Phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân; bảo đảm hiệu quả hoạt động và
tính độc lập của các cơ quan tư pháp; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, công dân… là những đòi hỏi quan trọng của việc xây dựng nhà nước pháp
quyền trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Đặc biệt, trong hoạt động tư pháp hình sự, nơi mà hoạt động của cơ quan tiến hành tố
tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) mang tính quyền lực nhà nước rất cao, nơi mà
mọi hoạt động chính đều liên quan lớn đến quyền, lợi ích của công dân thì việc quy định rõ
quyền hạn và trên cơ sở đó xác định cụ thể trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, có ý
nghĩa rất quan trọng không chỉ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, mà còn trong
việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là quyền, lợi ích hợp pháp của bị
can, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác.
Trong nhiều năm qua, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nước ta đã có nhiều tiến bộ trong
việc quy định, phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng. Đó
là cơ sở pháp lý cho hoạt động TTHS đạt hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều quy định còn bất cập;
một số quy định còn vướng mắc trong triển khai thực hiện trong bối cảnh cải cách tư pháp
hiện nay. Những bất cập, vướng mắc đó chủ yếu tập trung ở việc phân định chưa rõ ràng
giữa chức năng quản lý hành chính và chức năng tố tụng của những người tiến hành tố tụng
như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát; Chánh án, Phó Chánh án Toà án v.v...
Vì vậy, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố
tụng nói chung, phân định thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng của các chức danh
trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định đó trong thực tiễn. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính
trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã xác định “Phân định rõ thẩm quyền
quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo
hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ
động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
các hành vi và quyết định tố tụng của mình” là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải
cách tư pháp hiện nay.
có BLTTHS; hoạt động tố tụng được thực hiện trên cơ sở các luật tổ chức và văn bản hướng
dẫn đơn lẻ của cơ quan có thẩm quyền như Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà
án nhân dân tối cao…
Liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nói chung,
đặc biệt là của người quản lý Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, pháp luật tố tụng giai
đoạn này có đặc điểm:
Thứ nhất, chưa có các văn bản cụ thể quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng;
Thứ hai, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính và chức năng tố
tụng. Đặc điểm này thể hiện tương đối rõ nét đối với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan
điều tra (vốn là bộ phận cơ quan hành pháp) và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát;
Thứ ba, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử; có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng quan trọng (trừ việc ra các phán quyết
về vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử theo nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm
độc lập, chỉ tuân theo pháp luật). Những người tiến hành tố tụng khác, nhất là Điều tra viên,
Kiểm sát viên chỉ thực hiện các hoạt động tố tụng theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ
quan điều tra và Viện trưởng Viện kiểm sát.
Quy định của BLTTHS năm 1988
BLTTHS năm 1988 là bộ luật đầu tiên pháp điển hoá các quy định của pháp luật trước đó
về trình tự, thủ tục tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự; về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng; về quyền, nghĩa vụ tố tụng của
những người tham gia tố tụng.
BLTTHS năm 1988 hầu như kế thừa pháp luật TTHS trước đó về thẩm quyền của những
người tiến hành tố tụng. Trong BLTTHS chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; hầu như các quyền hạn chủ yếu liên quan đến thủ
tục điều tra, truy tố đều thuộc Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát; còn
Điều tra viên chỉ thực hiện các biện pháp điều tra mang tính nghiệp vụ, Kiểm sát viên thực
hiện nhiệm vụ tố tụng theo uỷ quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát. Về thực chất, tự mình,
Điều tra viên, Kiểm sát viên không quyết định được bất cứ điều gì về vụ án.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, từ góc độ phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng, BLTTHS năm 2003 còn có một số bất cập, hạn chế sau đây:
Thứ nhất, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán
được quy định còn hạn chế. Đồng thời, sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng
Cơ quan điều tra với Điều tra viên, của Viện trưởng Viện kiểm sát với Kiểm sát viên, của
Chánh án với Thẩm phán trong hoạt động tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự cụ thể
còn thiếu hợp lý, làm hạn chế hiệu quả, chất lượng, tính kịp thời của các hoạt động tố tụng,
không nâng cao được trách nhiệm của người tiến hành tố tụng đối với việc giải quyết vụ án
hình sự.
Theo quy định tại Điều 34, Điều 36 của BLTTHS, khi tiến hành tố tụng đối với các vụ án cụ
thể, Thủ trưởng (hoặc Phó thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện trưởng)
Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng; còn Điều tra viên, Kiểm sát
viên trực tiếp thực hiện các biện pháp tố tụng thi hành các quyết định tố tụng đó. Như vậy, về
nguyên tắc, Thủ trưởng (hoặc Phó thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện
trưởng) Viện kiểm sát có quyền hạn tuyệt đối trong các quyết định tố tụng trên cơ sở hoạt
động và đề nghị của Điều tra viên, Kiểm sát viên; và ngược lại, hoạt động thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Điều tra viên, Kiểm sát viên lại phụ thuộc vào tính đúng đắn, kịp thời của các
quyết định tố tụng do Thủ trưởng (hoặc Phó thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc
Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát ban hành. Cơ chế tố tụng đó một mặt tạo nên những rào cản
ảnh hưởng đến chất lượng, tính kịp thời của hoạt động tố tụng; mặt khác không tạo ra cơ sở
rõ ràng về trách nhiệm của Thủ trưởng (hoặc Phó thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng
(hoặc Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát với Điều tra viên, Kiểm sát viên đối với kết quả hoạt
động tố tụng của mình theo nguyên tắc “quyền hạn đi đôi với trách nhiệm” trong hoạt động
nhà nước.
Đối với Toà án, do bị chi phối bởi nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật nên bất cập này cũng có nhưng không thật rõ ràng như đối với Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát.
Thứ hai, chưa có sự phân định rõ ràng, cụ thể trong quy định nhiệm vụ, quyền hạn của
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án từ góc độ hành chính
pháp lý và từ góc độ TTHS.
công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự.
Theo chúng tôi, việc hoàn thiện đó phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây: