Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thời đại của chúng ta là thời đại mang xu hướng toàn cầu hóa và
khu vực hóa. Việt Nam gia nhập và là thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO. Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập dần với kinh tế thế giới và
thị trường chứng khoán cũng không nằm ngoài quá trình đó.
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một
nước công nghiệp phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần X, mỗi
năm Việt Nam cần khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư nhằm phát triển cơ sở hạ tầng
trong giai đoạn 2010-2020. Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách huy động tối
đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốn nhàn
rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và TTCK giữ vai trò qua trọng đối
với việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Sau hơn 10 năm hoạt động và phát triển, TTCK Việt Nam đã có những giai
đoạn tăng trưởng nhanh chóng (1.170 điểm) và cùng với đó là những giai đoạn
khó khăn (235 điểm). Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động của TTCK như
tình hình kinh tế xã hội, quy luật cung cầu, trình độ và tâm lý nhà đầu tư, các quy
định chính sách liên quan, tác động của các thị trường khác như thị trường bất
độn sản, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ… trong đó tác động của dòng vốn
đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng, là một tác động chủ yếu, dẫn dắt thị
trường chứng khoán Việt Nam trong suốt những năm gần đây.
Tính đến thời điểm quý 2 năm 2013, hiện ở Việt Nam đang có 31 văn phòng
đại diện của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, tổng số 35 CTCK có
vốn góp của đối tác nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong đó có 10 công
ty mà nhà ĐTNN sở hữu đến 49% vốn góp. Đối với công ty quản lý quỹ, hiện có
9 công ty có vốn góp của nước ngoài, trong đó có 2 công ty quản lý quỹ có mức
vốn góp của nhà ĐTNN là 100%. Có thể thấy, nhà đầu tư nước ngoài đã và đang
tham gia nghiêm túc vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Mặc dù TTCK Việt
1
Nam đã hoạt động được hơn 10 năm, nhưng cho đến nay, sự chi phối và những
tác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK vẫn còn là một ẩn số.

động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam là
vô cùng cần thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: Vai trò của đầu tư nước ngoài đối
với thị trường chứng khoán Việt Nam
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới những kết quả thực nghiệm về ảnh hưởng hoạt động của
dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến TTCK một số nước cũng cho thấy việc
nghiên cứu đã và đang được tiến hành. Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị
đầu tư ròng của nhà đầu tư nước ngoài có tổ chức và chỉ số chứng khoán Nifty
(Ấn Độ) trong giai đoạn từ tháng 1/1999 đến tháng 2/2009 của các đồng tác giả
Mohd.Aamir Khan, Rohit, Siddharth Goyal, Vinit Ranjan và Gaurav Agrawal.
Các tác giả đã phân chia thời gian nghiên cứu thành 4 giai đoạn nhỏ theo thứ tự
sự kiện kinh tế thế giới đã xảy ra là vụ khủng bố tòa tháp đôi WTC tại Mỹ ngày
11/9/2001, dịch SARS toàn cầu tháng 5/2003 và khủng hoảng tài chính thế giới
bắt đầu từ tháng 1/2008. Với phương pháp phân tích chuỗi dữ liệu, xem xét phân
phối chuẩn của các chuỗi dữ liệu, kiểm định nhân quả Granger và Phương pháp
phân tích phương sai, các tác giả đưa ra được kết luận: Giai đoạn 3 là giai đoạn
tăng của TTCK Ấn Độ tuy nhiên ảnh hưởng của chỉ số Nifty lên các tổ chức đầu
tư nước ngoài lại mạnh hơn trong giai đoạn 4, nguyên nhân là do các nhà tạo lập
thị trường khác đã gia tăng vai trò của họ nhằm làm giảm mức ảnh hưởng của các
tổ chức nước ngoài lên TTCK Ấn Độ.
Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các tổ chức
nước ngoài (FIO) với tính thanh khoản TTCK Indonesia của hai tác giả S.Ghon
Rhee và Jianxin Wang đã sử dụng dữ liệu về tỷ lệ sở hữu từng loại cổ phiếu của
các dạng NĐT khác nhau, và dữ liệu thể hiện tính thanh khoản của TTCK đo
3
lường qua ba yếu tố là chênh lệch giá đặt Mua/bán, độ sâu của thị trường và mức
độ nhạy cảm của giá chứng khoán. Qua nghiên cứu này các tác giả đã cung cấp
bằng chứng trực tiếp về mối quan hệ giữa tính thanh khoản của TTCK và dòng

độ ảnh hưởng ít hay nhiều trong từng giai đoạn.
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Về khía cạnh phân tích vai trò của hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, hầu hết các đề tài nghiên cứu trong nước đều tiếp
cận trên yếu tố vĩ mô, nghiên cứu chung về thị trường chứng khoán mà trong đó
vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận, cũng có những công trình, bài báo nghiên
cứu về từng mảng của thị trường chứng khoán liên quan đến các hoạt động đầu
tư của nhà đầu tư nước ngoài.
Đối với những công trình nghiên cứu chung về thị trường chứng khoán,
thị trường tài chính, điển hình có các công trình: “Toàn cầu hóa thị trường tiền
tệ, tài chính thế giới”, năm 2000, Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Văn
Phương, Đại học Kinh tế quốc dân; “Phát triển và hoàn thiện thị trường vốn và
thị trường tiền tệ Việt Nam”, năm 2003, “Phát triển thị trường tài chính Việt Nam
trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế”, năm 2005, Luận án tiến sĩ
của Đặng Thị Nhàn. Những đề tài nghiên cứu trên đã cho thấy được những nét
khái quát cơ bản về thị trường này với vị trí là bộ phận của thị trường tài chính,
trên cơ sở đó đã cung cấp những thông tin tham khảo quan trọng, định hướng gợi
mở nhiều ý tưởng trong quá trình nghiên cứu về thị trường. Tuy nhiên do mục
tiêu nghiên cứu về thị trường tiền tệ và thị trường tài chính, do lĩnh vực nghiên
cứu rộng và phức tạp nên các công trình này phần lớn tập trung vào mảng thị
trường tín dụng, thị trường ngoại tệ hoặc tổng quan thị trường chứng khoán mà
chưa dành nhiều sự quan tâm về dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK.
Các công trình liên quan đến từng mảng, từng bộ phận của thị trường
chứng khoán chủ yếu là đề cập đến những nét khái quát cơ bản của thị trường
5
này hoặc những xu hướng ngắn hạn của NĐTNN, trên cơ sở đó đã cung cấp
những thông tin tham khảo quan trọng, định hướng gợi mở nhiều ý tưởng trong
quá trình nghiên cứu về dòng vốn ĐTNN trên TTCK. Các bài báo, nghiên cứu
cũng chủ yếu phục vụ cho việc nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Ngân
hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở giao dịch Chứng khoán

nước ngoài khi đầu tư vào thị trường chứng khoán.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đến TTCK Việt
Nam qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 2005-2006, 2007-2008 và 2008-2012.
Thông qua các kết quả phân tích cho thấy mức độ ảnh hưởng của dòng vốn
đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam thay đổi theo từng
giai đoạn.
- Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực đồng
thời phòng tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động đầu tư
nước ngoài trên TTCK Việt Nam, giúp cho TTCK hoạt động thực sự chủ yếu
dựa trên quy luật cung cầu của thị trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó bao gồm hoạt động đầu tư của
dòng vốn đầu tư nước ngoài và của các tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia vào
TTCK Việt Nam là đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu. Các hoạt động đầu
tư của dòng vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp trên thị trường chứng khoán vô cùng
đa dạng và dàn trải trên nhiều loại hình như thông qua việc mua cổ phần, cổ
phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán
và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Định nghĩa về đầu tư gián tiếp – Luật
Đầu tư 2005).
Luận văn nghiên cứu hoạt động đầu tư của 31 tổ chức kinh doanh chứng
khoán nước ngoài (Ủy ban chứng khoán nhà nước), 35 công ty chứng khoán có
vốn góp của đối tác đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên thị trường chứng
khoán Việt Nam (Theo Chứng khoán Việt Nam) đang đầu tư vào các chứng khoán
niêm yết trên 3 sàn chứng khoán HNX, HSX và OTC.
7
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giảphân tích TTCK Việt Nam tập
trung giai đoạn từ2005 đến tháng 2011
- Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11/2006
- Giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến trước khủng hoảng tài

- Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian
- Công cụ thống kê mô tả, phân tích tương quan: chương trình phân tích dữ
liệu EVIEWS (Econometrics Views) cung cấp các công cụ phân tích dữ
liệu phức tạp, hồi quy và dự báo.
Phạm vi dữ liệu nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu và khả năng thu
thập dữ liệu có hạn, nên đề tài chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động đầu
tư nước ngoài lên TTCK Việt Nam, bỏ qua tác động của các nhân tố khác có
ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam.
Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài lên TTCK
Việt Nam, đề tài thực hiện phân tích ảnh hưởng giá trị chứng khoán giao dịch
của nhà đầu tư nước ngoài đến giá trị chứng khoán giao dịch toàn thị trường
tại HOSE bao gồm cả giá trị giao dịch thỏa thuận và giá trị giao dịch khớp
lệnh.
Các chuỗi dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ đầu năm 2005 đến
cuối năm 2011 (dữ liệu được quan sát theo tuần).
6. Những đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu lý thuyết về ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đến
thị trường chứng khoán Việt Nam. Đánh giá thực trạng hoạt động của nhà đầu tư
nước ngoài từ năm 2006 đến 2011 và phân tích định tính về ảnh hưởng của nhà
đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thực hiện các bước phân tích định lượng về ảnh hưởng của hoạt động nhà
đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong từng giai đoạn.
Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực đồng
thời phòng tránh, giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động nhà đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam để thị trường phát triển bền vững.
7. Kết cấu của đề tài
9
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục tham khảo, khóa luận được kết
cấu thành 3 chương sau đây:
Chương 1 : Khái quát chung về thị trường chứng khoán và nhà đầu tư nước

- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
Phân loại
11
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm
tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng ) có kỳ hạn trên 1 năm.
Sau đây là một số cách phân loại thị trường chứng khoán cơ bản:
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn: Thị trường chứng khoán được chia
thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
- Thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán
mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà
phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
- Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được
phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán
đã phát hành.
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường: Thị trường chứng khoán
được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung
(thị trường OTC)
Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường: Thị trường chứng khoán cũng có thể được
phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường
các công cụ chứng khoán phái sinh.
− Thị trường cổ phiếu: Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
− Thị trường trái phiếu: Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua
bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu
công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
− Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng khoán
phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác
như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương
lai, hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi

chính trung gian. Do vậy, sự xuất hiện của ngân hàng là một bước tiến quan trọng
13
trong quá trình giao lưu vốn, ngân hàng làm vai trò trung gian giữa người có vốn
và người cần vốn bằng cách huy động tiền gửi rồi cho vay. Trong quá trình đó,
ngân hàng cùng các tổ chức tín dụng khác đã làm cho quá trình giao lưu vốn
được phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên do tốc độ phát triển của thị trường
phương thức huy động vốn gián tiếp thông qua ngân hàng bộc lộ nhiều hạn chế
về các điều kiện, thủ tục, hạn mức tín dụng,…
- Huy động trực tiếp: Qua kết quả của các quá trình huy động vốn đã hình thành
một phương thức huy động vốn được mọi người ưa chuộng hơn, đó là phương
thức huy động vốn trực tiếp. Nguyên tắc cơ bản của phương thức này là người
cần vốn (Chính phủ hay doanh nghiệp) sẽ phát hành các loại giấy tờ có giá chứng
nhận chủ quyền về các khoản vốn được sử dụng gắn liền với những đặc quyền
mà người mua nó được hưởng thụ. Các hình thức và kỳ hạn của các giấy tờ có
giá này đa dạng tùy thuộc vào mục đích huy động của người sử dụng vốn. Chứng
khoán là những giấy tờ có giá đại diện cho những khoản vốn trung và dài hạn
được mua và bán trên thị trường chứng khoán.
Phân nhóm nhà đầu tư dựa trên mục đích đầu tư
Có thể phân nhóm các nhà đầu tư như sau:
Thứ nhất, đó là những nhà đầu tư phân tích rất kỹ mọi thông tin về công ty phát
hành cổ phiếu, về công nghệ, về thị trường đầu vào và đầu ra, về các đối thủ cạnh
tranh. Họ quyết định đầu tư dựa trên tình hình thực tế và tiềm năng của công ty.
Đây là những nhà đầu tư khôn ngoan, họ chọn những công ty có triển vọng tốt để
đầu tư, vì vậy họ giúp cho nền kinh tế phát triển tốt hơn.
Loại thứ hai nghiên cứu rất kỹ thông tin về chứng khoán để tìm ra giá bình quân
trong một thời gian dài. Khi giá tăng lên trên bình quân, họ tin là giá sẽ xuống,
nên họ bán ra, nhiều người cùng bán ra làm giá giảm xuống. Ngược lại, khi giá
xuống dưới mức bình quân, họ tin là giá sẽ lên, vậy là họ đi mua vào, nhiều
người cùng hành động như vậy đẩy giá lên. Nhóm các nhà đầu tư này góp phần
làm ổn định thị trường.

Với kênh huy động vốn truyền thống qua các ngân hàng như trước đây,
các chủ thể đầu tư không thể theo dõi, kiểm tra, quản lí vốn đầu tư của họ, do đó
làm cho quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn tách rời nhau, làm giảm động lực
tiềm năng trong quản lí. Trái lại, với việc đầu tư qua thị trường chứng khoán,
kênh dẫn vốn trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu
về vốn, nâng cao tiềm năng quản lí vốn.
1.1.2.2 Tính cạnh tranh
Thị trường chứng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn
hảo, tất cả mọi người đều tự do tham gia vào thị trường, không có sự áp đặt về
giá cả, giá cả được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản
ánh các thông tin liên quan về chứng khoán. Thông qua giá chứng khoán, hoạt
động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác giúp
cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và
thuận tiện, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
1.1.2.3 Tính liên tục
Sau khi chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp nó có thể được
mua bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp, đảm bảo cho nhà đầu tư có thể chuyển
các chứng khoán họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn. Việc mua bán
này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán
lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán
lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Quá trình mua đi bán
lại này có thể mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư và tạo nên tính liên tục của
thị trường chứng khoán.
16
1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi được họ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở
rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK

thời, TTCK sẽ sớm trở lại thời hoàng kim. Vì thế, số lượng nhà đầu tư và các
CTCK vẫn tiếp tục tăng. Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, TTCK tuột dốc không
phanh, bất chấp các nhận định: thị trường sẽ sớm khởi sắc.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau
về tính chất, thời hạn rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại
hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. Chính vì vậy,
TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà
họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng
thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính
hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là một yếu tố cho thấy tính
linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu
quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao
dịch trên thị trường.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản
ánh một cách tổng hợp chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động
của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra được
môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích
thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ

Các chỉ báo của TTCK phản ảnh động thái của nền kinh tế một cách nhạy
bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng,
nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu
hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế TTCK được coi là phong vũ biểu của nền
19

20
trực tiếp FDI – Foreign Direct Investment. Trong trường hợp này quyền sở hữu
vốn thống nhất với quyền sử dụng vốn.
1.2.2 Đặc điểm của các nhà đầu tư nước ngoài
Đầu tư gián tiếp dưới dạng FPI: Đây là hình thức đầu tư quốc tế quan
trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua cổ phần của
các công ty ở nước sở tại (ở mức khống chế nhất định) để thu lợi nhuận mà
không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, và có một số
đặc điểm sau:
- Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua cổ
phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển trong
tương lai
- Số lượng cổ phần của các công ty nước ngoài được mua bị khống chế ở mức độ
nhất định tuỳ theo từng nước.
- Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do đó
bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh.
- Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ thuật
hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó, doanh nghiệp có khả năng
phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu doanh
nghiệp.
Ranh giới phân biệt giữa FPI và các nguồn vốn khác không rõ rệt. Xét về
bản chất, điều khác nhau cơ bản giữa FDI và FPI chính là ở chỗ có hay không sự
tham gia quản lý doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên khi lượng
FPI đạt đến một mức độ nhất định thì sẽ có sự chuyển hoá về chất, nghĩa là khi
đã nắm trong tay một số lượng cổ phiếu đủ lớn, nhà đầu tư có thể tham gia vào
quá trình quản lí doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ và FPI sẽ trở nên ổn định
hơn. Hình thức này có ưu điểm là khi có sự cố trong kinh doanh xảy ra với xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì các chủ đầu tư ít bị thiệt hại vì vốn đầu tư
được phân tán trong số đông những người mua cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác bên
tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động vốn kinh doanh theo ý đồ của mình một

nước như Luật đầu tư nước ngoài, Luật ngân hàng Do đó, người đầu tư nước
ngoài chỉ có khả năng được sở hữu với những tỷ lệ nhất định đối với cổ phiếu
phát hành của một công ty, ở mỗi nước tuỳ vào đặc điểm riêng của nền kinh tế và
phương thức hoạt động của thị trường chứng khoán mà có những qui định riêng
của mình. Do vậy, ban đầu chính sách của các quốc gia đối với các nhà đầu tư
nước ngoài thường là hạn chế mức độ sở hữu chứng khoán của họ và hạn chế các
hình thức đầu tư nước ngoài, sau đó nâng dần tỷ lệ sở hữu cũng như hình thức
đầu tư của họ vào thị trường chứng khoán trong nước.
Quản lý đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán là quản lý các
hình thức đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường, gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp. Đầu tư gián tiếp là việc sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài đối với
các tổ chức phát hành. Đầu tư trực tiếp là việc các cá nhân hay tổ chức nước
ngoài bỏ vốn thành lập công ty hay liên doanh, liên kết với các đối tác trong nước
để kinh doanh chứng khoán.
Quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần.
Tại Hàn Quốc, thời gian đầu chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
gián tiếp thông qua các quỹ đầu tư, quỹ tín thác; qui định mức trần cho đầu tư
trực tiếp và tăng dần lên theo sự phát triển của thị trường, nhưng vẫn giữ nguyên
sự hạn chế đối với một số ngành quan trọng như quân sự, bưu chính viễn thông,
điện lực. Các qui định về quản lý đầu tư nước ngoài ở Hàn Quốc thay đổi gắn
liền với sự phát triển của thị trường và thông qua các quyết sách mới của Chính
phủ theo từng giai đoạn.
- Từ năm 1985 - 1987: Chính phủ cho phép người nước ngoài đầu tư gián tiếp
vào chứng khoán Quỹ tín thác.
- Tháng 12 - 1988, hoàn chỉnh kế hoạch về mở cửa thị trường vốn. Theo kế
hoạch này, bắt đầu từ tháng 12-1992, người nước ngoài được phép sở hữu 10%
số cổ phiếu của một Công ty chứng khoán trong nước.
23
- Năm 1992: Cho phép người nước ngoài đầu tư trực tiếp với mức trần là 10% và
sau đó tỷ lệ này được nâng lên 55% số cổ phiếu của một công ty.

giao dịch. Bên cạnh đó một số loại cổ phiếu khác dành cho người đầu tư nước
ngoài cũng được phát hành như cổ phiếu H được niêm yết tại thị trường chứng
khoán Hồng Kông, cổ phiếu N được niêm yết tại thị trường chứng khoán New
York. Rõ ràng, việc phát hành riêng một loại cổ phiếu cho người đầu tư nước
ngoài đã giúp Chính Phủ Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ hơn việc đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán, bên cạnh đó một phần cũng đã trao quyền tự
chủ cho các doanh nghiệp trong việc tự cơ cấu nguồn vốn cho nhu cầu phát triển
sản xuất kinh doanh của mình bằng cách phát hành một tỷ lệ cổ phiếu B thích
hợp trong tổng lượng cổ phiếu phát hành trên thị trường, nhằm thu hút được
nguồn vốn cần thiết mà không bị sự kiểm soát của nước ngoài.
Đối với các cổ phiếu N và H việc được niêm yết trên thị trường quốc tế
không chỉ thu hút nguồn vốn nước ngoài mà ở đây sự xuất hiện các cổ phiếu của
các công ty Trung Quốc đã tạo nên sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài
vào cơ hội làm ăn tại Trung Quốc, tạo nên danh tiếng, quốc tế hoá các công ty
Trung Quốc, và thúc đẩy mạnh mẽ khả năng cạnh tranh của các công ty Trung
Quốc trên thị trường thế giới.
Hạn chế đầu tư 100% vốn vào một số ngành nghề đặc biệt quan trọng
Trong xu thế toàn cầu hoá và mở cửa thì hầu hết các nước luôn cho phép
các công ty 100% vốn nước ngoài hoạt động tại nước mình, cũng như cho phép
các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% số cổ phiếu của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề, lĩnh vực
quan trọng có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế của đất nước thì một mặt
25

Trích đoạn Tổng quan về ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Quy định về tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán Thực trạng hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO đến Phân tích những ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam Phân tích những tác động của đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status