1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Hệ thống công trình ngầm là một trong những hệ thống có vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội trong thời kì hiện đại hóa đất
nước. Hệ thống công trình ngầm đã và đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Hầu
hết các khu đô thị ở Việt Nam đặc biệt tại các thành phố lớn như thành phố Hồ
Chí Minh, Thủ đô Hà Nội đều xây dựng công trình ngầm.Công trình ngầm hiện
nay không chỉ đơn giản là các tuyến đường dây điện, cáp quang, đường dây
thông tin, liên lạc, các đường ống cấp nước, cống thoát nước, các đường ống
xăng, dầu…. mà công trình ngầm là nơi mà con người có thể ở, có thể mua bán.
Đặc biệt hệ thống trung tâm thương mại nằm ngay dưới tầng hầm không còn xa
lạ với chúng ta, các tòa nhà chung cư hầu hết được thiết kế hệ thống công trình
ngầm. Phát triển công trình ngầm đã góp phần tiết kiệm diện tích, giải quyết các
vấn đề liên quan đến hoạt động chung của tòa nhà đồng thời góp phần tạo cho
bộ mặt của thành phố khang trang hơn hiện đại hơn và an toàn hơn.Trước yêu
cầu của cuộc sống và sự phát triển kinh tế xã hội, sự mở cửa và hội nhập, vấn đề
xây dựng công trình ngầm tại các khu đô thị đã trở thành mục tiêu đòi hỏi phải
thực hiện.
1.2 Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế chính trị lớn của đất nước, nơi tập
trung nguồn lực cho sự phát triển của cả nước. Năm 2013, dân số của Hà Nội là
khoảng 7,1 triệu người vì vậy nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng cao trong khi
đó đất đai ngày càng không thể tăng thêm. Không gian ngầm là một dạng tài
nguyên quý báu cần được tích cực khai thác để trở thành không gian sống thứ
hai, giảm áp lực về tính khan hiếm của đất đai. Chính vì vậy phát triển hệ thống
không gian ngầm là điều tất yếu không thể thiếu được trong lĩnh vực bất động
sản, đặc biệt là bất động sản đô thị. Do đó cần quản lý quỹ đất ngầm và khai
thác quỹ đất này hợp lý, hiệu quả, tạo sự phát triển bền vững hài hòa phù hợp
với nhu cầu sử dụng đất, tăng nguồn thu cho ngân sách.
1.3 Hiện nay Hà Nội đã xây dựng nhiều công trình ngầm, đặc biệt là
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
-
Mục đích
Làm rõ những tồn tại trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình ngầm
Đánh giá thực trạng một số công trình cho phép đầu tư xây dựng công trình
-
ngầm trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đưa ra những giải pháp khắc phục trong công tác quản lý đầu tư xây dựng
2.1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3
Thứ nhất: Tìm hiểu những vấn đề về công trình ngầm như: những quy định
của nhà nước về công trình ngầm, quy định của Hà Nội về công trình ngầm, vấn
đề thu tiền sử dụng đất có công trình ngầm, thu phần kinh doanh diện tích có
công trình ngầm.
Thứ hai: Phân tích thực trạng hoạt động phát triển và quản lí hệ hống tầng
hầm trên địa bàn Hà Nội đưa ra những vấn đề còn tồn tại trong khai thác hệ
thống không gian ngầm.
Thứ ba: Đề xuất một số phương hướng và giải pháp đối với phát triển hệ
thống tầng hầm tại các khu đô thị, đề xuất một số kiến nghị với cơ quan quản lý
nhà nước và thành phố Hà Nội
quý giá của loài người, điều kiện cho sự sống của động thực vật và con người
trên trái đất. Theo luật đất đai năm 1993: “ Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”.
Ngoài ra có rất nhiều các quan điểm khác về đất đai của các quốc gia, mỗi
quan điểm đều thể hiện những cách nhìn khác nhau. Theo tổ chức FAO “ Đất
đai là một tổng thể vật chất bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian
tự nhiên của tổng thể vật chất đó”.
Như vậy chúng ta có thể khẳng định: Đất đai không chỉ giới hạn là bề mặt
trái đất, mà còn được hiểu như là khái niệm pháp lý về bất động sản. Tài sản hợp
pháp được định nghĩa là không gian bên trên, dưới hoặc trên mặt đất và bao gồm
một số công trình xây dựng về mặt vật chất hoặc pháp lý gắn với tài sản đó và
đất đai cũng bao gồm các khu vực có nước bao phủ.
Đất đai cùng với các điều kiện tự nhiên khác là một trong những cơ sở
quan trọng nhất để hình thành các vùng kinh tế của đất nước nhằm khai thác và
sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng đất
nước. Vai trò của đất đai càng trở nên quan trong hơn khi dân số ngày càng
đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng tăng.
Ngoài ra, đất đai là một trong những bộ phận lãnh thổ của mỗi quốc gia, có vai
trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một quốc gia. Chính
vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi nước là phải quản lý đất đai để đất đai đem lại
những lợi ích lớn nhất.
5
1.1.1.2. Khái niệm về bất động sản
Khái niệm về Bất động sản: Trong quá trình phát triển của nhân loại, tài
sản đã được chia thành “ bất động sản” và “ động sản”. Sự phân loại này có
6
Mối quan hệ giữa đất đai và bất động sản: đất đai là một bộ phận cấu thành bất
động sản đồng thời bất động sản là tài sản trên đất gắn liền với đất đai. Như vậy
chúng có mối quan hệ mật thiết bổ trợ lẫn nhau làm gia tăng giá trị.
1.1.2 Khái niệm về quản lý đất đai và bất động sản.
Như nghiên cứu ở trên về đất đai, chúng ta có thể khẳng định đất đai có
một vị trí đặc biệt đối với con người, xã hội, dù ở bất kì quốc gia nào và chế độ
nào. Không một quốc gia nào không có lãnh thổ, không có đất đai của mình, nơi
diễn ra mọi hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia.. Bởi thế, đất đai luôn được
coi là vốn quý của xã hội, và luôn được chú tâm gìn giữ và phát huy tiềm năng
từ đất.
Vì vậy, vấn đề quản lý đất đai và bất động sản là một vấn đề quan trọng
của các quốc gia trên thế giới . Vấn đề quản lý đất đai hay quản trị đất đai được
các nhà khoa học nghiên cứu một cách cụ thể như sau:
Quản lý đất đai (Land management) bao gồm các quy trình để sử dụng tài
nguyên đất có hiệu quả là trách nhiệm của chủ sở hữu đất. Chính phủ cũng có
mục tiêu tăng cường quản lý đất đai hiệu quả như là một phần của mục tiêu thúc
đẩy phát triển kinh tế và xã hội bền vững
Quản lý hành chính về đất đai (Land administration) liên quan đến việc
xây dựngcơ chế quản lý quyền đối với đất đai và sử dụng đất, quá trình sử
dụng đất và giá trị của đất đai thuộc thẩm quyền của chính phủ để thúc đẩy quản
lý đất đai hiệu quả, bền vững và bảo đảm quyền về tài sản.
Quản trị đất đai (Land governance) thể hiện trách nhiệm của Chính
phủ trong quản lý đất đai thông qua việc tập trung vào các vấn đề chính sách và
tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả. Quản trị đất đai có thể được hiểu
là cách chính phủ điều hành cơ chế quản lý đất đai
Quản lý Nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước
khác nhau. Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý
nền kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm công trình ngầm.
- Không gian ngầm là không gian được tạo ra hay sử dụng dưới mặt đất, nó
có thể được hình thành bởi quá trình tự nhiên (các hang động tự nhiên,…) hoặc
bởi sự tác động của con người (các công trình ngầm).
Công trình ngầm đô thị là những công trình được xây dựng dưới mặt đất
tại đô thị bao gồm: công trình công cộng ngầm, các công trình đầu mối kĩ thuật
ngầm và phần ngầm của các công trình xây dựng trên mặt đất, công trình đường
dây, cáp, đường ống kĩ thuật ngầm, hào.
8
- Công trình ngầm là những công trình đặt sâu trong lòng đất mà lớp đất
phía trên nó không bị phá hoại và có ít nhất một lối thông lên mặt đất.
+ Định nghĩa trên chỉ có tính chất tương đối, trong thực tế có rất nhiều
công trình ngầm được xây dựng theo kiểu đào lộ thiên, sau đó lấp đi, đó thường
là các công trình ngầm đặt nông được gọi là công trình ngầm kiểu đào ( giống
công sự), với chiều dày lớp đất phía trên thậm chí lên hàng chục mét.
- Kết cấu chịu lực của công trình ngầm là kết cấu chống đỡ thường gọi là
kết cấu công trình ngầm,vỏ hầm, hay lớp lát, vỉ chống, áo hầm...
Hay công trình ngầm được hiểu là một khoảng không gian trống được khi
thi công xây dựng trong lòng vỏ trái đất (kể cả trong nước và dưới nước). Cho
đến nay có nhiều loại công trình ngầm, với các mục tiêu hay chức năng sử dụng
khác nhau. Tùy theo mục đích và chức năng sử dụng có thể phân ra các loại:
Công trình ngầm đô thị chủ yếu gồm:
-
-
cho các công trình xây dựng trong đô thị, nhất là các khu vực còn khống chế
tầng cao, mật độ và quy định chặt chẽ về cảnh quan.
Thứ ba, công trình ngầm góp phần nâng cao thu nhập cho các công trình.
Tuy nằm sâu dưới lòng đất, nhưng giá thuê mặt bằng bán lẻ tại những dự án
dưới lòng đất không rẻ, đắt tương đương với mặt bằng trên mặt đất, đặc biệt ở
những khu đất có vị trí đẹp đặc biệt là khu vực trung tâm thành phố. Vì vậy, đầu
tư, khai thác, xây dựng công trình ngầm giúp mở rộng không gian kinh doanh
mới, thêm mặt bằng để mở rộng mạng lưới hoạt động cho các doanh nghiệp.
Thứ tư, khai thác, sử dụng công trình ngầm làm giảm áp lực với cảnh
quan, môi trường trên mặt đất. Đây cũng là nơi đặt hầu hết các hệ thống hạ tầng
kỹ thuật đồng bộ, cung cấp toàn bộ dịch vụ hạ tầng sống còn trong đô thị. Trong
khi các con đường giao thông Việt Nam còn khá trật hẹp, nhà đất san sát, bí
bách, việc phát triển công trình ngầm góp phần giải phóng không gian trên mặt
đất cho các công trình kiến trúc và cảnh quan, để lại sự thoáng đãng, tĩnh lặng
hơn, tạo điều kiện cho các quy hoạch trên mặt đất có quy mô, chất lượng hơn.
Thứ năm, các không gian thương mại và công cộng ngầm trong đô thị
làm tăng công suất hoạt động của không gian trung tâm. Tăng cường tiện nghi,
giảm bất lợi của thời tiết, khí hậu đến hoạt động đô thị
Thứ sáu, công trình ngầm giúp tiết kiệm năng lượng. Trong khi lòng đất
là một thế giới yên tĩnh, ổn định, rất ít bị ô nhiễm tiếng ồn, mùa đông lại ấm,
mùa hè lại mát, rất thích hợp xây dựng nhà ở, chúng ta cũng có thể tận dụng việc
chuyển đổi năng lượng từ đất phục vụ cho các hoạt động của con người thay vì
nhiệt điện hay năng lượng mặt trời.
Như vậy, công trình ngầm có những tác động tích cực, phát triển lĩnh vực
này dẫn tới một bước ngoặt mới đối với nền kinh tế Việt Nam để mỗi tấc đất là
một tấc vàng thực sự.
10
11
triển không gain ngầm, quy hoạch sử dụng đất công trình ngầm hoặc quy hoạch
xây dựng công trình ngầm được cơ quan nhà nước có phẩm quyền phê duyệt.
- Công trình ngầm là một phần của không gian ngầm được xây dựng công
trình ổn định dưới mặt đất nhằm phục vụ một mục đích nào đó của con người.
- Nhà nước giao đất không gian ngầm là việc nhà nước trao quyền sử
dụng dất không gian ngầm bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu
cầu sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm.
- Nhà nước cho thuê đất không gian ngầm là việc nhà nước trao quyền sử
dụng đất không gian ngầm bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
để xây dựng công trình ngầm.
- Thu hồi đất không gian ngầm là việc nhà nước ra quyết định hành chính
để thu lại quyền sử dụng đất không gian ngầm hoặc thu lại không gian ngầm đã
giao cho tổ chức, UBND xã phường thị trấn quản lí quy định…..
- Hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về sở hữu công trình ngầm. Việc cấp
giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình ngầm đang tuân theo quy định của
pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất.
- Các công trình ngầm là tầng hầm của các công trình trên mặt đất chỉ
được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho công trình trên mặt đất. Phần ngầm
được ghi nhận trong bản vẽ kiến trúc, bản đồ mặt cắt, dự án đầu tư… kèm theo,
nhưng lại không được ghi nhận trong quyền
- Trên thực tế, chưa có quy định về cấp quyền sử dụng đất đối với các
công trình độc lập mà chủ sở hữu không có bề mặt, cũng như xác định quyền và
cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công trình ngầm nằm đan xen với
móng, tầng hầm của các tòa nhà. Ngoài ra chưa có quy định về quyền đi qua của
các tuyến đường cấp điện, nước… để xử lý các vấn đề phát sinh trong sử dụng
Môi trường địa chất phức tạp: thi công công trình ngầm phải đối mặt với
thách thức về môi trường địa chất phức tạp với các tầng đất đá có mức độ phong
hóa và cấu trúc khác nhau…chứa đựng nhiều rủi ro về cấu tạo địa tầng, động
đất, kasto cát chảy, nước ngầm…
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng: biến đổi khí hậu và
nước biển dâng tác động tới công trình ngầm làm cho việc quản lý đầu tư xây
dựng công trình ngầm cũng đặt ra nhiều vấn đề:
-
* Các hậu quả đối với điều kiện xây dựng
- Co giảm diện tích đất xây dựng;
- Làm xói lở bờ biến và nhiễm mặn nguồn nước;
- Gây khó khăn cho việc thoát nước;
- Tăng tải trọng và tăng áp lực lên công trình ngầm;
Gây lụt lội ngập nước, khả năng xâm thực cao, phá hủy các công trình xây dựng.
13
Những ảnh hưởng của điều kiện môi trường tự nhiên ảnh hưởng công
trình xây dựng ngầm sẽ đặt ra yêu cầu đối với việc quản lý, xây dựng tầng hầm
của các công trình BĐS. Nhà nước cần đưa ra những quy hoạch cũng như những
biện pháp cụ thể để quản lý đảm bảo xây dựng tầng hầm phù hợp với điều kiện
môi trường, địa chất của mỗi nước.
1.3.2
Ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế xã hội
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và tốc độ đô thị hóa
và còn thiếu những tiêu chuẩn, quy chuẩn có liên quan đến xây dựng công trình
ngầm. chưa có cơ quan thống nhất quản lý công trình ngầm.
1.4 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm nước Pháp
1.4.1.1 Quy hoạch
Quy hoạch không gian ngầm được nghiên cứu từ rất sớm ( năm …..). Với
tầm nhìn phát triển đô thị hiện đại bậc nhất Châu Âu, Không gian ngầm cũng
được sử dụng rộng rãi khi xây dựng nhà ở, các toà nhà thị chính và các nhà công
cộng. Tại Pháp, không những khai thác công trình ngầm mà còn xây dựng cả
những “đô thị ngầm”. “ Thành phố phát triển hướng về phía dưới mặt đất”…
hơn thế nữa là các đô thị có sự kết hợp hài hoà, khai thác tối đa hiệu quả kinh tế
sử dụng không gian trên mặt đất và không gian ngầm ( như khu LA DEFENSE
– Paris, Pháp), thông qua việc đầu tư và khai thác hợp lý, có hiệu quả hạ tầng
đồng bộ trung gian của phần trên mặt đất và phần dưới lòng đất.
Quy hoạch khu LA DEFENSE trở thành một trung tâm tài chính, dịch vụ,
ngân hàng, khoa học kĩ thuật hiện đại (Quảng trường LA DEFENSE, một tổ hợp
lớn các công trình xây dựng, bao gồm một tuyến tàu điện ngầm, 2 tuyến giao
thông cơ giới ngầm, gara nhiều tầng chứa được 10.000 ô tô và đường đi bộ ở
trên cao, một nhóm nhà cao tầng diện tích 70 hecta ở trên cao)
1.4.1.2. Quyền sử dụng đất.
Kết hợp những quy định của pháp luật về vấn đề địa dịch, tạo nên những
mối quan hệ chặt chẽ trong sử dụng đất, những quy định về đo đạc và sở hữu.
Kinh nghiệm về sở hữu khối đối với không gian đô thị (cả nổi và ngầm)
đã được sử dụng ở đây. Khái niệm sở hữu khối có từ năm 1960 khi việc xây
dựng các toà nhà liên hợp (nhà ở, công trình công cộng…) trên nền các công
trình ngầm thuộc sở hữu Nhà nước, đòi hỏi cần giải quyết bài toán có sự tranh
chấp giữa sở hữu chung và sở hữu riêng, kết hợp với những quy định của pháp
15
Theo đó, việc khai thác sử dụng không gian ngầm đô thị phải được quy hoạch
16
thống nhất, khai thác tổng hợp, sử dụng hợp lý, quản lý theo pháp luật, kết hợp
giữa các hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, phòng ngừa thảm họa và yêu cầu
phòng không nhân dân.
1.4.2.2.Quyền sử dụng đất.
Khi khai thác sử dụng công trình ngầm phải có quyền sử dụng đất xây
dựng ngầm
Việc chứng nhận quyền sử dụng đất xây dựng ngầm phải xem xét đầy đủ
đến phát triển không gian lân cận, không làm trở ngại lẫn nhau.
Xác lập quyền sử dụng đất xây dựng ngầm phải tuân theo quy hoạch tổng
thể đô thị, quy hoạch tổng thể sử dụng đất.
Việc kiện toàn lập pháp không gian ngầm của thành phố, xác lập quy
phạm rõ ràng về quy hoạch không gian ngầm, xác lập quyền sử dụng đất xây
dựng ngầm.
Theo nguyên tắc “ Ai đầu tư thì người đó sở hữu, ai thu lợi thì người đó
duy trì”. Cho phép đơn vị xây dựng tự doanh đối với công trình ngầm hoặc do
mình đầu tư xây dựng hoặc chuyển nhượng, cho thuê theo quy định của pháp
luật.
1.4.3. Kinh nghiệm của Canada
1.4.3.1.Quy hoạch
Quy hoạch công trình ngầm phải đảm bảo 3 yếu tố : thuận lợi, đảm bảo
sức khoẻ và phúc lợi xã hội cho người dân hôm nay và trong tương lai
Quy hoạch công trình ngầm phải đảm bảo yêu cầu về môi trường và phát
triển bền vững gồm 4 yếu tố:
- Không gian ngầm đến 10m độ sâu rất hữu ích cho chức năng dịch vụ,
thương mại, tích chứa nước mưa, thông tin liên lạc. Công trình khác có thể đặt
Thành phố ngầm của Montreal được gọi là RESO (RESO là một mạng
lưới đi bộ ngầm trong nhà), với 32 km đường đi bộ và hầm đi bộ trong nhà, nằm
dưới 63 tòa nhà được nối với các ga metro, ga đường sắt và bến xe buýt. Mỗi
ngày có hơn 500.000 người đi bộ trong mạng lưới ngầm này. Trong thành phố
ngầm RESO có các công trình sau: 10 ga metro, 2 ga đường sắt và 2 bến xe
buýt; 63 tòa nhà nối kết với nhau với tổng diện tích sàn là 3,6 triệu m2; 80%
diện tích sàn văn phòng trong khu trung tâm; 35% số địa điểm kinh doanh trong
khu trung tâm (1.700 cửa hàng, 200 nhà hàng ăn uống, 37 nhà hát…); 9 khách
sạn lớn, 2 tòa nhà triển lãm; 17 bảo tàng; 10 trường đại học và cao đẳng; 1.615
căn hộ; 10.000 khu đỗ xe bên trong nhà; 190 điểm tiếp cận đi vào RESO từ các
đường phố;300 kết cấu định hướng nằm bên trong mạng lưới ngầm (Jacques
Besner, 2012).Hàng ngày mạng lưới ngầm này được mở cửa cùng thời gian với
hệ thống Metro. Các địa điểm công cộng bên trong nhà được cung cấp ánh sáng
tự nhiên và được các chủ sở hữu nâng cấp, cải thiện thường xuyên.
Các chủ đầu tư của trung tâm mua sắm không bán các cửa hàng của họ
cho các chủ sở hữu cá nhân như ở các nước khác.
1.4.3.2.Quyền sở hữu đất
Quyền sở hữu đất đi cùng với quyền sở hữu những thứ tồn tại trên dưới mặt đất.
1.4.4. Kinh nghiệm của Nhật Bản
1.4.4.1.Quyền sử dụng đất
Khi dự định xây dựng các hạng mục sử dụng đất công trình ngầm dưới
đất sử dụng vào ranh giới đất của cá nhân hay phần đất công cộng cần tuân theo
những quy định riêng. Áp dụng theo những quy định về quyền phân chia đất
trong luật dân dụng.
Quyền sở hữu đất được quy định theo pháp luật là quyền sở hữu cả phần
trên và phần ngầm của khu đất.
Nhật Bản đã ban hành quy định , một không gian ngầm công cộng ở độ
sâu dưới 40 m , theo quy định của Chính phủ có thể sử dụng không gian ngầm
vô điều kiện ở độ sâu trên 40 m.
20
(Hình 4)
(Hình 5)
1.4.5. Kinh nghiệm ở một số nước khác về quyền sử dụng đất
*CHLB Đức: Theo luật dân dụng của CHLB Đức ( điều 905) thì : Quyền
sở hữu đất là quyền sở hữu cả trên và dưới mặt đất đến tâm trái đất. Tuy nhiên,
người sở hữu đất không được cấm sự can thiệp của người khác đối với những độ
cao hay độ sâu của khu đất không mang lại lợi ích gì.Có nghĩa là đất là tài sản
chung, chỉ là một phần nào đó thuộc quyền sở hữu riêng.
* Tại Italia quyền sử hữu đất, ngoài tất cả những vật trong mảnh đất đó
còn bao gồm cả dưới lòng đất. Người sở hữu có thể đào, thi công công trình nếu
không tổn hại đến nhà bên cạnh.
* Tại Thụy Sỹ quyền sở hữu đất bao gồm cả trên không và dưới lòng đất
nếu việc sử dụng mảnh đất có lợi.
* Ở Bang Minoesota của Mỹ, những khu đất được xây dựng nhằm mục
đích phục vụ công cộng thì sẽ trả tiền bồi thường ngang bằng theo giá thị
trường, do đó dù là đất tư thì cũng có quyền sử dụng một cách cưỡng ép.
1.4.6 Bài học kinh nghiệm với Việt Nam
1.4.6.1.Quy hoạch xây dựng công trình ngầm
Khi lập quy hoạch xây dựng đô thị phải căn cứ vào nhu cầu phát triển của
thành phố để quy hoạch xây dựng đô thị ngầm. Xây dựng quy hoạch đô thị
ngầm cần phải tiến hành quy hoạch đồng bộ với quy hoạch xây dựng đô thị để
đảm bảo sự khớp nối giữa các công trình trên mặt đất thành một thể thống nhất.
Trong quy hoạch xây dựng đô thị các phương án về cơ cấu đô thị, tổ chức
phân khu chức năng cần xác định các khu vực dự kiến bố trí công trình ngầm,
22
- Quy hoạch các công trình ngầm theo độ sâu tính từ mặt đất.
1.4.6.2. Quyền sở hữu đất
Trong không gian chật hẹp của đô thị thì việc sử dụng không gian ngầm là
tất yếu. Việc khai thác không gian ngầm đô thị phụ thuộc nhiều vào quyền sở
hữu đất
- Người sử dụng đất xây dựng công trình ngầm phải đăng kí sử dụng đất và
được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không gian ngầm gắn với
quyền sở hữu không gian ngầm.
- Những công trình ngầm đã được xác lập quyền sử dụng đất cùng với công
trình trên mặt đất thì nằm ngoài phạm vi không gian ngầm của quyền sử dụng
đất xây dựng không gian ngầm mới xác lập. Quyền sử dụng đất xây dựng không
gian ngầm mới được xác lập không được làm tổn hại đến công trình ngầm đã
được thành lập trong quá trình sử dụng khai thác không gian ngầm, nếu gây tổn
hại thực tế đến công trình ngầm được thành lập thì đúng theo pháp luật thì phải
bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Không gian ngầm là có giới hạn và có thể xác định được ranh giới giữa các
khối công trình ngầm khác nhau, thông qua việc sử dụng khái niệm sở hữu khối
1.4.6.3.Tài chính
-Nhà nước có chính sách ưu đãi, khuyến khích chủ đầu tư xây dựng công
trình ngầm.
- Tiền đền bù giải phóng mặt bằng được tính theo độ sâu của công trình
ngầm .
23
CHƯƠNG 2
dựng từ năm 1868 đến năm 1873. Sau vụ đánh bom Dinh tổng thống Việt Nam
Cộng Hòa năm 1962, do không thể khôi phục lại Dinh Norodom, ông Ngô Đình
Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ. Dinh được
xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m².
Đặc biệt, Dinh Độc Lập còn được thiết kế gồm 2 tầng hầm. Toàn bộ tầng
hầm là để phục vụ cho các hoạt động quân sự và trú ẩn an toàn. Tầng thứ nhất
cách mặt đất 1m, lớp vê tông vách dày 0.6m, có thể chịu được bom 500kg, dành
cho các hoạt động quân sự bao gồm các phòng: Tham mưu tác chiến, phòng trực
của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, phòng nghỉ tạm của Tổng thống, các
phòng vô tuyến, truyền tin và phát thanh dự phòng. Tầng thứ 2 cách mặt đất
3m, lớp bê tông dày hơn 1m có thể chịu được bom 2 tấn, dùng làm nơi trú ẩn chỉ
có hành lang và các phòng nhỏ.
Đây là công trình có thiết kế, quy mô lớn, phục vụ mục đích sử dụng của
chính quyền Ngô Đình Diệm và trong giai đoạn này chưa có những quy định
pháp luật trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình ngầm của Nhà
nước.
Ngày nay, trong thời kì hòa bình việc xây dựng các công trình ngầm đã
được quan tâm hơn.Trước đây, trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, hầu
hết các đô thị chúng ta mới quan tâm đầu tư xây dựng một số công trình ngầm
đó là các tuyến đường dây điện, cáp quang, đường dây thông tin, liên lạc… và
các đường ống cấp nước, cống thoát nước, các đường ống xăng, dầu…
Trong những năm gần đây, trước yêu cầu của cuộc sống và sự phát triển
kinh tế xã hội, sự mở cửa và hội nhập vấn đề xây dựng công trình ngầm mà
trước tiên công tác ngầm hóa (hạ ngầm) đường dây đi nổi tại các đô thị đã trở
25
thành mục tiêu đòi hỏi phải thực hiện mặc dù tốn kém và phải có thời gian.
Công tác hạ ngầm nhiều công trình đường dây đi nổi tại thành phố Hà Nội,