TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA : GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ XUÂN ĐÀO
GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI HIỆN NAY
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐHSP
CHUYÊN NGÀNH : GDCT
Người hướng dẫn khoa học : Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hà
Thành phố Hồ Chí Minh 2000
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................. 2
T
0
4
40T
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 3
T
0
4
40T
1.2. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội .............................................................. 8
T
0
4
T
0
4
1.3 Đặc điểm nổi bật của gia đình truyền thống Việt Nam ................................. 12
T
0
4
T
0
4
Chương 2. THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI. .................................................................................. 18
T
0
4
40T
2.1. Đặc điểm kinh tế- văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh.................................. 18
T
0
4
4
3.2 Những kiến nghị và giải pháp ........................................................................ 36
T
0
4
T
0
4
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 42
T
0
4
40T
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 43
T
0
4
T
0
4
LỜI CẢM ƠN
Minh. Đây là một thành phố trẻ, đã từng được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông".
Ngày nay, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế - văn hóa của cả nước. Ai
đã từng đến Sài Gòn trước đây và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay sẽ không khỏi
ngạc nhiên trước tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa của nó. Cánh cửa thành phố Hồ
Chí Minh luôn rộng mở để đón nhận những luồng gió mới của thời đại. Trước những
biến đổi dồn dập như thế, chắc chắn sẽ dẫn đến những kết quả tốt đẹp cũng như những
hậu quả khó tránh khỏi.
Một thiết chế xã hội lâu đời nhất, bền vững nhất, nhưng cũng nhạy cảm nhất đối
với mọi biến đổi của xã hội đó là gia đình. Sự biến đổi đó lúc đầu diễn ra một cách âm
thầm trong từng gia đình và dần dần lan ra tạo thành những “ý niệm” xã hội.
Gần đây, bên cạnh niềm phấn khởi trước sự đổi mới của bộ mặt thành phố, có
nhiều ý kiến lo ngại cho sự bền vững của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong
thời kì đổi mới. Đây không chỉ là mối quan tâm của một số người mà là cả cộng đồng,
trong đó có bản thân tôi. Tôi quyết tâm chọn đề tài “Gia đình ở thành phố Hồ Chí
Minh trong thời kì đổi mới hiện nay” với mong ước tìm hiểu về một vấn đề có tính
cấp bách của xã hội, hy vọng tìm ra một giải pháp nào đó đóng góp một phần công
sức vào sự phát triển của đất nước.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Không phải ngẫu nhiên mà Liên hiệp quốc đã chọn năm 1994 làm “năm Quốc tế
gia đình”. Điều đó nói lên rằng vấn đề gia đình không chỉ là của riêng ai mà là mối
quan tâm của toàn nhân loại từ ngàn xưa, cho đến hôm nay và mãi mãi đến mai sau.
Trong thập niên cuối của thế kĩ 20, vấn đề gia đình trở thành vấn đề thời sự nóng
bỏng ở các nước khu vực Châu Á, Đông Nam Châu Á - một khu vực vốn có những
truyền thống đề cao gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người, sự
tồn tại và phát triển của xã hội. Chưa bao giờ vấn đề này thu hút sự nghiên cứu của
giới chuyên môn cũng như các giới chính trị như thời gian này. Người ta đề cập đến
sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, đến sự biến đổi về kinh tế - văn hóa - xã hội
đã tác động mạnh mẽ đến từng gia đình,
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
* Mục đích.
Luận văn không chi nghiên cứu lý luận chung về vấn dế gia đình mà còn đi sâu
vào tìm hiểu vấn đề gia dinh ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới. Trong
đó, nó chỉ ra những thực trạng và tìm ra những giai pháp cũng như đưa ra những kiến
nghị để tăng cường sự ổn định cửa gia đình ở thành phố Hổ Chí Minh hiện nay.
* Nhiệm vụ.
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn phải thực hiện hai nhiệm vụ. Thứ nhất
là nghiên cứu về gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội nói chung. Trong đó
đi sâu tìm hiểu về những đặc điểm của gia đình truyền thống Việt Nam để tạo tiền đề
đối chiếu với gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới. Thứ hai là tìm
hiểu đánh giá thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và nêu ra
một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường sự ổn định bền vững của gia đình ở
thành phố Hồ Chí Minh.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phướng pháp của chủ nghĩa Mác - Lê Nin Phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng
các phương pháp tổng hợp, phân tích.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn chỉ ra một số thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh, những
giải pháp và kiến nghị trong việc xây dựng gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI
Trên cơ sỏ tổng hợp những kiến thức đà dược liếp lim qua các môn học ỏ nhà
trường và các tài liệu tham khảo, đề tài bước đau cho thấy thực trạng của gia đình ở
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Nó như một tiếng chuông nhỏ góp phần gióng lên
hồi chuông cảnh báo về thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó góp
phần phát huy vị trí vai trò của gia đình đối với sự phát triển xã hội, đất nước ta hiện
nay.
PHẦN NỘI DUNG
cộng đồng sinh hoạt là khuôn khổ tồn tại và thế giới của mỗi người. Gia đình chiếm vị
trí độc tôn trong chức năng xã hội hóa. Khi điều kiện kinh tế- xã hội ngày càng phát
triển, gia đình cũng có những biến đổi lớn. Gia đình không còn là “quan hệ xã hội duy
nhất mà trở thành quan hệ phụ thuộc”.
“Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu” - Liên hiệp quốc khẳng định như
vậy.Thể chế đó lại có những hình thái khác nhau, thực hiện các chức năng khác nhau.
Do đó, không có một quan niệm duy nhất về gia đình để áp dụng cho toàn cầu.
Ở phương Đông nơi có quan hệ khắt khe về gia đình theo nghĩa xưa : gia đình là
một đơn vị kinh tế nhỏ, sống chung dưới một mái nhà trong cộng đồng xã hội.
Khái niệm về gia đình ở Việt Nam thông thường để dùng chỉ một nhóm xã hội
được hình thành từ hai quan hệ cơ bản, đó là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết
thống, trong đó có vợ chồng và con cái do họ sinh ra, có thể bao gồm ông bà cha mẹ
và anh chị em cùng chung sống một mái nhà.
Ở Việt Nam hiện nay chủ yếu có hai hình thức gia đình là gia đình mở rộng
nhiều thê hệ cùng chung sống thường là ba thế hệ và gia đình hạt nhân - hai thế hệ bố
mẹ và con cái sống chung.cần chú ý đến những gia đình không đầy đủ chỉ có bố hoặc
mẹ ở với con cái do nhiều nguyên nhân: giá vợ, giá chồng, ly dị hay những người phụ
nữ không có chồng có con ngoài giá thú. Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện nay cũng bắt
đầu xuất hiện các loại gia đình mà trên thế giới đã có, ví dụ gia đình độc thân, gia đình
không hôn thú.
Khái niệm hộ được hiểu như một nhóm người ở chung một mái nhà, có quỹ thu
chi chung. Họ có thể gồm những người quan hệ ruột thịt, họ hàng hay chỉ là bạn bè
quen biết. Nhưng ở thành phố và nông thôn Việt Nam hiện nay, một gia đình thường
trùng với một hộ, trong đại đa số các trường hợp.
1.2. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
1.2.1 Gia đình là tế bào của xa hội, có tác dụng to lớn với sự tồn tại và phát
triển của xã hội:
Phan Bội Châu có nói: “Nhà tức là cái nước nhỏ, nước tức là cái nhà to, nước có
cùng do tác động của đời sống sinh hoạt, văn hóa gia đình. Gia đình là môi trường
giáo dục tốt nhất vì nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm, thái độ việc làm
của những thành viên trong gia đình. Qua đó, nhân cách trẻ được hình thành, phát
triển phù hợp với yêu cầu của xã hội, lòng mong mỏi của gia đình. Đặc biệt, gia đình
còn có trách nhiệm trong việc trao truyền những văn hóa dân tộc. Những giá trị đạo
đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc nhờ có giáo dục của gia đình mà không bị mai
một. Trong gia đình Việt Nam, tình nghĩa vợ chồng, lòng thủy chung, sự hiếu thảo,
tính nhân hậu, đó là những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc và là nét đẹp trong đạo
đức truyền thống mà người Việt Nam luôn coi trọng và truyền đạt cho các thế hệ sau
giữ gìn và phát huy.
Gia đình còn đảm bảo sự cân bằng tâm lí, thỏa mãn nhu cầu tình cảm cho các
thành viên. Gia đình càng chiếm vị trí quan trọng trong xã hội hiện đại. Để bảo vệ sự
bền vững gia đình không chỉ là sự phụ thuộc, ràng buộc bởi các mối quan hệ về trách
nhiệm. Nghĩa vụ giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái, ông bà mà còn bị chi phối bởi các
mối quan hệ tình cảm, tình yêu giữa đôi vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, sự đảm bảo
yêu cầu về hạnh phúc, tự do dân chủ của mỗi cá nhân trong cuộc sống chung. Gia đình
là nơi thể hiện tình cảm sâu sắc nhất. Đời sống nội tâm gia đình có ý nghĩa ngày càng
tăng khiến cho chức năng linh cảm và giáo dục con cái của gia đình trở nên hết sức
quan trọng.
Do đó, cùng với các dịch vụ y tế, gia đình còn phải đảm bảo chức năng bảo vệ
chăm sóc sức khỏe người ốm, người già, trẻ em. Bởi vì đây không chỉ là vấn đề chữa
bệnh mà còn là việc săn sóc, an ủi kịp thời về mặt tâm lí, tình cảm, đặc biệt là với trẻ
em và người già.
Qua đó, ta thấy gia đình là khâu trung gian nối liền cá nhân và xã hội. Cá nhân là
thành viên của xã hội nhưng trước hết là thành viên của gia đình. Gia đình không chỉ
tái sản xuất ra con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm, tâm
hồn, văn hóa tức là xã hội hóa - quá trình biến đứa trẻ từ một sinh vật người thành con
người xã hội. Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người là môi trường quan trọng giáo
Trong thời kì Pháp thuộc, Việt Nam ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, chủ
nghĩa tư bản Pháp đem lại những đổi mới về kinh tế, chính trị, văn hóa ở nước ta.
Thực dân Pháp đã biến đổi nền kinh tế Việt Nam tự cung tự cấp thành nền kinh tế thị
trường(sơ khai) và mở cửa buôn bán với nước ngoài. Đai bộ phận gia đình ở nông
thôn vẫn giữ nếp sống cổ truyền, cuộc sống gia đình của các tầng lớp, giai cấp mới đã
có những nét đổi mới. Ở đây có nét văn minh cổ truyền và văn hóa phương Tây mới
lạ. Trong hôn nhân, bắt đầu xuất hiện yếu tố tình yêu. Kiểu gia đình tư sản được hình
thành. Đây là một tiến bộ trong lịch sử hôn nhân và gia đình. Lần đầu tiên trong lịch
sử, hình thức hôn nhân một vợ một chồng được thừa nhận bằng pháp luật. Đây là hình
thức hôn nhân tiến bộ, hơn hẳn các hình thức hôn nhân của xã hội trước đó. Quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình tương đôi bình dẳng, cởi mở, phụ nữ độc lập về
kinh tế và tham gia vào công tác xã hội. Giới trẻ tiếp thu thông tin mới mẽ, nhanh
chóng, giáo dục gia đình được sự hỗ trợ của xã hội nên nó không còn độc quyền như
trước.
Tuy nhiên, gia đình của những người lao động, của giai cấp công nhân thì về
thực chất là một cộng đồng hôn nhân huyết thống của những người lao động làm thuê
cho giai cấp tư sản. Nền đại công nghiệp, qui trình sản xuất công nghiệp tiên tiến, có
thể nói đã nối dài đôi tay cho nhà tư sản bóc lột sức lao động của người công nhân,
bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư do họ làm ra. Gia đình người công nhân thiếu
mọi điều kiện, phương tiện để có thể bảo đảo các chức năng gia đình, thực hiệc các
quyền tự do cá nhân.
Trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc(1945 - 1975), do hoàn cảnh chiến
tranh, nên sự phân li giữa các thành viên trong gia đình là đặc điểm nổi bật nhất. cùng
với sự chia cách hai miền, sự tồn tại giữa hai chế độ chính trị khác nhau đã đem lại bi
kịch trong nội bộ gia đình, sự thù địch và hệ tư tưởng lối sống. Gia đình đảm nhiệm
chức năng kinh tế để góp phần nuôi quân. Chiến tranh gây nhiều mất mát đau thương
nhất là tổn thất tình cảm vợ chồng do xa cách. Tuy vậy, mối quan hệ giữa các thành
trong gia đình vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp: thương yêu, kính trọng, vị
Ở Việt Nam tình hình có khác. Vì “kiểu gia đình đương thời”chưa phát triển trừ
một số đô thị lớn. Do xã hội ta cũng đang chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội
hiện đại nên gia đình cũng đang chuyển từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện
đại khiến cho thể chế gia đình nói chung còn được bảo vệ khá vững chắc.
1.3 Đặc điểm nổi bật của gia đình truyền thống Việt Nam
Một học giả nổi tiếng của Nhật Bản, ông M.MicroshiMa khẳng định: “không
một người nào có thể tiến lên được mà lại xem thường quá khứ của mình, quá khứ sẽ
áp đặt quá trình phát triển tiếp theo của một đất nước . . . Bất kỳ một tư duy khoa học
nào xã hội nào không đếm xía tới lịch sử, cho dù có thể có tác dụng như là bước tiến
đầu tiên tới hiện thực, đôi khi vẫn có thể trở nên, thậm chí, là một tư duy nguy hiểm”.
Vì vậy muốn hiểu được thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, ta
cần tìm hiểu khái niệm và những đặc điểm của gia đình truyền thống Việt Nam. Từ
đó, mới có cơ sở để đối chiếu tìm ra mấu chốt của vân đề.
1.3.1. Khái niệm gia đình truyền thống
Cho đến nay khái niệm “gia đình truyền thống” vẫn là một khái niệm rất dễ gây
ra tranh luận. Vì nó có rất nhiều cách hiểu. Đôi khi người ta đồng nhất gia đình truyền
thống với gia đình Nho giáo hay gia đình phong kiến và coi chúng chỉ là những bất
biến thể của cùng một hình thái gia đình.
Những người khác lại loại trừ ra khỏi “gia đình truyền thống” yếu tố “Nho giáo”
và “phong kiến”. Gia đình truyền thống từ rất xa trong lịch sử, dường như, xuất hiện
trong trí tưởng tượng của người ta như một biểu hiện thơ mộng với tất cả sự tốt đẹp
của cuộc sống gia đình: một mái ấm của tình yêu thương, sự thủy chung, hạnh phúc và
trách nhiệm. Có người lại cho gia đình truyền thống là “gia đình bình dân” trong xã
hội phong kiến.
Trong mấy thập niên gần đây, có những ý kiến đối lập nhau khi đánh giá gia
đình truyền thống. Có người phê phán gia đình truyền thống, coi những mối quan hệ
trong gia đình truyền thống là hình ảnh của xã hội phong kiến – gia trưởng với những
hủ tục lạc hậu, bao thủ, là đại diện cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc . . . Người ta
Tuy nhiên, nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, bờ biển dài nên gặp nhiều
thiên tai lũ lụt, dịch họa, dịch bệnh, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc phần lớn vào
thiên nhiên. Mỗi cá nhân trở nên quá nhỏ yếu và mỏng manh trước sức mạnh của
thiên nhiên. Vì thế, họ phải tin tưởng dựa vào sự nâng đỡ của cộng đồng. Trước hết là
cộng đồng trong gia đình rồi đến làng xã. Niềm tin đó còn xuất phát từ yếu tố tín
ngưỡng. Đối với người Việt Nam, thần Thành Hoàng là vị thần phù hộ cho cộng đồng,
làng xã, quyết định số phận của mỗi thành viên trong cộng đồng. Vì gắn bó với cộng
đồng nên người Việt Nam rất sợ phải bỏ cộng đồng làng xóm quê hương, “tha phương
cầu thực”, “đất khách quê người”. Khi buộc phải ra đi họ luôn thương nhớ về cha mẹ,
anh em, họ hàng, làng xóm:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai giải nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”
(Cadao)
Tinh thần trách nhiệm cộng đồng được đặt lên rất cao. Mỗi một thành viên có
nhiều trách nhiệm: đối với người sống, người chết, với hiện tại quá khứ và tương lai,
trách nhiệm làm con, làm cha, làm mẹ, làm bạn bè, làng xóm, làm dân. Luật “Tru di
tam tộc”, “Tru di cửu tộc” thể hiện trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng. “Một
người làm xấu cả họ mang nhơ”. Ý kiến của cá nhân phải thông qua các cấp, đại diện
từ thấp đến cao: gia đình họ hàng làng xã. Sức mạnh của cá nhân hòa vào sức mạnh
cộng đồng. Xã hội điều khiển, kiểm soát cá nhân thông qua gia đình. Trong tâm thức
người Việt Nam, cộng đồng bao gồm những người đã chết, những người đang sống và
sắp sinh ra. Do đó, người đang sống có nhiệm vụ kính trọng tổ tiên và tiếp nối tổ tiên
sinh con đẻ cái. Những mối quan hệ chiều dọc(ông bà - cha mẹ - con cái) được coi
trọng hơn mối quan hệ chiều ngang(vợ - chồng). Mối quan hệ thứ nhất chi phối mối
quan hệ thứ hai.
Trong hôn nhân, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Các nghi lễ xung quanh việc
dưỡng cha me là xuất phát từ tình cảm kính yêu và trách nhiệm, chứ không tôn sùng
quyền uy một cách độc tài tuyệt đối. Vì thế, người Việt Nam quan niệm “con hơn cha
nhà có phúc”. Ngoài ra, gia đình truyền thống Việt Nam còn chú ý việc giáo dục tình
yêu thương đùm bọc giữa cá nhân trong gia đình. Tình cảm anh em còn được đề cao
hơn tình cảm vợ chồng.
Gia đình truyền thống Việt Nam còn chú trọng đến việc giáo dục cách ứng xử
trong dòng họ. Những câu ca dao, tục ngữ:
“Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn”
“Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”
chính là nói về cội nguồn, về quan hệ huyết thống của các thành viên trong gia
đình, dòng họ. Cho nên, ngay từ nhỏ, trẻ em đã được ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ với
họ hàng. Cơ sở của sự gắn bó dòng họ trước hết là ý thức về tổ tông, về cội nguồn.
Pháp luật xưa qui định chức năng xã hội của gia tộc. Đứng đầu dòng họ là tộc trưởng,
kiểm soát và chịu trách nhiệm về hành vi của các thành viên trong họ. Mọi thành viên
trong dòng họ phải tuần theo những “lệ hộ” do họ đặt ra. Vì một người trong gia tộc
phạm tội thì tất cả gia tộc phải liên đới trách nhiệm(“con dại cái mang”, “quýt làm
cam chịu”). Chính vì thế, người trong họ phải bênh vực và bảo vệ dòng họ mình dù
đúng hay sai.
Ngoài cộng đồng gia đình và họ hàng, mỗi cá nhân còn tham gia vào rất nhiều
nhóm xã hội khác nhau trong khuôn khổ làng xã: phe, giáp, hội, phường, xóm, ngỏ, . .
. Trong nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín với văn hóa riêng, với tôn giáo riêng, luật
pháp riêng, mỗi làng là một thế giới riêng gắn bó chặt chẽ với từng cá nhân, thỏa mãn
tất cả nhu cầu cuộc sống người dân cũng như đối phó với thiên tai, giặc giã, “phép
Vua thua lệ làng”. Vì thế, mà đứa trẻ khi mới ra đời, nền giáo dục gia đình lo trước hết
là làmsao dể đứa trẻ nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng làng xa theo cách giáo dục
trung dung, yên phận: “Ở hẹp người cười ở rộng người che”, “Ở bầu thì tròn ở ống thì
dài”.
Nhà nước. Họ được giáo dục để trở thành người phục tùng vào đàn ông, có nhiệm vụ
gánh vác giang sơn nhà chồng.
* Thứ ba là phương pháp giáo dục của gia đình truyền thống
Trong gia đình truyền thống Việt Nam, người cha thường đứng đầu, có rất nhiều
uy quyền đối với các thành viên trong gia đình.Từng cá nhân phải phục tùng tuyệt đối
người chủ gia đình chứ không được phép tranh luận đúng, sai. Do đó, con cái cãi lời
cha mẹ là tội bất hiếu lớn nhất. Vì sao người gia trưởng có uy quyền tuyệt đối như
vậy? Bởi lẽ, họ là người nắm toàn bộ tư liệu sản xuất và là chủ sở hữu hợp pháp toàn
bộ tài sản gia đình. Thứ hai, theo quan niệm Nho giáo, gia đình là một hình ảnh thu
nhỏ của xã hội. Xã hội muốn kiểm soát hành vi của các cá nhân đều thông qua gia
đình, thông qua người đại diện gia đình, họ hàng. Do đó đối với trẻ em cách giáo dục
đó không giúp chúng hình thành một nhân cách độc lập mà chỉ biết vâng lời, chấp
hành một cách mù quáng.
Trong gia đình truyền thống Việt Nam cũng rất chú trọng đến việc giáo dục đạo
làm con, đến nghĩa vụ và trách nhiệm của con cái đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ,
thông qua những tấm gương, những câu ca dao, tục ngữ, châm ngôn. Ngoài ra, họ còn
giáo dục ý thức tự lao động để kiếm sống, phải cần cù lao động, phê phán kẻ lười
biếng: “Tay làm hàm nhai, tai quai miệng trễ”. Họ truyền dạt những kinh nghiệm
trong lao động sản xuất cho con cháu.
* Cuối cùng là tính ổn định, bền vững của gia đình truyền thống Việt Nam.
Tuy còn nhiều tư tưởng lạc hậu, bảo thủ, gia đình truyền thống Việt Nam vẫn tồn
tại bền vững từ hàng nghìn năm nay. Và ngày nay, người ta cũng có xu hướng phát
huy những mặt tích cực của kiểu gia đình này. Vì sao kiểu gia đình này có sức sống
lâu bền trong tâm khảm người dân Việt Nam như vậy? Theo tôi, nó dựa trên một nền
tảng luân lý đạo đức tốt đẹp: lòng hiếu thảo, lòng biêt ơn, lòng chung thủy . . . Các
mối quan hệ trong gia đình truyền thống dựa trên nghĩa vụ, trách nhiệm giữa vợ chồng
với nhau, cha mẹ và con cái, ông bà và con cháu, Ý thức trách nhiệm đó luôn gắn với
nghĩa vụ được củng cố trong cuộc sống chung gia đình, lúc vui vẻ cũng như khi hoạn
cấp và chuyển hẳn sang kinh tế thị trường. Sự thay đổi đó đã đem đến một sinh khí
mới, diện mạo mới cùng với sự thay đổi về chất lượng cuộc sống của dân thành phố
Hồ Chí Minh. Theo tài liệu thống kê công trình nghiên cứu “lịch sử 300 năm Sài Gòn
– TPHCM” do nhiều PTS - TS biên soạn. Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được tốc độ
tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP) năm 1997 đạt 55000 tỷ đồng, tăng rất nhiều lần so
với năm 1975. Bình quân đầu người đạt 1119 đô la Mỹ gấp 3,5 lần so với cả nước và
gấp 3 lần so với năm 1975. Với sự phát triển cao của tất cả các ngành công, nông,
thương, ngư, lâm nghiệp. Với diện tích gần 2100km2 và số dân 5 triệu người, thành
phố Hồ Chí Minh thuộc hàng những thành phố lớn ở Đông Nam Á. Là thành phố trẻ
mới 300 tuổi, nhưng nhờ nằm ở vị trí thuận lợi cho giao thông trong nước, khu vực và
quốc tế, tốc độ công nghiệp hóa - đô thị hóa của thành phố Hồ Chí Minh khá cao,
nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế- thương mại - du lịch và dịch vụ lớn nhất
nước ta. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử thành phố Hồ Chí Minh đã không có được
những bước phát triển ngang tầm vị trí của mình.
Việc chuyển từ một nền kinh tế đóng sang mở đã giúp đất nước và gia đình thoát
khỏi bế tắc của nạn khủng hoảng kinh tế - xã hội triền miên trong nhiều năm. Các gia
đình giành được quyền chủ động trong kinh doanh, phát huy tiềm năng kinh tế(vốn, tư
liệu sản xuất, kinh nghiệm làm ăn)và trí sáng tạo để kinh doanh làm giàu. Hoạt động
sản xuất cùng như các mặt hoạt động khác được tự do, thoải mái linh hoạt hơn trước
rất nhiều. Tiếc thay cùng với những cái tốt đẹp, thành phố ta cũng thâm nhập những
thứ rác rưởi đồi trụy, lối sống gấp, văn hóa độc hại, các quan niệm hôn nhan và gia
đình không phù hợp với Việt Nam, tệ nạn xã hội đang phát triển, lối sống thực dụng
xuất hiện trong đời sống xã hội, gia đình, các giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn,
đặt quyền lợi cá nhân lên trên mọi đạo lý trong quan hệ giữa các thành viên gia đình,
họ hàng, thân tộc, sự phân biệt giàu nghèo ngày càng lớn . . . Tác nhân chính của vấn
đề này là sự vận động của nền kinh tế thị trường và những biến đổi nhiều mặt của
thành phố.
Thật ra, các mặt xuống cấp trên đây còn do những nguyên nhân khác nữa. Ở
. . . Thành phố còn tổ chức những hoạt động văn hóa sôi nổi, đặc biệt các lể hội truyền
thống:Giỗ tổ Hùng Vương, cúng đình, Lễ Nghinh Ông, hội hoa xuân, lễ tưởng niệm
các anh hùng liệt sĩ ở Bến Dược(Củ Chi). . .
Các hoạt động thể dục thể thao cũng rất sôi nổi, đạt nhiều kết quả cao trong
những kì thi quốc gia và thế giới, Đặc biệt phong trào tập thể dục buổi sáng phát
triển sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
Thành phố ta cũng có tiềm năng lớn về khoa học công nghệ, lực lượng khoa học
kĩ thuật chiếm 85% cả nước với trên 1000 cán bộ có trình độ đai học, có người được
đào tạo ở nước ngoài.
2.2. Thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới.
2.2.1. Về khái niệm gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh .
Trước hết ta cần tìm hiểu về khái niệm gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh không phải là gia đình truyền thống vì “gia
đình truyền thống chắc hẳn là gia đình ở nông thôn gia đình ở những xã hội nông
nghiệp Á Đông đã tồn tại lâu đời và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh. Như vậy,
đó cũng là kiểu gia đình nông nghiệp, là một định chế gắn liền với nền nông nghiệp cổ
truyền” [4, 9].
Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh cũng không phải là gia đình hiện đại, vì gia
đình hiện đại chắc hẳn là sản phẩm của một thành phố công nghiệp phát triển, dân cư
có lối sống đô thị và đạt đến một trình độ văn minh đô thị khá cao, trong khi đó thì
thành phố của chúng ta vẫn còn trong giai đoạn tiền công nghiệp, văn minh nông
nghiệp vẫn còn mang đậm trong đời sống văn hóa của mỗi người dân.
Cho nên, gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có thể được coi là
“gia đình quá độ” đang trong bước chuyển từ xã hội tiền công nghiệp sang xã
hội công nghiệp thực thụ.
Bên cạnh đó cũng cần phân biệt rõ cụm từ “gia đình thành phố Hồ Chí Minh”
không trùng khớp với khái niệm “gia đình Nam bộ”, mặc dù thành phố Hồ Chí Minh
thuộc Nam bộ. Trong khái niệm “gia đình thành phố Hồ Chí Minh” chúng ta có thể
+ Gia đình mở rộng(gia đình kép): Đây là kiểu gia đình tồn tại ba thế hệ trở lên.
Ông bà - cha mẹ - con cái(tam, tứ, đại đồng đường). Kiểu gia đình này thịnh hành ở
nông thôn Châu Á. Ưu điểm của nó là sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống,
giữ gìn được những truyền thống tốt đẹp, các thành viên có điều kiện giúp đỡ nhau về
tinh thần lẫn vật chất. Tuy nhiên sự khép kín trong nội bộ thân tộc dễ đưa đến thái độ
cự đoan, bảo trì những tập tục lạc hậu giữa các thế hệ già trẻ thường nảy sinh những
mâu thuẫn, cơ cấu gia đình phức tạp nên không phù hợp hoàn cảnh và điều kiện sống
của xã hội hiện đại. Vì thế, kiểu gia đình này sẽ giảm dần trong xã hội công nghiệp
hóa - đỗ thị hóa. Nhưng không có nghĩa là nó mất hẳn.
Các kiểu gia đình biến thái
+ Gia đình pha trộn: gồm những đôi kết hôn sau một vài lần ly hôn, họ đã có một
hoặc hai dòng con ở các cuộc hôn nhân trước và những đứa con của cuộc hôn nhân
này. Loại gia đình này chiếm tỷ lệ không cao. Kiểu gia đình này khá phức tạp trong
mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thường là không thuận thảo. Do đó,
phần lớn là không bền vững. Kiểu gia đình này sẽ tăng chậm.
+ Gia đình chỉ có cha hoặc mẹ độc thân: đời sống của những gia đình này khá
neo đơn, con cái không được chăm sóc đầy đủ vì do bố mẹ ly dị hoặc chết, hoặc con
ngoài giá thú. Kiểu gia đình này tiếp tục tăng do tỷ lệ ly hôn tăng.
+ Kiểu gia đình tồn tại trên thực tế: Kiểu gia đình gọi là “hôn nhân thực tế”
nhưng không có chứng thực của pháp luật (tái hôn, vợ lẽ, nam nữ độc thân sống chung
như vợ chồng). Kiểu gia đình này sẽ tăng.
+ Kiểu gia đình thiếu: Chỉ có vợ chồng không có con cái do vô sinh hoặc không
muốn có con. Tỷ lệ này ở các đô thị lớn khá cao, nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh.
Kiểu gia đình này sẽ giảm.
+ Số hộ ông bà già cô đơn: Chỉ có một ông(bà) hoặc con cảhai ông bà nhưng
không có con cháu chung sống nên đời sống vất vả. Đời sống kinh tế có thể được cải
thiện nhưng đời sống tinh thần thì không.
+ Các cặp đồng tính luyến ái: Những cặp này độ bền vững không cao, pháp luật
niệm của đạo Hồi: trách nhiệm của mọi người là lấy vợ chồng sinh con đẻ cái, không
được nạo thai. Cũng theo tài liệu thống kê của PTS. Nguyễn Minh Hòa, tỉ lệ muốn có
ba con trở lên là 50% trong đó có 17% muốn có năm con trở lên. Đặc biệt, họ thích
sinh con gái(60%), do chế độ mẫu hệ.
+ Nhóm cư dân người nghèo : Chiếm 30% - 40% dân số thành phố. Họ làm đủ
các công việc chân tay nhưng đời sống thấp kém(thu nhập một tháng không quá 50
ngàn đồng đến 70 ngàn đồng một đầu người). Theo logic thì họ phải có ít con , nhưng
ngược lại họ đẻ rất nhiều con (47% muốn có 3 con trở lên).
+ Ngược lại các nhóm dân cư trên, dân cư người Kinh có mức sống cao lại có
quy mô gia đình nhỏ(hai con : 68%- 72%).
- Quy mô gia đình mở rộng ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm không cao do đòi
hỏi tính cơ động và gọn nhẹ của đơn vị gia đình ở đô thị. Do đó, những người từ vùng
khác đến chủ yếu là những người độc thân hay gia đình đơn với quy mô nhỏ để dễ bề
đối phó với bất trắc. Tâm lí cha mẹ già ngày nay cũng không thích nhờ vả con cái. Với
những người làm cán bộ công nhân viên chức Nhà nước thì họ hưởng lương hưu; còn
người buôn bán, sau khi lo cho con cái xong thì họ dành dụm để lo tuổi già. Có những
ông bà già muốn sống chung với con cái nhưng do điều kiện nhà cửa chật hẹp hoặc
con cái “hẹp lòng”. Thế hệ trẻ ngày nay cũng không thích chung sống với người già,
họ thích sống độc lập cả tinh thần lẫn vật chất nhưng họ vẫn không quên bổn phận con
cái đối với cha mẹ. Đây là điều khác với giới trẻ Phương Tây. Sự lựa chọn này là tối
ưu đối với thế hệ trẻ Việt Nam vì nó kết hợp hai thế mạnh của Châu Âu là “tự do” và
Châu Á là “bổn nhận”. Truyền thống chăm sóc những người cao tuổi bị rạn rứt, do đó
chính phủ các nước Châu Á đã tìm ra nhiều chính sách xã hội. Chẳng hạn như ở Trung
Quốc xử phạt nặng đối với những con cái bạc đãi cha mẹ, ở Xingapo nếu hộ gia đình
nào có nuôi dưỡng người già thì được miến giảm một số loại thuế, được ưu tiên mua
nhà giá rẻ, ở Đài Loan, những nhà máy, công ty nào nhận người cao tuổi vào làm việc
thì sẽ được giảm thuế...
* Thứ ba là chức năng của gia đình ở Thành Phố Hồ Chí Minh cũng có những
biến đổi.
Gia đình là một thiết chế xã hội xuất hiện sớm nhất và có lẽ là bền vững nhất của
của gia đình với sự thỏa mãn tình dục của đôi vợ chồng chức năng sinh đẻ ra khỏi nhu
cầu đáp ứng về tình dục. Do việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chức năng này
cũng giảm dầm.
Chức năng kinh tế:
Tiến trình công nghiệp hóa - đô thị hóa và kinh tế thị trường chỉ mới khơi động ở
Thành Phố Hồ Chí Minh được vài năm nay nhưng thực tế nó đã tác động sâu rộng đến
tất cả mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Một trong những chức năng ảnh
hưởng sâu sắc là chức năng hoạt động kinh tế gia đình.
Trong xã hội nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chức năng kinh tế của gia đình
đóng vai trò vô cùng quan trọng vì gia đình thật sự là một đơn vị kinh tế độc lập, khép
kín. Mỗi một gia đình tự đảm nhiệm trọn vẹn một qui trình gồm có “sản xuất - phân
phối - trao đổi - tiêu dùng. Khi chuyển sang xã hội công nghiệp và đô thị hóa thì gia
đình vẫn làm kinh tế nhưng không hoạt động như một đơn vị độc lập tự chủ.
+ Gia đình nông dân ở vùng đô thị hóa mới :
Trước đây, các gia đình này là một đơn vị sản xuất độc lập vì chủ yếu họ sống
bằng nghề nông. Do tiến trình công nghiệp hóa - độ thị hóa các gia đình bị mất dần đi
chức năng là một đơn vị kinh tế. Các nông dân bị mất đất canh tác, nông thôn trở
thành đô thị, nông dân trở thành công nhân, buôn bán nhỏ, tạp vụ, làm thuê mướn và
kể cả “vô sản lưu manh”(như Mác gọi). Tiến trình công nghiệp hóa,đô thị hóa ở thành
phố Hồ Chí Minh chỉ mới khởi động nhưng những hệ qủa của nó diễn ra theo đúng
trình tự như những gì đã từng xảy ra ở các nước đi trước.
+ Hộ gia đình làm kinh tế trong khu vực nội thành.
Ở nội thành các gia đình cũng mất đi chức năng là một đơn vị kinh tế độc lập và
trở thành đơn vị tiêu thụ sản phẩm và tiêu dùng các dịch vụ xã hội - hỏi lẽ, do không
đủ sức cạnh tranh với các công ty lớn, công nghệ tiên tiến. Các đơn vị sản xuất tiểu
thủ công và công nghiệp nhỏ với quy mô gia đình bị tan vỡ hàng loạt. Hoặc họ phải
liên kết với nhau thành đơn vị sản xuất lớn hơn như công ty, tổ hợp . . . hoặc làm
nhiều nghề khác nhau để kiếm sống . . .xu thế này sẽ còn tiếp tục diễn ra nhanh và