, nhưng ai cũng mong nhận được dải miều, vì
cho đó là điều may mắn mà đức Thánh ban cho.
Sau đó khách thập phương và nhân dân tự do đến lễ phật và Thánh,

không được dự bàn, khi tế phải kiêng tên huý đức Thánh và tên phụ mẫu của
ngài, lúc đọc phải kiêng hai chữ Minh Lộ, chữ Chiêu, chữ ứng. ở hàng dưới
của ba mạnh bái có 6 vị bồi bái, tế đủ 5 tuần là: hương hoa, đăng trà, quả
thực, đọc chúc văn và lễ tất (Kết).
Theo lệ làng, trong khi tế có 2 vị giám sát viên, đó là hai cụ già cao
tuổi có chức sắc trong làng (mỗi làng 1 người) làm nhiệm vụ giám sát, gõ
chiêng và cắm thẻ vào cổ người tế sai. Lệ này được thực hiện nghiêm ngặt,
kể cả chủ tế mà làm sai cũng bị gõ chiêng và cắm thẻ, khi đã bị cắm thẻ
không được cãi. Nếu ai nói vào tên huý hoặc hỗn láo thì bị bắt vạ, phạt từ
0,10 đến 1 đồng hạn trong ba ngày phải nộp để sửa lễ tại chùa, nếu ai oan thì
kêu lại với làng, nếu tra xét mà đúng là oan thì làng không phạt nữa, còn nếu
phải phạt mà không nộp thì phải phạt thứ vị đình trong 1 năm, đến khi nào
nộp phạt thì mới thôi.
Sau tế lễ đức Thánh và nhị vị đại vương, làng tổ chức một số trò vui
dân gian như : Múa rối nước, hát chèo, múa hoa đăng, đấu vật, võ, tổ tôm
điếm, xóc đĩa, cò cua Trong đó trò đấu vật mang tính thể thao và vui nhất,
các đấu vật dùng miếng để thắng đối phương. Trước khi vào vật hai đối thủ
cởi trần, đóng khố điều, múa tay, co chân, đi lại rình miếng nhau, khi có
trống lệnh mới xông vào vật, sau một hồi nghiêng ngả, người thắng cuộc lại
phải đấu với đối thủ khác để chọn giải nhất, trong khi vật có người đánh
trống khẩu vừa để khích lệ vừa làm không khí vui nhộn, hồi hộp mỗi khi có
người sắp thắng cuộc, có một người cầm cờ phất để cổ vũ, nhân dân reo hò
mỗi khi có miếng vật hay. Làng có nhiều giải cho vật, người thắng (giải
nhất) được dân làng đốt pháo hồng để mừng.
Ngày 20 tháng 3: Lễ rước xuất đông nhập tây (Lễ rước đi từ phía
đông về đằng tây vòng quanh chùa).
Lễ rước này bắt nguồn từ khi quan Thượng Đoàn xây dựng tam quan
(vào thế kỷ 19), cổng phía bắc trên ghi ba chữ: "Bắc địa đầu", cũng có tên là
“Bắc địa khố” biểu hiện cho làng Hán Lý ở phía bắc, cổng phía nam trên
ghi ba chữ: "Nam thiên động” biểu hiện làng Hào Khê là động trời nam. Với

tuần, đội tế nam này do các giáp chọn ra mỗi giáp từ 1 đến 2 người. Hội
đồng tộc biểu phân công chủ tế và các vị giám sát. Sau tế đến lễ dâng hương.
đặc biệt theo truyền thống lễ dâng hương có một đội múa gồm 16 người (10
người múa, 6 nhạc công) múa trước tượng đức Thánh theo điệu Hoa chúc,
giao liên ăn mặc và múa theo lối múa của cung đình Huế. Đội múa này thu
hút nhiều người xem làm cho không khí lễ hội rộn ràng, náo nhiệt. Theo các
cụ cao tuổi cho biết, ở những thế kỷ trước, mâm lễ đức thánh và Thành
Hoàng có giáp mổ trâu, bò, nhưng sau này dùng lợn, gà. Trong thời gian lễ
hội có tất cả 8 buổi tế (4 tế đức Thánh và 4 tế thánh Mẫu). Gọi là Thánh về
trời, gồm nam phụ, lão, ấu của hai xã Hào Khê và Hán Lý, tế lễ này phải kết
thúc trước giờ ngọ, vì tương truyền rằng vào giờ chính ngọ (12 giờ trưa) là
“Giờ thiêng” Thánh sẽ về trời.
Sáng ngày 1 tháng 4 tổ chức rước Thành Hoàng về hai làng và làm lễ
kết thúc lễ hội, đoàn rước cũng được bố trí như khi rước đến chùa Trông. Đồ
tế lễ xong được phân phát như sau: Nếu tế bằng trâu, bò thì cái thủ biếu vị
tiên chỉ một nửa, còn một nửa chia làm ba phần, một phần biếu các vị lão từ
60 tuổi trở lên, một phần biếu những người hành văn, một phần biếu những
người chức sắc văn bằng. Còn thịt thì chiểu theo xuất, phân phát cho cả làng
từ hương ẩm trở lên.
2. Lễ hội sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
Hải Dương là vùng đất giầu truyền thống văn hoá, lễ hội là một nét
của truyền thống văn hoá, nhiều thế kỷ qua, lễ hội đã ăn sâu trong tiềm thức
của nhân dân, trở thành một nếp sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống
tinh thần của người dân cùng cộng đồng. Đã gần hai phần ba thế kỷ, từ khi
thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta (năm 1946) để tập trung cho kháng
chiến và xây dựng đất nước sau các cuộc chiến tranh liên miên, nhân dân ta
không có điều kiện tổ chức lễ hội. Vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 khi đất
nước bước vào công cuộc đổi mới, cùng với các hoạt động văn hoá truyền
thống khác, lễ hội dần dần được phục hồi đáp ứng nguyện vọng của đông
đảo quần chúng nhân dân.

rượu, hoa quả, bánh gai nhưng với tấm lòng thành kính dâng lên phật
thánh.
Do vị trí địa lý, bên kia sông Luộc là đất Quỳnh Côi của tỉnh Thái
Bình. Từ ngàn đời nay dân vẫn sống với nhau hoà thuận và có nhiều mối
quan hệ qua lại. Chùa La Vân của Quỳnh Côi cũng thờ đức Thánh Minh
Không, do vậy những dịp hội thường mời nhau đến tế sâu lễ, lễ vật cũng chỉ
là sản vật nông nghiệp, cây nhà lá vườn, nhưng tình nghĩa luôn mặn mà
nặng, lễ hội đền Tranh, lễ hội đền Trung Hoà, và lễ hội đền Tân La (Thái
Bình) đều có giao lưu với lễ hội chùa Trông. Đặc biệt trong dịp hội, nhân
dân xã Hồng Phúc - Ninh Giang có lệ rước Thành Hoàng làng mình lên chùa
Trông dự hội cho đến khi kết thúc hội mới rước về, gọi là rước chạ, đám
rước chạ này thường có cả nhân dân Hưng Long và Hồng Phúc (Từ sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945 lệ rước chạ này đã bị bỏ).
Qua nghiên cứu, tìm hiểu lễ hội Chùa Trông, có thể nhận xét như sau:
Lễ hội trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 có nhiều tục lệ cầu kỳ, có
phần rườm rà cả về hình thức và nội dung, lễ hội chỉ dành cho những vị chức
sắc, văn bằng mới được tham gia tế và rước Lễ hội kéo dài tới 15 ngày,
gây phiền phức và tốn kém cho nhân dân. nhiều hủ tục như xóc đĩa ăn tiền,
tổ tôm điếm theo cách đánh ăn thua nhau. Nhưng về quy mô lễ hội rất lớn
không chỉ nhân dân trong vùng mà còn thu hút một số tỉnh khác như Hải
Phòng, Hưng Yên ,Thái Bình, Hà Tây, Nam Định đến dự hội, mang đến
cho lễ hội phong cách văn hoá phong phú, nhiều mầu sắc dân tộc tuy chỉ là
lễ hội nông nghiệp. Chùa Trông nằm cạnh sông Luộc, dòng sông từng cung
cấp nguồn phù sa cho đồng ruộng, không những đảm bảo tưới tiêu cho cả
vùng đồng bằng rộng lớn mà còn là đầu mối giao thông quan trọng, tục rước
nước ngoài ý nghĩa để tắm cho đức Thánh, việc thờ nước trong cung cấm là
biểu trưng cho cư dân trồng lúa nước, coi nước là thiêng liêng, là hàng đầu
của sản xuất nông nghiệp, Chính vì vậy mà trở thành đặc trưng cho các lễ
hội nông nghiệp ở Hải Dương.
Lễ hội chùa Trông ngày nay do chính quyền địa phương đứng ra tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status