giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật ở thành phố hồ chí minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay (qua k - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI- thế kỷ của nền kinh tế tri thức, một
thế kỷ bùng nổ thông tin và hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy không một dân tộc
nào có thể sống trong tình trạng phong bế về văn hóa. Đặc biệt, Việt Nam nằm
trong khu vực giao thoa giữa các nền văn minh phương Đông và phương Tây,
chịu sự tác động trực tiếp của các quan hệ quốc tế vừa phong phú, hấp dẫn, vừa
gay gắt, phức tạp hiện nay.
Trong quá khứ, Việt Nam bao giờ cũng sẵn sàng đón nhận những giá trị
văn hóa từ bốn phương. Chúng ta từng có khả năng hòa nhập quốc tế nhưng
không đánh mất mình. Nhờ ở tinh thần khoan dung và rộng mở, dân tộc ta đã tạo
được một bộ lọc tinh vi, thu hút được những gì tinh túy của các nền văn hóa
khác mà không bị đồng hóa. Ngày nay, khi toàn cầu hóa đang trở thành một xu
thế khách quan, đặc biệt là về kinh tế và công nghệ thì nguy cơ xói mòn bản sắc
dân tộc là rất lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố công nghiệp trẻ, đất rộng, người
đông. Ngay từ buổi sơ khai, Sài Gòn đã là địa bàn chiến lược quan trọng nhất
của khu vực phía Nam, và cũng từ rất sớm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã
trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả vùng Nam Trung Bộ và
Nam Bộ, là cửa ngõ và đầu mối giao lưu quốc tế. Điều này có ý nghĩa vô cùng
quan trọng đối với việc giao lưu văn hóa nghệ thuật ở trong và ngoài nước. Tuy
chỉ mới hơn 300 năm hình thành và phát triển, nhưng Thành phố Hồ Chí Minh
đã có một nền văn hóa nghệ thuật phong phú, đa dạng, mang đậm đặc trưng
vùng đất phương Nam. Có được điều này, một mặt nhờ vào bản lĩnh kiên cường,
tinh thần phóng khoáng, năng động, sáng tạo và khoan dung vốn có của con
người nơi đây. Mặt khác, đó là kết qủa tích cực của qúa trình giao lưu, tiếp biến
và hoäi tụ những cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ của các nền văn hóa khác nhau để
làm giàu thêm cho mình. Với vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu quốc tế, Thành
phố Hồ Chí Minh là nơi giao nhau của các luồng văn hóa và chịu ảnh hưởng
sớm, sâu sắc văn hóa phương Tây cả về mặt tích cực và lạc hậu nhưng cuối cùng
vẫn không bị hoà tan, biến sắc; trái lại, vẫn giữ được bản sắc, bản lĩnh, làm nên

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề giao lưu, kế thừa và tiếp biến văn hóa nói chung và văn hóa nghệ
thuật nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu.
Có thể nêu lên một số chuyên khảo tiêu biểu sau: Giao lưu văn hóa đối với
sự phát triển văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay của PGS,TS Phạm Duy
Đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát
huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại của Phạm Minh Hạc, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội,1996; Văn học đổi mới và giao lưu văn hóa của Phan
2
Cự Đệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Giao lưu văn hóa người Việt ở
Bắc Bộ của tác giả Đỗ Lai Thuý (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), 1998; 23
năm cuối của 300 năm Văn hóa nghệ thuật Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb Văn nghệ, Sở Văn hóa - Thông tin
Thành phố Hồ Chí Minh,1998.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên các Tạp chí Văn hóa nghệ thuật,
Diễn đàn văn nghệ Việt Nam hay Báo Văn hóa như: Giao lưu văn hóa đối
ngoại với việc giữ gìn bản sắc dân tộc và hội nhập thế giới của tác giả Phạm
Xuân Sinh, Báo Văn hóa chủ nhật, số ra ngày 24-27/12/2004; “Văn hóa
nhân loại như một bầu trời đầy sao mà vì sao nào cũng lấp lánh” của Tiến sĩ
Phạm Quang Nghị - Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Báo Văn hóa, số ra
ngày 21-23/12/2004; Sẽ có nhiều đoàn nghệ thuật của Việt Nam ra nước
ngoài biểu diễn (Chu Thu Hằng), Báo Văn hóa, số ra ngày 10-12/2/2004;
Mỗi quoác gia cần đưa ra các biện pháp phát triển văn hóa của tác giả Chu
Thu Hằng, Báo Văn hóa, số ra ngày 21-23/9/2004. Về lĩnh vực nghệ thuật có:
Sân khấu Việt Nam với sân khấu Đông Nam Á - một cuộc hội nhập có ý nghĩa
tất yếu lịch sử của tác giả Trần Bảng, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 2/1997;
Tuồng trong mối quan hệ diễn xuất Đông Nam Á của tác giả Phan Ngọc, Tạp
chí Văn hóa nghệ thuật, số 11/1996; Thị hiếu đại chúng và ca khúc thịnh
haønh tại Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Minh Châu, Tạp chí Diễn
đàn văn nghệ Việt Nam, số 3/2003…

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa vào các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc được thể hiện qua các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc, các
Nghị quyết Hội nghị Trung ương và đặc biệt là Kết luận hội nghị lần thứ mười
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX để định hướng tư tưởng cho việc thực
thi đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với
phương pháp lôgic và lịch sử. Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn, so sánh để sáng tỏ mục tiêu và
nhiệm vụ của luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về thực trạng giao
lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện
4
nay. Từ đó đề ra phương hướng, giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu
văn hóa nghệ thuật hướng vào mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng dân tộc, hiện đại và nhân văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công việc
nghiên cứu văn hóa. Đồng thời là nguồn tài liệu thiết thực cho Bộ Văn hóa-
Thông tin, đặc biệt là Sở văn hóa-Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo,
vâïn dụng vào quá trình thực thi, quản lý vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật
trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 9 tiết.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status