MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1.
3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM
XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐẢM BẢO AN SINH XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề chung về an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội
1.2. Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò của bảo hiểm xã
12
12
hội đối với đảm bảo an sinh sinh xã hội ở Việt Nam
THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI
24
Chương 2.
ĐỐI VỚI ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT
NAM THỜI GIAN QUA
2.1. Kết quả, hạn chế biểu hiện vai trò của chính sách bảo
38
hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam
2.2. Nguyên nhân và vấn đề đặt ra cần giải quyết về vai trò
74
95
97
103
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hàng ngày, con người có thể gặp những biến cố bất thường,
những rủi ro xảy ra làm giảm hoặc mất khả năng tiếp tục lao động bình thường đảm
bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình họ. Để khắc phục những khó khăn khi tình
tình huống đó diễn ra, nhân loại đã tìm được một cơ chế thích hợp. BHXH - “sự
bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quĩ
BHXH” [43], chính là cơ chế thích hợp đó.
Ở nước ta, BHXH là trụ cột chính, nằm trong hệ thống các chính sách
ASXH của Nhà nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ nguồn
tài chính đối với các cá nhân tham gia khi họ không may gặp rủi ro, ốm đau,
thất nghiệp và lúc tuổi già. Đối tượng của BHXH là người lao động, hoạt động
BHXH đảm bảo, duy trì và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội;
đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành
phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển; giúp ổn định và trợ giúp
cuộc sống khi người lao động khi gặp rủi ro; là công cụ đắc lực của Nhà nước,
góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các
tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước. [52]
Trong những năm qua, BHXH Việt Nam đã phát huy vai trò là trụ cột
chính trong đảm bảo ASXH. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được,
thực tiễn cũng cho thấy những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cùng
một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác, làm nảy sinh những vấn đề
thống ASXH công bằng, đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Các tác giả
cũng đưa ra thực trạng và những thách thức đối với ASXH ở Việt Nam, đồng
thời cũng đề ra một số giải pháp cơ bản hướng tới ASXH công bằng, đa dạng,
bao phủ toàn dân và hiệu quả. Nhưng các tác giả chưa nghiên cứu đến hệ
thống các chính sách BHXH là chính sách trụ cột của ASXH có ảnh hưởng và
tác động rất mạnh mẽ đến ổn định và bảo đảm ASXH.
4
-“Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” của nhóm tác
giả: Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn Viện,
Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu - Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Hà
nội 11/2013, các tác giả đã khái quát những vấn đề chung về ASXH và đưa ra
một số định hướng phát triển chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020
theo Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”; tổng hợp
những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại của chính sách an sinh xã hội
hiện hành, đồng thời đưa ra những định hướng chính sách đến năm 2020. Các
tác giả đã nêu nên tầm quan trọng của ASXH là hệ thống chính sách xã hội cơ
bản trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường của mỗi quốc gia, tầm
quan trọng ấy được thể hiện ở chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng
về bảo đảm ASXH cho người dân trong lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, để đảm
bảo và ổn định ASXH nhóm tác giả chưa đi sâu và nghiên cứu tầm quan trọng
của hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, sự ảnh hưởng và tác động của nó
đến ổn định và đảm bảo ASXH.
-“Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội” tác giả Đồng
Thị Hồng, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
2015. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đảm bảo ASXH, phân tích thực trạng
đảm bảo ASXH trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận án đề xuất phương
số tồn tại về phát triển và tăng trưởng kinh tế, tác giả đề xuất một hệ thống
giải pháp về bảo đảm ASXH trong phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay.
* Các công trình nghiên cứu về bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội
- “Đổi mới và phát triển Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” chủ biên Tiến sĩ
Dương Văn Thắng, Nxb Văn hóa -Thông tin. Cuốn sách đã tổng hợp lý luận,
quan điểm và thực tiễn lịch sử hình thành và hoạt động BHXH trong các giai
đoạn kinh tế - xã hội của đất nước. Tác giả đã tổng hợp đánh giá thực tiễn hình
thành và thực hiện các chính sách BHXH qua từng giai đoạn, trong sự nghiệp
đấu tranh cách mạng, kháng chiến kiến quốc. Từ những năm trước Cách mạng
Tháng Tám (đây là thời kỳ hình thành các hoạt động mang tính chất BHXH) đến
thời kỳ kháng chiến chống Pháp và trong thời kỳ kháng chiến chỗng Mỹ. Rồi đến
6
thực tiễn hoạt động BHXH giai đoạn 1975 – 1994 đây là thời kỳ chưa có tổ chức
BHXH nhưng các chính sách về BHXH đã hình thành từ sự đóng góp của người
lao động trong một số ngành kinh tế tập thể và bắt đầu thực hiện thí điểm tại Thủ
đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và lan rộng ra một số tỉnh, thành trong cả
nước như Hải Phòng, Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai và Yên Bái), Thái Bình,
Bà Rịa-Vũng Tàu…Tác giả đã dành nhiều thời lượng nghiên cứu, đúc kết lý
luận, quan điểm và thực tiễn tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam giai
đoạn 1995-2002, đây là giai đoạn tổ chức BHXH ra đời, đánh dấu một bước
ngoặt quan trọng lớn sự phát triển chính sách BHXH cả về lý luận, quan điểm và
nhu cầu thực tế đối với sự phát triển KT-XH của Đất nước. Tuy nhiên, công
trình nghiên cứu này tác giả không đề cập đến sự ảnh hưởng của chính sách
BHXH với ổn định ASXH ở Việt Nam.
- “Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp ở Việt Nam” của Hoàng Bích Hồng, luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường
tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội, năm 2010, tác giả chỉ nghiên cứu
góc độ về vấn đề hoàn thiện công tác tổ chức và tổ chức chi trả các chế độ
BHXH. Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hệ thống tổ chức và hoạt động
chi trả các chế độ BHXH, tổ chức chi trả chế độ BHXH cho người LĐ của
một số nước trên thế giới và những bài học đối với Việt Nam. Phân tích thực
trạng hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam,
nêu lên những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại của hệ thống tổ
chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH cho người LĐ ở Việt Nam giai
đoạn 2003-2008, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ
thống tổ chức và hoàn chi trả thiện các chế độ BHXH ở Việt Nam thời gian
tiếp theo. Ở công trình ngiên cứu này tác giả cũng không nêu được tầm quan
trọng và vai trò của các chính sách BHXH đến đảm bảo ASXH ở Việt Nam.
Lao động thương bình và Xã hội.
- “Cần xử lý nghiêm các doanh nghiệp quỵt tiền BHXH” của tác giả
Chu Kim Long ([email protected]); Nguyễn Văn Dưỡng, quận 12,
thành phố Hồ Chí Minh; Trương Văn Trường, quận Gò Vấp, thành phố Hồ
Chí Minh đăng trên báo thanh niên onine ngày 07/4/2015 các ý kiến tập trung
8
vào việc phân tích, chỉ trích hành vi quỵt tiền BHXH đối với người lao động
của các doanh nghiệp đề nghị Nhà nước phải mạnh tay xử lý kể cả việc truy tố
theo Luật hình sự.
Cùng với các đề tài, sách, luận án, các bài báo khoa học còn có một số
các báo cáo tổng kết hàng năm của ngành BHXH Việt Nam, giúp tác giả nhận
thức rõ hơn về việc thực hiện các chính sách BHXH, từ đó nghiên cứu, phân
tích vấn đề một cách xác thực hơn về vai trò của chính sách BHXH đối với ổn
định ASXH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, đưa ra những giải
pháp thực hiện cho thời gian tới có tính khoa học và thực tiễn hơn.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản pháp quy của
nhà nước về chính sách ASXH và BHXH;
* Cơ sở thực tiễn
Đề tài sử dụng số liệu báo cáo của BHXH Việt Nam, tham khảo các tài
liệu có liên quan; các báo tổng kết của BHXH Việt Nam, và kế thừa kết quả
nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã công bố.
* Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng tổng
hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị học: trừu tượng
hóa khoa học, kết hợp logic với lịch sử, phương pháp nghiên cứu sản phẩm
hoạt động. Đồng thời sử dụng một số phương pháp bổ sung khác như: khảo
sát thực tiễn, thống kê, phỏng vấn chuyên gia, phân tích tổng hợp, so sánh…
6. Ý nghĩa của đề tài
Sau khi việc nghiên cứu hoàn thành, những kết quả được trình bày trong
luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên
cứu, cơ quan quản lý thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong nghiên cứu đề
xuất chủ trương chính sách về BHXH với Nhà nước. Kết quả nghiên cứu cũng
có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo về BHXH,
các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ ngành Bảo hiểm xã hội trong toàn
10
quốc. Luận văn cũng có thể sử dụng tham khảo cho các lớp đào tạo giảng
viên, các lớp cao học chuyên ngành kinh tế chính trị tại Học viện Chính trị.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương (6 tiết),
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, theo đó xác định quyền được an sinh xã hội
của người dân., nhưng các quan niệm trên lại có sự khác nhau trên những khía
cạnh nhất định. Trong khi Ngân hàng thế giới (WB) nhấn mạnh đến các giải pháp
nhằm kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhập của cá nhân, gia đình và cộng đồng, thì
12
tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo
hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính
thức; còn Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) lại nhấn mạnh vai trò của nhà nước
trong việc bảo đảm an sinh xã hội, giảm nhẹ những tác động bất lợi đến các cá
nhân và hộ gia đình.
Ở nước ta, ASXH được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Quan niệm
là một hệ thống chính sách và giải pháp được áp dụng rộng rãi để trợ giúp các thành
viên trong xã hội đối phó với những rủi ro và khó khăn khi gặp phải, dẫn đến mất
việc làm hoặc làm suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập và cuộc sống.
Đảng ta xác định ASXH là một bộ phận trong chiến lược phát triển KTXH, gắn với từng bước đi, từng giai đoạn phát triển của đất nước. Xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là đảm bảo những điều kiện thực
hiện ASXH. Do đó, trong mỗi chính sách phát triển kinh tế phải đảm bảo
ASXH, gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, vừa tạo động lực
tăng trưởng kinh tế vừa thực hiện công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển con
người, phát huy tối đa nguồn lực con người.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định: "Hoàn
thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với
các mục tiêu chính sách xã hội; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trong từng
chính sách phát triển, phù hợp với điều kiện cụ thể. Phát triển hệ thống ASXH đa
dạng ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp…” [25, tr.124, 125]. Chủ trương về ASXH trên đây thể hiện rõ quan
chế độ bảo hiểm theo qui định.
Nhà nước trong một số trường hợp, ở nước ta hiện nay nhà nước mua
bảo hiểm y tế cho một số đối tượng (khoản 1 Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội có
quy định: Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách
nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời
điểm hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện [43].
Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoản thu
nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trong
những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Trụ cột thứ hai, hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình
phát triển thị trường lao động.
Hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát triển thị trường
lao động mà trọng tâm là trợ giúp đào tạo nghề, tạo việc làm cho các đối
15
tượng yếu thế, chưa có việc làm trong thị trường lao động; trợ cấp đào tạo lại
nghề cho số lao động dôi dư do quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp, cổ
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước; đào tạo nghề, giải quyết việc làm gắn
với các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
Trụ cột thứ ba, các loại trợ giúp xã hội.
Các loại trợ giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật...) cho những người có
rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp đỡ
đặc biệt cho các gánh nặng gia đình... ASXH cũng bao quát cả những loại trợ
giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ đi lại... sự giúp đỡ của Nhà
nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với
mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo
đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia
nhà khoa học trong hai lĩnh vực trên quan niệm đảm bảo là thuật ngữ nhằm
diễn đạt là những quá trình kinh tế, những biện pháp kinh tế nhằm thỏa mãn
các nhu cầu kinh tế cho quốc phòng chiến tranh của nhà nước và nhân dân.
Như vậy, có thể thấy nói đến “đảm bảo”, hay “bảo đảm” một cái gì đấy, thì
không chỉ là những khả năng, mà còn bao gồm cả những hành động của chủ
thể nào đó trong việc biến những khả năng ấy thành hiện thực.
Chính các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB),
Ngân hàng Châu Á (ADB) và tổ chức lao động quốc tế (ILO) khi đề cập đến
ASXH đều đã nói đến vai trò của nhà nước và cộng đồng, nghĩa là bàn về
ASXH đã hàm chứa ý nghĩa về sự đảm bảo ASXH trong đó.
Trên cơ sở quan niệm về ASXH đã dẫn ra ở trên, cấu trúc của ASXH và
nhận thức chung về thuật ngữ “đảm bảo”, có thể đưa ra quan niệm về đảm bảo
ASXH như sau: Đảm bảo ASXH là tổng thể những chính sách, biện pháp cơ
chế vận hành và hoạt động thực tiễn các chủ thể liên quan đến các trụ cột hợp
thành ASXH (BHXH, BHYT, BHTN và những hỗ trợ khác), thông qua những
phương thức thích hợp nhằm bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong xã hội
vượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trước
những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường.
Quan niệm về đảm bảo ASXH trên đây chỉ rõ:
Chủ thể của đảm bảo ASXH là nhà nước và cộng đồng xã hội.
17
Mục đích của Đảm bảo ASXH là bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong
xã hội vượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu
trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường.
Phương thức của đảm bảo ASXH bao gồm cả các hoạt động bảo vệ,
giúp đỡ mang tính trực tiếp thường xuyên và các hoạt động bảo vệ, giúp đỡ
mang tính gián tiếp không thường xuyên.
chức thực hiện đúng đắn, đầy đủ, kịp thời trong thực tiễn.
1.1.2. Những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội
* Khái niệm bảo hiểm xã hội
Cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận
do được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau.
Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã
xác nhận “Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng
BHXH”. BHXH là một bộ phận cấu thành (có ý kiến coi là bộ phận quan trọng, bộ
phận chủ yếu, bộ phận chính, là cơ chế chính …) hệ thống ASXH [11, tr.384].
Theo tổ chức lao động thế giới (ILO) thì BHXH là sự bảo vệ của cộng
đồng xã hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng
góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật,
già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
để ổn định đời sống của các thành viên và bảo đảm an toàn xã hội [16, tr.10]
Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước với vấn đề trên đây không dừng lại ở việc đề ra những chủ
trương chính sách mà còn cả ở bình diện nghiên cứu, khái quát lý luận và tổ
chức thực tiễn.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,
tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an
toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo
an toàn xã hội”[60,tr.150].
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI, Luật BHXH của nước ta đã được ban hành (Luật số 71/2006/QH11), theo
19
bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu
20
nhập do gặp rủi ro, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở những đóng góp
tài chính của họ vào quỹ bảo hiểm xã hội.
* Các hình thức của bảo hiểm xã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên
cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động. Theo phương
thức đó, người lao động phải có đóng góp vào quỹ BHXH mới được quyền lợi
BHXH. Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng lại chịu sự
ràng buộc của các nguyên tắc như: nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro
(thể hiện ở chính sách BHYT, chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp...), nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng có sự can thiệp nhờ
cách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí, tử tuất).
Bảo hiểm xã hội có hai hình thức cụ thể là bảo hiểm xã hội bắt buộc và
bảo hiểm xã hội tự nguyện
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ
chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
Hình thức bắt buộc được Nhà nước tổ chức thực hiện thông qua Luật
BHXH, Luật BHYT, Luật việc làm qui định các điều kiện, các chế độ cũng
như quyền và trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp có nghĩa
vụ phải thực hiện nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chung và an toàn xã hội.
Trong hình thức bắt buộc này, đối với BHXH: là loại hình BHXH do Nhà
nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia; đối
với BHYT: bắt buộc áp dụng đối với các đối tượng theo qui định của Luật
BHYT để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ
chức thực hiện; đối với BHTN: người sử dụng lao động phải tham gia bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động tại tổ chức bảo hiểm xã hội theo qui định
tại Luật Việc làm, kể từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có
Trong đời sống hàng ngày, khi con người rơi vào những trường hợp rủi ro,
khó khăn bất lợi, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không mất đi, trái lại có
cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được
khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc
nuôi dưỡng v.v...Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã
hội loài người phải tìm ra giải pháp để giải quyết hậu quả này. Và thực tế đã tìm
ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ
22
một cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v.v...
nhưng những cách đó là hoàn toàn thụ động và không ổn định.
Để có giải pháp tốt, ổn định và bền vững cho sự phát triển của toàn xã
hội, Nhà nước đã đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn, đồng thời làm tăng
vai trò của Nhà nước, Nhà nước phải xây dựng một hệ thống các chính sách
nhằm buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định
hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối
với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ
tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân
sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi
gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó
mà rủi ro, bất lợi của người lao động được bù đắp, cuộc sống của người lao
động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy
mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh
được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được
thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng để đảm bảo những vấn đề không may
bị rủi ro, tai nạn, ốm đau, thai sản, mất việc làm, hết khả năng lao động…xảy
ra đối với người lao động. Đó là những chính sách được Nhà nước qui định
nhằm điều chỉnh toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc
Ở Việt Nam, vai trò trụ cột của BHXH đối với đảm bảo ASXH không
nằm ngoài những quan niệm, những qui luật sinh tồn chung như đã nêu trên và
những quan niệm đó đã được Đảng và Nhà nước ta hiện thực hóa bằng việc
thể chế thành các văn bản pháp quy phù hợp với từng giai đoạn lịch sử KTXH cụ thể, đồng thời tổ chức hiện thực hóa các quy định pháp luật đó, đã từng
bước đưa chính sách BHXH, BHYT, BHTN đi vào cuộc sống người dân và
dần hoàn thiện nhằm mục tiêu ổn định ASXH và phát triển KT-XH.
Trong từ điển Tiếng Việt, vai trò được hiểu là “tác dụng, chức năng
trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó” [61, tr. 1057].
Điều đó có nghĩa là, khi nói đến vai trò của một sự vật, hiện tượng nào đó,
hàm ý của người Việt Nam muốn nói đến sự vật, hiện tượng đó có tác dụng thúc
đẩy gì, thúc đẩy như thế nào đối với sự hoạt động của một sự vật hiện tượng
khác. Đối với vấn đề đang được bàn luận ở đây, đó là tác dụng, thúc đẩy của
BHXH có tác dụng thúc đẩy như thế nào đối với đảm bảo ASXH.
24
Trên cơ sở quan niệm về ASXH, quan niệm về đảm bảo ASXH, quan
niệm về BHXH và hàm nghĩa của thuật ngữ vai trò trong tiếng Việt, có thể hiểu
vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH là những kết quả đạt được trong thực
hiện các chính sách BHXH, BHYT, BHTN, thể hiện sự đóng góp của BHXH đối
với đảm bảo ASXH biểu hiện thông qua dữ liệu, số liệu thống kê tổng kết hàng
năm trong thực tiễn; có tác dụng giúp các đối tượng được bảo hiểm vượt qua
những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trước những rủi ro
về kinh tế, xã hội và môi trường; góp phần thúc đẩy chung để ASXH đạt được
tính ổn định, tiến tới bền vững.
Quan niệm trên chỉ rõ các thuộc tính đặc trưng về vai trò BHXH đối
với đảm bảo ASXH gồm các vấn đề sau:
Thứ nhất, nói đến vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH là nói đến
vấn đề khi các chính sách BHXH được thực hiện sẽ tạo ra sự đóng góp đối
với đảm bảo ASXH trên thực tế. Mục tiêu hướng tới của các hoạt động
càng phát triển sẽ góp phần càng lớn vào việc ổn định đời sống của người lao
động và gia đình họ, đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền tài chính quốc
gia. Xét về tổng thể, quỹ BHXH tạo ra nguồn cung dồi dào và ổn định cho thị
trường tài chính; tạo điều kiện ổn định nền tài chính quốc gia và cuối cùng là
góp phần làm cho ASXH được đảm bảo hơn.
Ba là, BHXH đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động
trong các thành phần kinh tế khác nhau và thúc đẩy sản suất phát triển. Hoạt
động BHXH, BHYT, BHTN dựa trên nguyên tắc “đóng – hưởng” đã tạo ra sự
bình đẳng của người lao động về chính sách BHXH, BHYT, BHTN. Mọi người
lao động không phân biệt thành phần kinh tế, không phân biệt nghề nghiệp đó
là cơ sở đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người lao động trước những chính sách
của BHXH tạo được sự an tâm tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh
doanh đối với người lao động.
Bốn là, BHXH là công cụ đắc lực của Nhà nước góp phần phân phối lại
thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm
chi ngân sách nhà nước. Người lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN
đóng vào quĩ bảo hiểm và cũng được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm từ
26