Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên - Pdf 20

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1.1.1. Khái niệm môi trường 3
1.2 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về môi trường 7
1.2.1. Khái niệm về quản lý môi trường 7
1.3.2. Cơ sở kinh tế 12
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới
sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ
sẽ được tiêu thụ nhanh. Trong khi đó loại hàng hóa kém chât lượng và đắt sẽ không có chỗ
đứng. Hàng hóa công cộng là hàng hóa được dùng cho nhiều người, khi chúng cung cấp
cho một số người thì những người khác cũng có thể sử dụng được. Môi trường là loại hàng
hóa công cộng, có hai thuộc tính là không cạnh tranh và không loại trừ. Vì vậy, chúng ta có
thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động sản
xuất để có lợi cho công tác bảo vệ môi trường 12
1.3.3. Cơ sở pháp luật 13
1.4. Công tác quản lý nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam 16
1.4.1. Các hoạt động quốc tế về môi trường 16
1.4.3. Công tác quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam 28
Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường của Việt Nam [8].
31
1.4.4. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32
1.4.5. Công tác quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Thái Nguyên 36
Duy trì thực hiện chương trình quan trắc môi trường định kỳ 6lần/năm tại 105 điểm. Kết
quả quan trắc môi trường đã theo dõi diễn biến chất lượng môi trường trên địa bàn toàn
tỉnh; phát hiện và xử lý kịp thời các khu vực bị ô nhiễm môi trường và thực hiện nghĩa

DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1.1.1. Khái niệm môi trường 3
1.2 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về môi trường 7
1.2.1. Khái niệm về quản lý môi trường 7
1.3.2. Cơ sở kinh tế 12
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới
sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ
sẽ được tiêu thụ nhanh. Trong khi đó loại hàng hóa kém chât lượng và đắt sẽ không có chỗ
đứng. Hàng hóa công cộng là hàng hóa được dùng cho nhiều người, khi chúng cung cấp
cho một số người thì những người khác cũng có thể sử dụng được. Môi trường là loại hàng
hóa công cộng, có hai thuộc tính là không cạnh tranh và không loại trừ. Vì vậy, chúng ta có
thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động sản
xuất để có lợi cho công tác bảo vệ môi trường 12
1.3.3. Cơ sở pháp luật 13
1.3.3. Cơ sở pháp luật 13
1.4. Công tác quản lý nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam 16
1.4. Công tác quản lý nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam 16
1.4.1. Các hoạt động quốc tế về môi trường 16
1.4.3. Công tác quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam 28
Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường của Việt Nam [8].
31
Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường của Việt Nam [8].
31
1.4.4. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32
1.4.4. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32
1.4.5. Công tác quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Thái Nguyên 36
1.4.5. Công tác quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Thái Nguyên 36
Duy trì thực hiện chương trình quan trắc môi trường định kỳ 6lần/năm tại 105 điểm. Kết
quả quan trắc môi trường đã theo dõi diễn biến chất lượng môi trường trên địa bàn toàn

1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khí
hậu (BĐKH) đã trở thành chủ đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của hầu hết
các quốc gia, đặc biệt là những nước đã và đang chịu tác động nặng nề của ô
nhiễm môi trường và BĐKH. Đây cũng là những chủ đề của các hội nghị
quốc tế lớn với sự tham dự của nhiều nguyên thủ quốc gia.
Có thể nói rằng, chưa bao giờ Đảng, Nhà nước và toàn dân quan tâm
đến môi trường, ô nhiễm môi trường và BĐKH như hiện nay. Ô nhiễm môi
trường tại các làng nghề, các khu công nghiệp, các cơ sở y tế, dịch vụ là
nguồn gốc gây ô nhiễm các lưu vực sông chính như sông Cầu, sông Nhụê -
sông Đáy, sông Đồng Nai - sông Sài Gòn. Ô nhiễm nước, ô nhiễm đất và ô
nhiễm không khí đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống tinh thần và sức
khoẻ của con người. Trong khi đó, nhận thức và nhu cầu có một môi trường
trong sạch của mỗi người dân ngày càng cao. Môi trường đã tác động, đã gắn
bó với cuộc sống thường ngày của người dân như cơm ăn, áo mặc, như giáo
dục và y tế. Những điều này yêu cầu chúng ta phải quan tâm niều hơn, tích
cực hơn và hiệu quả hơn đối với các vấn đề môi trường.
Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức đúng về môi trường, BVMT và
BĐKH. Thấu suốt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI,
cũng như nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, ngành TN&MT đã triển
khai đồng bộ và tích cực hệ thống các giải pháp để BVMT, chủ động ứng phó
với BĐKH, bảo đảm phát triển bền vững trên qui mô toàn quốc.
Đồng Hỷ là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái
Nguyên, những năm gần đây cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, kinh tế của huyện ngày càng phát triển kéo theo đó là các vấn
đề môi trường, vì thế công tác quản lý nhà nước về môi trường ngày càng
được quan tâm.
1
Để hiểu rõ hơn thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường tại

2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề chung về môi trường
1.1.1. Khái niệm môi trường
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và sinh vật.
Theo cách phân chia tương đối theo nguồn gốc thì môi trường được
quan niệm thành 3 dạng là môi trường tự nhiên, xã hội và nhân tạo:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, còn được
gọi là môi trường vật lý, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người.
+ Môi trường vật lý (Physical environment): để chỉ các yếu tố nhiệt độ,
bức xạ, áp suất khí quyển, màu, mùi, vị
+ Môi trường hoá học (Chemical environment) : chỉ những nguyên tố
và các hợp chất hoá học. Đây là dạng môi trường “vô sinh” (abiotic).
+ Môi trường sinh học (Biological environment): gồm động vật, thực
vật, vi sinh vật. Đây là dạng “biotic”.
Khái niệm “môi trường sinh thái” được sử dụng nhiều vì suy cho cùng
mọi vấn đề môi trường đều do nguyên nhân suy giảm sinh thái.
- Môi trường xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa con người và con
người tạo nên sự thuận lợi hay cản trở cho sự phát triển xã hội.
- Môi trường nhân tạo: môi trường của tất cả các yếu tố vât lý - hoá học
- sinh học và xã hội, chịu sự chi phối của con người và sự biến đổi do hoạt
động của con người. Ví dụ: những toà nhà - những khối bê tông khổng lồ đặc
biệt ở các “trade center” ở các nước phát triển.
Ngoài cách phân loại dựa trên nguồn gốc ở trên, môi trường còn có thể
được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
3
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng quan các nhân tố như không khí,

2. Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc
sống và các hoạt động sản xuất của con người:
Môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng
“đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống. Hoạt động sản xuất là một
quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc,
đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản
phẩm hàng hóa. Có những nguồn tài nguyên có thể sử dụng trực tiếp (thuỷ,
hải sản ), có dạng phải tác động thì mới sản xuất được của cải vật chất phục
vụ đời sống con người (đất đai ). Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta
cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại,
cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết Những dạng vật chất
trên chính là các yếu tố môi trường.
Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả sức lao
động là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con
người. Hay nói cách khác: môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra
nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu
con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân
bằng tự nhiên.
3. Môi trường là nơi chứa đựng và hoá giải các chất thải do con người
tạo ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất:
Bên cạnh vai trò “đầu vào”, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa
đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và
đời sống. Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải(cả khí thải,
nước thải, chất thải rắn). Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc
hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường. Quá trình
sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều
chất thải. Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm
5
môi trường nghiêm trọng. Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được

khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, “Ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. Trên thế giới,
ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng
vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự
phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô
nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất
thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng
như nhiệt độ, bức xạ.Tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học,
sinh học gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác. Ô
nhiễm môi trường là do con người và cách quản lý của con người [9].
1.2 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về môi trường
1.2.1. Khái niệm về quản lý môi trường
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có
tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ
thống và kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên
quan tới con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự phát
triển bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên [12].
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có
tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ
thống và kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề về môi trường có
liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự
phát triển bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.2.2. Nội dung của QLNN về môi trường [12]
- Ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường;
7
- Ban hành hệ thống tiêu chuẩn và bộ chỉ thị về môi trường; thẩm định,
phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM);
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia về bảo
vệ môi trường;

chỉnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Phát triển đất nước theo nguyên tắc phát triển bền vững được Hội
nghị Thượng đỉnh về Môi trường và phát triển bền vững tại Rio de Janneiro
(Braxin) tháng 6/1992 thông qua.
1.2.4. Các nguyên tắc của quản lý môi trường
Để xây dựng xã hội phát triển bền vững, các nhà môi trường đế ra 9
nguyên tắc bảo vệ môi trường. Những nguyên tắc này bao gồm [8]:
- Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng
- Cải thiện và năng cao chất lượng cuộc sống con người
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
- Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm tài nguyên không tái tạo
- Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất
- Thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức vì sự phát triển bền vững
- Tạo điều kiện để cộng đồng tự QLMT của mình
- Tạo cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển bền vững
- Xây dựng khối liên minh toàn thế giới về bảo vệ và phát triển bền
vững. Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của
một thế giới vốn nhiều biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa. Sau RIO-92,
đã có thêm rất nhiều cố gắng mới trong nghiên cứu các nguyên tắc phát triển
bền vững, nhằm mục tiêu bổ sung hoàn thiện, hoặc chi tiết hóa làm rõ nghĩa
hơn, hoặc giản lược hóa, làm cho nó dễ hiểu và dễ áp dụng hơn. Một trong
những cố gắng theo hướng giản lược các nguyên tắc của phát triển bền vững
9
đã được thực hiện bới Luc Hens, một giáo sư ngành sinh thái nhân văn học
người Bỉ. Đó là các nguyên tắc:
- Sự ủy thác của nhân dân;
- Phòng ngừa;
- Bình đẳng giữa các thế hệ;
- Bình đẳng trong nội bộ một thế hệ;
- Phân quyền và ủy quyền;

trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm. Người sử
dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó.
1.3. Các cơ sở của quản lý nhà nước về môi trường
1.3.1. Cơ sở khoa học
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi
trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các
phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình
thành và phát triển ngành khoa học môi trường. Nhờ sự tập trung quan tâm
cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay
nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn
thành các giáo trình, chuyên khảo. Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương
pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt
động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh,
ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường
như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên
thế giới.
11
Tóm lại, quản lý môi trường cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ
thống tự nhiên - con người - xã hội đã được phát triển trên nền phát triển của
các bộ môn chuyên ngành [5].
1.3.2. Cơ sở kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải
vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng
hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh. Trong khi đó
loại hàng hóa kém chât lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Hàng hóa công
cộng là hàng hóa được dùng cho nhiều người, khi chúng cung cấp cho một số
người thì những người khác cũng có thể sử dụng được. Môi trường là loại

văn bản về luật quốc tế về môi trường [14].
Trong đó có nhiều các văn bản đã được Việt Nam tham gia ký kết, gồm:
+ Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt
là các loài chim cư trú các loài chim nước (RAMSA) “20/9/1988”.
+ Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiên
(19/10/1982).
+ Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có
nguy cơ bị đe dọa (20/1/1994).
+ Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL)
“29/8/1991”.
+ Công ước liên hiệp quốc về sự biến đổi môi trường.
+ Công ước về bảo vệ tầng ozon (13/5/1995).
+ Công ước về sự thông báo sớm về sự cố hạt nhân IAEA (29/9/87).
+ Công ước khung của liên hiệp quốc về sự biến đổi khí hập, 1992
(16/11/1994).
+ Công ước về đa dạng sinh học, 1992 (16/1/1994).
13
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ
luật. Gần đây, nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản mới có liên quan đến
vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường như:
+ Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005.
+ Thông tư 103 ngày 30/11/2005 của bộ tài chính hướng dẫn thực hiện
nghị định số 107/2005/NĐ – CP ngày 09/11/2005 của chính phủ về phí
BVMT đối với khai thác khoáng sản.
+ Quyết định của thủ tướng chính phủ số 328/2005 QĐ – TTg ngày
12/12/2005 về việc phê duyệt kê hoạch quốc gia kiểm soát môi trường đến năm 2010.
+ Nghị quyết liên tịch 01/2005/NQTL – HPN – BTNMT về việc phối
hợp hành động BVMT phục vụ phát triển bền vững.
+ Nghị định số 117/2009/NĐ – CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT (Thay thế nghị định

+ Luật Hàng hải
+ Luật Đất đai
+ Luật Dầu khí
+ Luật Khoáng sản
+ Luật bảo vệ và phát triển rừng
+ Luật Lao động
+ Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân
+ Pháp lệnh về đê điều
+ Pháp lệnh về bảo vệ nguồn thuỷ sản
+Pháp lệnh bảo vệ các công trình giao thông
+ Luật Tài nguyên nước
+ Luật thuế môi trường
+ Luật Bảo vệ đa dạng sinh học
+ Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
15
1.4. Công tác quản lý nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Các hoạt động quốc tế về môi trường
Trên thế giới các vấn đề môi trường toàn cầu, khu vực, quốc gia đang
trở lên cấp bách. Hội nghị thượng đỉnh môi trường toàn cầu 5/6/1972 với tiêu
đề “Môi trường con người” (Human Environment) ở Stockhom, đã nêu những
vấn đề môi trường toàn cầu, báo động cho toàn thế giới 7 vấn đề môi trường
cấp thiết:
1. Hiện tượng hiệu ứng nhà kính và nóng lên của Trái đất.
2. Suy thoái rừng và mất đa dạng sinh học.
3. Suy thoái đất và hoang mạc hoá.
4. Lỗ thủng tầng ôzôn.
5. Quá trình suy thoái và ô nhiễm môi trường biển.
6. Ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp.
7. Rác thải và các chất tồn lưu [4].
Thế giới đã lấy ngày 5/6 hàng năm làm ngày Môi trường toàn cầu với

- Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã có
nguy cơ diệt chủng (1/1994).
- Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ô zôn (1994)
- Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tần ô zôn
(1/1994) công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (16/11/1994).
- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hại qua biên
giới và việc tiêu hủy chúng (3/1995).
- Công ước chống hoang mạc hóa.
- Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
(6/2002).
- Nghị định thư Kyoto (25/9/2003).
17
- Nghị định thư Cartahena về an toàn sinh học của công ước đa dạng
sinh học (01/2004).
- Công ước Rotterdam về các thủ tục thỏa thuận thông báo trước một số
hóa chất và thuốc trừ sâu nguy hại trong thương mại quốc tế (PIC – có hiệu
lực từ ngày 5/8/2007) [8].
1.4.2. Kinh nghiệm quản lý môi trường của nước ngoài
1.4.2.1. Kinh nghiệm về quản lý ô nhiễm hồ Laguna ở Philipin
Philipin là một quốc gia nằm ở phía Tây biển Thái Bình Dương trong
khu vực Đông Nam Á, được cấu thành từ 7.107 hòn đảo với đường bờ biển
dài 36.000 km và là quốc gia nổi tiếng về chủng loại thủy hải sản và các sản
phẩm từ nghề cá. Hồ Laguna là hồ nước ngọt lớn nhất của Philipin và lớn thứ
ba tại Đông Nam Á với diện tích mặt hồ là 949 km2 và chiều sâu là 2m. Hồ
được cung cấp nước bởi một lưu vực rộng 45.000 km2 với 21 phụ lưu chính,
trong đó, sông Pagsaryan chiếm 35% lượng nước và sông Santa Cruz chiếm
15%. Hồ được sử dụng cho các mục đích khác nhau như tưới tiêu, giao thông
đường thủy, chứa nước lũ, nước thải, cung cấp nước làm mát trong sản xuất
công nghiệp, cấp nước, thủy điện, giải trí và nuôi cá.
Với vai trò và ý nghĩa quan trọng như vậy nên công tác BVMT, quản lý

đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ có xả thải vào hồ Laguna thì
trách nhiệm quản lý xả thải đó thuộc về LLDA, còn trách nhiệm quản lý khí
thải, chất thải rắn thì thuộc về các cơ quản lý môi trường. LLDA có thể kết
hợp với cơ quan quản lý môi trường tiến hành thanh tra, kiểm tra cơ sở hoặc
cũng có thể tiến hành thanh tra, kiểm tra độc lập.
Nhìn chung, mô hình hoạt động của LLDA có những nét tương đồng
với mô hình hoạt động của một đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam, song cũng có
những điểm khác biệt. Sự tương đồng thể hiện ở các điểm: Thứ nhất, LLDA
cũng đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể ở
19

Trích đoạn Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Đồng Hỷ tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status