Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác quản lí nhà nước về đất đô thị trên địa bàn thành phố hà nội lời nói đầuđất đai là tài nguyên quí giá - Pdf 30

TIỂU LUẬN:

Thực trạng và giải pháp tăng cường
công tác quản lí nhà nước về đất đô
thị trên địa bàn thành phố Hà Nội


Lời nói đầu

Đất đai là tài nguyên quí giá của mỗi quốc gia là điều kiện tồn tại và phát triển
của con người, các sinh vật khác trên trái đất đối với mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp
đất đai là nguồn tài nguyên là nguồn lực và là yếu tố đàu vào của quá trinhg sản xuất
không thể thiếu được.
Đất đai là nguồn tài nguyên, là nguồn lực có hạn, việc sử dụng tài nguyên đất
đai và phát triền kinh tế đất nước cần sử dụng một cách tiết kiệm để đảm bảo hiệu
quả cao là vấn đề vô cùng quan trọng và có ý nghĩa rất lớn.
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn và quý giá đặc biệt với thủ đô
Hà Nội để trở thành phố hiện đại xanh, sạch, đẹp và sử dụng đất đai có hiệu quả
trong tương lai, nhu cầu đất đai cho các ngành, mục đích phát triển đô thị , dân cư đô
thị đặc biệt là các loại đất của nội thành gồm 7 quận là : cầu Giầy, Đống Đa, Tây Hồ,
Ba Đình, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm. Để chuyển đổi đất đai cho mục
đích nào đó tăng lên thì mục đích khác sẽ giảm đi vì đất đai của thành phố là có hạn
về diện tích.
Vì vậy việc bố trí quản lí sử dụng đất đai cho nhu cầu chuyển đổi mục đích sử
dụng có hiệu quả hơn một cách hợp lí tạo điều kiện phát triển mọi mặt cho thành phố
là một vấn đề lớn đòi hỏi cần có kế hoạch sử dụng đất đai đô thị hợp lí .Xuất phát từ
những yêu cầu đó để góp phần hoàn thiện hơn công tác quản lí đất đô thị ở Hà Nội
hợp lí là một sinh viên thực tập tại vụ đăng kí và thống kê đất đai thuộc bộ tài nguyên
và môi trường em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác quản
lí nhà nước về đất đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội” để làm luận văn tốt
nghiệp của mình.

thông... Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp xây dựng như gạch
ngói gốm sứ...


Đất đai cùng với các điều kiện tự nhiên khác là một trong những cơ sở quan
trọng nhất để hình thành các vùng kinh tế của đất nước, nhằm khai thác và sử
dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên kinh tế xã hội của mỗi vùng đất nước.
Nhu cầu về đời sống kinh tế xã hội rất phong phú và đa dạng. Khai thác lợi thế
của mỗi vùng đất nước là một tất yếu khách quan để đáp ứng nhu cầu đó. ở nước
ta trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, cả nước có 7 vùng kinh tế – sinh thái. Mỗi
vùng có những sắc thái riêng về các điều kiện tự nhiên khác. Sử dụng đầy đủ và
hợp lý đất đai của mỗi vùng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm phát
triển kinh tế của mỗi nước.
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động sản xuất vật chất của xã hội. Tuy
vậy đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế quốc dân đất đai có vai trò khác
nhau. Đối với ngành nông nghiệp đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng, nó không
những là chỗ đứng, chỗ tựa của người lao động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn
cho cây trồng. Thông qua sự phát triển của sản xuất trồng trọt mà cung cấp thức
ăn cho gia súc, là nơi chuyển dần hầu hết tác động của con người vào cây trồng.
Vì vậy đất đai được đưa vào sử dụng là ruộng đất và tư liệu sản xuất chủ yếu
không thể thay thế được. Không có ruộng đất không thể tiến hành sản xuất kinh
doanh nông nghiệp. Ruộng đất là tư liệu sản suất chủ yếu trong nông nghiệp nó
vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động.
Ruộng đất là đối tượng lao động. Trong quá trình phát triển sản xuất xã hội,
đất đai vẫn vẫn luôn là đối tượng lao động để thu được nhiều sản phẩm. Con
người cùng với những kinh nghiệm và khả năng lao động với những phương pháp
khác nhau tác động tích cực vào ruộng đất bằng hàng loạt các quá trình như cày
bừa, làm cỏ, chăm sóc mục đích nhằm nâng cao khả năng phát triển của cây trồng.
Tăng độ mầu mỡ của đất tạo ra những điều kiện thuận lợi để sản xuất và để tăng
nông sản phẩm.

ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đất đai trở thành nguồn của cải vô


tận của con người, thông qua các hoạt đọng khai thác đất đai như trồng trọt, chăn
nuôi mà con người có thể làm ra những sản phẩm cầc thiết phục vụ nhu cầu của
con người. Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.
Không có đất đai thì không có sự tồn tại của con người ngày nay. Không có bất kỳ
ngành sản suất nào đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế
xã hội, đất đai là cơ sở là địa điểm của các làng mạc thành phố, các công trình
công nghiệp, giao thông... Đất đai cung cấp nguyên liệu cho các ngành công ngiệp
như gạch ngói, gốm sứ... Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất.
Tuy vậy đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế thì đất đai có vị trí khác nhau.
Đất đai là nguồn của cải là tài sản cố định, là thước đo nguồn lực giàu có của mỗi
con người và mỗi quốc gia. Nó là tài sản vì có thể cầm cố thế chấp, mua bán trên
thị trường, chuyển nhượng thừa kế từ đời này sang đời khác, là nguồn lực cho các
mục đích sản xuất và tiêu dùng.
Trong thời kỳ hiện nay do nhu cầu của sự phát triển mà mục tiêu là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nước ta đang đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên để đáp ứng cho các hoạt dộng và
nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Các hoạt động nói trên làm thay đổi mục đích sử
dụng đất đai. Trong khi đó đất là điều kiện quan trọng nhất của loài người. Bất kỳ
nước nào cũng cần nắm đất đai để hướng đất đai phục vụ cho lợi ích của mình.
Yêu cầu phải quản lý đất đai một cách đầy đủ chặt chẽ và sử dụng hợp lý, đầy đủ
và có hiệu quả. Cần tổng hợp số liệu về đất đai phản ánh đúng hiện trạng sử dụng
đất đai thông qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất, sử dụng hiệu quả và đúng
pháp luật. Đất đai là cơ sở cần thiết cho vịêc phân bố các nguồn lực sản xuất nhằm
sử dụng đầy đủ hợp lý lực lượng sản xuất vào khai thác khả năng của đất đai.
Đất đai là một trong những đối tượng của việc quản lý mà nó đã được Đảng
và Nhà nước quan tâm. Hiện nay công tác quản lý Nhà nước về đất đai và nhà ở
đang được tiến hành với những biện pháp để đẩy mạnh các công việc cần thiết



Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống cơ sở đất đai như chính sách
giá cả, chính sách thuế, chính sách đầu tư. Nhà nước kích thích các tổ chức, các
chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm đất đai nhằm nâng
cao khả năng sinh lợi của đất.
Thông qua việc kiểm tra giám sát quản lý và sử dụng đất đai và nhà ở Nhà
nước nắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất đai phát hiện những vi phạm và
giải quuyết những vi phạm pháp luật về đất đai.
III. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai trong đô thị:
1. Khái niệm và phân loại đất đô thị:
a. Khái niệm đất đô thị:
Đất đô thị là đất thuộc các khu vực nội thành, thị xã, thị trấn được quy hoạch
sử dụng để xây nhà ở, trụ sở của các cơ quan, các tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh
doanh, các cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và các
mục đích khắc. Ngoài ra theo quy định tại nghị định 88 CP ngày 17-8-1994 của
chính phủ về quản lý đất đô thị và đất ngoại thành, ngoại thị xã, những loại đất
này nếu đã có quy hoạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát
triển đô thị thì cũng được tính vào đất đô thị.
b. Phân loại đất đô thị:
Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đô thị được phân chia thành các loại chủ
yếu sau:
-

Đất dành cho các công trình công cộng như đường giao thông, các
công trình giao thông tĩnh, các nhà ga, bến bãi, các công trình cấp thoát
nước, các đường dây tải điện, thông tin liên lạc.

-


+ Đất đô thị phải được xây dựng cơ sở hạ tầng khi sử dụng sử dụng.
+ Mức sử dụng đất vào các công trình xây dựng phải tuân theo các tiêu chuẩn
kỹ thuật quy định.
2. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đô thị:
Quản lý Nhà nước về đất đô thị bao gồm các nội dung chính sau:
-

Điều tra, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính và định giá các loại đất
đô thị.

-

Quy hoạch xây dựng đô thị và kế hoạch sử dụng đất đô thị.

-

Giao đất cho thuê đất, thu hồi và đền bù đất đô thị.

-

Đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị.

-

Làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đô thị.


-

Thanh tra giải quyết các tranh chấp, giải quyết các khiếu lại, tố cáo và

của cả nước.
Tỉ lệ phi nông nghiệp 90% trở lên.
Quy mô dân số khoảng 1,5 triệu người.
Mật độ dân số bình quân 15 000 người/KM2
Đô thị loại 1: Là đô thị rất lớn là trung tâm kinh tế chính trị, văn hoá, xã hội
có vai trò thúc đẩy nền kinh tế.
Đô thị loại 2: Là đô thị lớn cũng là trung tâm phát triển kinh tế xã hội của đất
nước có vai trò phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ.
Đô thị loại 3: Là đô thị trung bình lớn có vai trò thúc đẩy sự phát triển của
một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với một vùng lãnh thổ.
Đô thị loại 4: là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá
xã hội hoặc chuyên ngành của các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển của tỉnh hoặc vùng trong tỉnh.
Đô thị loại 5: là đô thị nhỏ là trung tâm tổng hợp kinh tế xã hội hoặc trung
tâm chuyên ngành của các hoạt động sản xuất công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự
phát triển của một vùng.
Những thị trấn hoặc thị xã chưa xếp loại đô thị thì được đưa vào đô thị loại 6
để xá định giá đất.
Căn cứ vào phân loại đường phố trong đô thị để xác định mức độ trung tâm,
khả năng sinh lợi, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng thuận tiện trong sinh hoạt của
lô đất. Nếu một đường phố có nhiều đoạn có khả năng sinh lời, cơ sở hạ tầng khác
nhau thì giá đất được đánh giá xếp hạng với các đường phố tương đương.


Đối với những đô thị có những tiểu vùng khác nhau về điều kiện sinh lợi và
giá đất thì mỗi tiểu vùng đều phân loại đường phố theo các tiêu chuẩn riêng.
Việc quy định giá đất cụ thể do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khung
giá đất của chính phủ và giá đất thực tế ở địa phương. Nó được hình thành qua
chuyển nhượng quyền sử dụng đất , loại đô thị, loại đường phố để định giá đất cụ
thể cho mỗi lô đất.

-

Tạo lập tối ưu cho việc sử dụng các điều kiện không gian cho quá trình
sản xuất của xã hội.

-

Phát triển toàn diện tổng hợp những điều kiện sống điều kiện lao động
và những tiền đề phát triển nhân cách, quan hệ xã hội của con người.

-

Tạo lập tối ưu quá trình trao đổi giữa con người với thiên nhiên. Khai
thác và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Việc thiết kế quy hoạch đô thị thường thông qua 2-3 giai đoạn chủ yếu: xây
dựng quy hoạch sơ đồ cơ cấu phát triển đô thị, quy hoạch tổng thể và quy hoạch
chi tiết, quy hoạch phát triển cơ cấu đô thị mang tính định hướng phát triển đô thị
trong thời gian 25-30 năm. Quy hoạch tổng thể đô thị xác định rõ cấu trúc đô thị
trong thời gian 10-15 năm. Thiết kế quy hoạch chi tiết các bộ phận của đô thị là
việc cụ thể hoá hình khối không gian, đường nét, mầu sắc, kiến trúc phố. Tạo các
khu ở, vui trơi giải trí...
b. Lập kế hoạch và phân phối đất đai xây dựng đô thị
Việc lập kế hoạch và phân bố đất đai có thể chia thành các nhóm chính sau:
-

Đất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung: bao gồm đất để xây
dựng các công trình sản xuất, kho tàng các xí nghiệp dịch vụ sản xuất,
hành chính quản lí, đào tạo nghiên cứu, giao thông.


a. Giao đất:
Các tổ chức và cá nhân có nhu ccầu sử dụng đất đô thị vào các mục đích đã
được phê duyệt có thể lập hồ sơ xin giao đất để sử dụng vào mục đích đó.
Hố sơ xin giao đất bao gồm:
-

Đơn xin giao đất.

-

Dự án đầu tư xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt.

-

Bản đồ địa chính hoặc hiện trạng khu đất xin giao.

-

Phương án đền bù.

Thẩm quyền quyết định việc giao đất đô thị.


Hồ sơ trên được gởi đến cơ quan địa chính có thẩm quyền để thẩm tra và
trình uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền giao đất của chính phủ thì tổng cục địa
chính và uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình chính phủ
quyết định.
* Trách nhiệm tổ trức thực hiện quyết định giao đất đô thị:


Đơn xin thuê đất

-

Thiết kế sơ bộ mặt bằng khu đất kèm theo thuyết minh.

-

Bản đồ địa chính khu đất xin thuê

-

Giới thiệu địa điểm của kiến trúc sư trưởng thành phố hoặc sơ đồ xây
dựng

Đối với việc xin thuê đất để xây dựng các công trình cố định, việc xin thuê
đất được tiến hành theo các như các thủ tục xin giao đất.
* Hợp đồng thuê đất:
Sau khi có quyết định cho thuê, cơ quan nhà nước được uỷ quyền tiến hành
ký hợp đồng với bên thuê đất
Người thuê đất cần thực hiện
- Sử dụng đất đúng mục đích
- Nộp tiền thuê đất, lệ phí địa chính theo đúng quy định của pháp luật
- Thực hiện đúng hợp đồng thuê đất
Hết thời hạn thuê đất người thuê bàn giao lại khu đất với hiện trạng mặt bằng
như cũ.


2.4 Đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị

Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Các giấy tờ hợp lệ chứng minh quyền sử dụng đất
Nếu không có đủ giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng hợp pháp thì cơ quan tiếp
nhận hồ sơ phải thông báo liên tục trên các phương tiện truyền thông, báo chí địa
phương sau 30 ngày không có ý kiến tranh chấp thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xem xét giải quyết.
- Sơ đồ lô đất xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị theo quy định hiện
nay uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận
qyuền sử dụng đất cho các tổ chức, các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của địa
phương. Uỷ ban nhân dân các quận huyện cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình
và cá nhân. Cơ quan quản lý nhà đất và địa chính giúp uỷ ban nhân dân tỉnh tổ
chức thực hiện việc đăng ký, xét, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ gốc và quản lý hồ
sơ về sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị.
2.5 Chuyển quyền sử dụng đất đô thị
chuyển quyền sử dụng đất được hiểu là việc người có quyền sử dụng đất hợp
pháp chuyển giao đất, và quyền sử dụng đất cho người khác tuân theo cac quy định
vảu bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
Sự thay đổi chuyển dịch quyền sử dụng đất là sự vận động bình thường, tất
yếu thường xuyên của cuộc sống xã hội nhất là trong thời kỳ của nền kinh tế thị
trường. Vì vậy công tác quản lý đất đai phải thường xuyên nắm bắt cập nhật được
các biến động của chủ sở hữu để bảo đảm chính đáng của người chủ sử dụng mặt
khác tạo điều kiện tăng cường công tác quản lý đất đai được kịp thời chính xác hơn


nữa còn ngăn chặn việc tự do chuyển nhượng để đầu cơ kiếm lời tăng nguồn thu tài
chính thích đáng với các hoạt động buôn bán đất đai.
Chuyển quyền sử dụng đất theo pháp luật có 5 hình thức:
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử dụng đất trong

quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Trong thời hạn còn được quyền sử dụng đất và chỉ được chuyển quyền sử
dụng đất trong thời hạn được quyền sử dụng còn lại.
- Phải tuân thủ các quy định của bộ luật dân sự và luật đất đai. Đất chuyển
quyền sử dụng không thuộc diện thu hồi, không thuộc khu vực có quy hoạch không
có tranh chấp vào thời điểm chuyển quyền sư dụng đất.
2.6 Thu hồi và đền bù khi thu hồi đất đô thị
a. Thu hồi đất xây dựng và phát triển đô thị
để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đô thị Nhà nước có quyền thu hồi
phần diện tích đất đai đã giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng hiện đang nằm trong
vùng quy hoạch xây dựng phát triển đô thị
Khi thu hồi đất đang có người sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng,
các công trình lợi ích chung thực hiện việc cải tạo và xây dựng đô thị theo quy
hoạch và các dự án đã được phê duyệt thì phải có quyết định thu hồi đất của cơ
quan có thẩm quyền.
Trước khi thu hồi đất, cơ quan nhà nươc phải thông báo cho người đang sử
dụng đất biết về lý do thu hồi, kế hoạch di chuyển và phương án đền bù thiệt hại về
đất đai và tài sản gắn với đất.
Người đang sử dụng đất bị thu hồi phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định
thu hồi đất nếu cố tình không chấp hành thì có thể bị cưỡng chế di chuyển ra khỏi
khu đất đó. Khi thu hồi đất các cơ quan nhà nước phải thực hiện các dự án di dân,
giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện sinh hoạt când thiết và ổn định cuộc sống cho
người có đất bị thu hồi. Đối với trường hợp các tổ chức cá nhân tự nguyện chuyển


nhượng thừa kế, biếu tặng và chuyển đổi quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
hợp pháp thì việc đền bù, di chuyển và giải phóng mặt bằng do hai bên thoả thuận.
b. Đền bù thu hồi đất đô thị. Đối tượng: các hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất hợp pháp, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội đang sử dụng đất
hợp pháp và đã nộp tiền sử dụng đất mà tiền đó không thuộc vốn ngân sách

- Trnh chấp về tài sản gắn liền đất đai
b. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai
Theo quy định tại điều 38 Luật đất đai thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp
về đất thuộc uỷ ban nhân dân và toà án nhân dân các cấp.
Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng
đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ chứng nhận quyền của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
- Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, giải quyết các
tranh chấp giữa cá nhân, hộ gia đình với các tổ chức nếu các tổ chức đó thuộc
quyền quản lý của mình
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết các tranh
chấp giữa tổ chức với tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân nếu tổ chức đó
thuộc quyền quản lý của mình hoặc trung ương.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương giải quyết tranh chấp
giữa tổ chức với tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân nếu các tổ chức đó
thuộc quyền quản lý của mình hoặc trung ương.


- Trong trường hợp không đồng ý với quyết đinh của uỷ ban nhân dân đã giải
quyết tranh chấp đương sự có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính nhà nước
cấp trên. Quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành
* Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của toà án nhân dân.
Toà án nhân giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất đã có giấy chứng
nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gứn liền với
việc sử dụng đất đó.
Viêc giải quyết xét xử các tranh chấp về đất đai được thực hiện theo các thủ
tục và các quy định pháp luật hiện hành.
Trên đây là 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đô thị nố đảm bảo cho công
tác quản lý của nhà nước ngày một có hiệu quả hơn và nâng cao năng lực của các
cơ quan quản lý.

chế xuất đội ngũ công nhân có tay nghề tăng cao dẫn đến thu nhập tăng đời sống
được cải thiện và họ hoàn toàn có thể mua nhà, đất ở các đô thị vì vậy qua trình đô
thị hoá ngày một phát triển.Số lượng dân cư tăng cao nhu cầu về đất ở, nhà càng
tăng cao ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước như việc thường xuyên phải tập
hợp các thông tin về biến động đất đô thị quỹ đất. Cập nhật vào bản đồ địa chính
các thông tin về thay đổi diện tích đất đô thị, sang tên đổi chủ, ảnh hưởng đến việc
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thanh tra, kiêm tra, giám sát giải quyết các khiếu
nại tố cáo.
Tóm lại quá trình đô thị hoá ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về đất
đô thị. Đảng và Nhà nước cần có những biện pháp thích hợp để có thể nắm bắt để
điều chỉnh quá trình đô thị hoá.
Trong hơn mười năm đổi mới kinh tế nước ta tăng trưởng trung bình hơn 8%
điều này làm cho quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng hầu hết các đô thị đều
được mở rộng. Hiện nay nước ta có hơn 500 thành phố và thị xã lớn nhỏ diện tích


Trích đoạn Đánh giá phân hạng đất Kiến nghị với các cơ quan hữu quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status