Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện lạng giang, tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


LƯƠNG VĂN BƯỜNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO VÀ TRANH CHẤP VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.HỒ THỊ LAM TRÀ HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

tập tại trường và viết luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn cô giáo, PGS.TS. Hồ Thị Lam Trà, người
hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo đã giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn
thành luận văn này.
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới cán bộ các phòng ban thuộc: Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Bắc Giang; Uỷ ban nhân dân huyện, Thanh tra huyện, phòng
Tài nguyên và Môi trường huyện Lạng Giang; Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn;
Cán bộ và nhân dân trên địa bàn nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình
thu thập số liệu.
Tôi xin cảm ơn cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên giúp
đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành đề tài này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Lương Văn Bường

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1

2.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32
2.4.3 Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý
nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lạng Giang 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lạng Giang 35
3.1.2 Công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 36
3.2 Khái quát tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa
bàn huyện Lạng Giang 41
3.2.1 Tình hình KNTC, TCĐĐ 41
3.2.2 Các nội dung KNTC và TCĐĐ 46
3.2.3 Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 49
3.3 Đánh giá kết quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp
đất đai trên địa bàn huyện 55
3.3.1 Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật đối
với công tác giải quyết KNTC và TCĐĐ 55
3.3.2 Hiện trạng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân, giải
quyết đơn thư KNTC 57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.3.3 Đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về giải quyết
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan
HCNN 62
3.3.4 Kết quả cụ thể về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai
trên địa bàn huyện Lạng Giang 64

Phụ lục 99

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Cụm từ được viết tắt
CBCC Cán bộ công chức
CNTT Công nghệ thông tin
GCNQSD

Giấy chứng nhận quyền sử dụng
GPMB Giải phóng mặt bằng
GTSX Giá trị sản xuất
HCNN Hành chính nhà nước
HĐND Hội đồng nhân dân
HVHC Hành vi hành chính
KNTC Khiếu nại, tố cáo
QĐHC Quyết định hành chính
QPPL Quy phạm pháp luật
QSDĐ Quyền sử dụng đất
TCĐĐ Tranh chấp đất đai
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND

Uỷ ban nhân dân
VPPL Vi phạm pháp luật

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT Tên hình Trang

1.1 Sơ đồ về giải quyết khiếu nại các QĐHC, hành vi hành chính (các
quyết định, hành vi hành chính theo Điều 162 Nghị định
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004) 22
1.2 Sơ đồ về giải quyết khiếu nại các QĐHC, hành vi hành chính theo
pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại (các quyết định, hành vi
từ cấp tỉnh trở xuống) 23
3.1 Bản đồ hành chính huyện Lạng Giang 35
3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Lạng Giang năm 2013 37
3.3 Kết quả giải quyết đơn thư KNTC giai đoạn 2009 - 2013 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại tố cáo (KNTC) là quyền cơ bản của công dân, là một trong
những phương thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy Nhà
nước. Đồng thời, tổ chức thực hiện tốt quyền này là cơ sở để củng cố mối quan
hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. KNTC được quy định trong Hiến pháp,
là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm

giải quyết một cách triệt để.
Giải quyết KNTC và TCĐĐ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong
công tác quản lý nhà nước về đất đai. Kết quả giải quyết tranh chấp, KNTC góp phần
ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đảm bảo pháp chế xã
hội chủ nghĩa, kỷ luật trong quản lý nhà nước và là phương thức để bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, việc tăng
cường công tác giải quyết KNTC, TCĐĐ của các cơ quan HCNN là rất cần thiết.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật KNTC, xuất phát
từ thực tiễn công tác giải quyết KNTC, TCĐĐ trên địa bàn huyện Lạng Giang,
để góp phần đổi mới, tăng cường công tác giải quyết KNTC, TCĐĐ và công tác
quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lạng Giang, chúng tôi chọn đề
tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường công tác giải quyết
KNTC và TCĐĐ trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài
nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý đất đai.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình giải quyết KNTC, tranh chấp về đất đai và đánh giá thực
trạng công tác giải quyết đơn thư, KNTC về đất đai trên địa bàn huyện Lạng Giang từ
01/01/2009 đến 31/12/2013, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để tăng cường công
tác giải quyết KNTC, TCĐĐ trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo, góp phần
tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lạng Giang.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đảm bảo tính chính xác, khách quan của số liệu thu thập được.
- Những giải pháp, kiến nghị, đề xuất phải phù hợp với thực tế tại
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

địa phương.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4


Page 5

quyền khiếu nại của công dân. Tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi
người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về
những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, GQKN, tố cáo, người bị thiệt hại có quyền
được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của
pháp luật; nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền
khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Dưới góc độ pháp lý tại Điều 2 Luật KNTC năm 1998 (Sửa đổi, bổ sung năm
2004 và 2005); Luật khiếu nại năm 2011 thì: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan,
tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QĐHC, hành vi hành chính của
cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN hoặc quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Tại Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 giải thích một số khái niệm có liên
quan đến khiếu nại, cụ thể:
Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
thực hiện quyền khiếu nại.
Người bị khiếu nại là cơ quan HCNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ
quan HCNN có QĐHC, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại.
Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại.
Quyết định hành chính (QĐHC) là văn bản do cơ quan HCNN hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan HCNN ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể
trong hoạt động quản lý HCNN được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối
tượng cụ thể.
Hành vi hành chính (HVHC) là hành vi của cơ quan HCNN, của người có

1.1.2.1. Khái niệm tố cáo
Tố cáo là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Tố cáo
được quan niệm khác nhau tùy theo mức độ, phạm vi, đối tượng tố cáo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Dưới góc độ xã hội thì tố cáo thể hiện sự bất bình của người này về hành vi
của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức và người khác biết để có thái độ, biện
pháp giải quyết. Tố cáo phản ánh những điều bất ổn trong xã hội cần được thiết chế
chính trị - xã hội có phương thức giải quyết.
Dưới góc độ chính trị - pháp lý, tố cáo là quyền của công dân, là phương
thức để công dân giám sát quyền lực nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã
hội và công dân.
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, tố cáo là “vạch rõ tội lỗi của
người khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận”, theo nghĩa này, tố
cáo hướng tới tất cả mọi sự vi phạm, có thể là vi phạm pháp luật hoặc đạo
đức, tập quán, điều lệ… Theo Nguyễn Lân (2006), “tố” là vạch tội, “cáo” là
báo cho người khác biết, tố cáo là vạch tội của người nào cho mọi người biết.
Theo Ngọc Xuân Quỳnh (2009), tố cáo là “nói rõ việc làm sai trái của ai trước
cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận”.
Theo khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm “Tố cáo là việc công dân theo thủ
tục do luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại
lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.
Như vậy, tố cáo thực chất là việc công dân phát hiện và thông báo chính thức với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật nào đó diễn ra
trong đời sống xã hội có thể liên quan hoặc không liên quan trực tiếp đến quyền và
lợi ích của mình. Tố cáo thể hiện sự phản ứng của công dân trước hành vi vi phạm
pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Tại Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011 giải thích một số khái niệm có liên quan

1.1.3. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đất đai
1.1.3.1. Khái niệm tranh chấp, tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu
thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và
sử dụng đất đai.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “tranh chấp” là: (1) Giành nhau một cách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

giằng co cái không rõ thuộc về bên nào và (2) Đấu tranh giằng co khi có ý
kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên. Việc “giành
nhau” này có thể bằng hành động trực tiếp (chiếm trực tiếp), cũng có thể mới
ở phần ý kiến (đòi cơ quan có thẩm quyền phải công nhận cho mình thay vì
cho người khác). Việc giành nhau này không chỉ “giữa hai bên” như Từ điển
nêu mà có thể giữa nhiều bên.
Trong thực tế, TCĐĐ được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền
sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải
được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau
tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử
(giải quyết).
Dưới góc độ pháp lý theo khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 định
nghĩa “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa
hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Như vậy TCĐĐ có thể hiểu là việc tranh chấp phát sinh giữa cá nhân và
cá nhân hoặc giữa cá nhân và tổ chức hoặc giữa tổ chức và tổ chức (giữa các chủ
thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai) với nhau về quyền sử dụng đất mà
một trong các chủ thể cho rằng quyền sử dụng đất của họ bị bên kia vi phạm thì
có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp buộc bên kia chấm
dứt hành vi vi phạm, khắc phục lại tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại

tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có
đất tranh chấp. UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác
để hoà giải TCĐĐ. Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày UBND
xã, phường, thị trấn nhận được đơn. Kết quả hoà giải TCĐĐ phải được lập thành
biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị
trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì
UBND xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.
1.1.4. Một số khái niệm trong quản lý đất đai liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

Quản lý Nhà nước về đất đai: Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý ”; Hiến pháp năm 2013 (được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013) quy
định: " Đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý". Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Tại Điều 1, Luật Đất đai
2013 “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống
nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy
định của Luật này”. Điều này đã khẳng định được tính chất quan trọng của đất
đai. Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai
nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và
có hiệu quả. Trong đó có nội dung về giải quyết KNTC trong việc quản lý và sử
dụng đất đai.
Theo Điều 4, Luật Đất đai 2003 có quy định cụ thể về các khái niệm liên quan:
- Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng QĐHC cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất.

hợp không có sự thống nhất quá trình khiếu nại hành chính, người khiếu nại có
thể kiện ra Toà án hành chính trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thống
báo trả lời của cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009).
1.2.2. Hàn Quốc
Thụy Điển có Tòa hành chính thực hiện việc xét xử các vụ án hành chính.
Tòa hành chính được thành lập từ năm 1909, song hiện nay pháp luật Thụy Điển
vẫn quy định các cơ quan hành chính và Tòa hành chính có thẩm quyền ngang
nhau trong việc giải quyết tranh chấp hành chính. Khiếu nại của công dân có thể
được giải quyết theo thứ bậc hành chính mà không cần phải kiện ra Tòa hành
chính và trong trường hợp này pháp luật Thụy Điển có những quy định cụ thể
nhằm tránh tình trạng cùng một vụ việc nhưng cả cơ quan hành chính và Tòa
hành chính đều thụ lý giải quyết (Đinh Văn Minh, 1995).
1.2.3. Đài Loan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Đối với Đài Loan, theo Luật xét xử của Tòa hành chính ban hành năm
1932, được sửa đổi, bổ sung năm 1975 thì khi công dân cho rằng quyền lợi của
mình bị xâm hại bởi một QĐHC của cơ quan nhà nước trung ương hoặc cơ quan
hành chính địa phương, họ có quyền khởi kiện lên Tòa hành chính nếu không
đồng ý với việc giải quyết của cơ quan có thẩm quyền hoặc trong thời hạn 02
tháng mà họ không được giải quyết. Như vậy, muốn khởi kiện vụ án hành chính
thì vụ việc phải được giải quyết qua giai đoạn tiền tố tụng hành chính (Đinh Văn
Minh, 2009).
1.2.4. Cộng hòa Pháp và Cộng hòa liên bang Đức
Việc giải quyết khiếu nại hành chính ở Cộng hoà Pháp và Cộng hoà Liên
bang Đức được giao cho một cơ quan xét xử đặc biệt là các toà án hành chính
độc lập hoàn toàn với các toà án tư pháp. Cộng hòa Pháp là nước có lịch sử hơn
200 năm về tổ chức, thực hiện hoạt động tài phán hành chính; Cộng hòa liên
bang Đức có Tòa án hành chính từ nửa sau thể kỷ 19. Đến nay, cả hai nước này

thể kiện ra Tòa án hoặc khiếu nại bằng con đường hành chính. Trên thực tế 90%
vụ việc đương sự chọn con đường khiếu nại hành chính vì vụ việc sẽ được giải
quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn kém hơn nếu khiếu kiện ra Tòa án. Ngoài ra,
ở Hoa Kỳ còn có cơ quan độc lập chuyên giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật
công chức, có tên gọi là Merit systems protection board.
Pháp luật Hoa Kỳ quy định trường hợp tranh chấp hành chính đã được cơ
quan hành chính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn
tiếp tục khiếu kiện tới Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà
chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên
trách giải quyết khiếu nại hành chính trong quá trình giải quyết trước đó (Đinh
Văn Minh, 2010).
1.3. Tính pháp lý và cơ sở thực tiễn về các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và công tác chỉ đạo về giải quyết
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác tiếp công dân, giải quyết
KNTC, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn với việc xây dựng bộ máy nhà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

nước ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp
năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 (được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
28/11/2013) đều ghi nhận quyền KNTC là một trong những quyền cơ bản của
công dân và quy định việc KNTC phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng,
theo quy định của pháp luật.
Để phát huy và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại của cả hệ
thống chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09- CT/TW
ngày 06/3/2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết
khiếu nại hiện nay. Kết luận số 130/TB-TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về
tình hình kết quả giải quyết KNTC từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời

nhân để hoàn thiện và xây dựng hệ thống quản lý đất đai (thể chế, bộ máy tổ
chức), quan tâm thấu đáo lợi ích thiết thực của người dân để giải quyết tranh
chấp khiếu kiện về đất đai đạt hiệu quả cao, góp phần ổn định tình hình an ninh,
chính trị xã hội là vấn đề cấp bách, là yêu cầu đang đặt ra hiện nay đối với các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
1.3.2. Căn cứ pháp lý về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất
đai của các cơ quan hành chính Nhà nước
Để cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và tạo cơ sở pháp lý
cho công tác giải quyết KNTC, TCĐĐ, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản
quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan HCNN, trình tự, thủ tục giải
quyết các KNTC và TCĐĐ. Các văn bản đã được ban hành qua các thời kỳ, thể
hiện sự thay đổi về cơ chế chính sách, theo hướng minh bạch, ngày càng có lợi
hơn cho người dân, nhằm phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn và hướng đến
sự thống nhất, khắc phục sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật
quy định về vấn đề này (Bảng 1.1). Tuy nhiên, qua hệ thống các văn bản QPPL
quy định về giải quyết KNTC, TCĐĐ được ban hành thiếu đồng bộ, còn nhiều
điểm chưa thống nhất hệ thống pháp luật nước ta trong việc giải quyết KNTC,
tranh chấp của công dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status