ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MẠNH ĐÔNG
TĂNG THẨM QUYỀN CHO KIỂM SÁT VIÊN
TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH
SỰ
MỘT YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA TIẾN TRÌNH
CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2009
1.1.
Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong
quá trình tiến hành tố tụng hình sự
7
1.1.1.
Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
7
1.1.2.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng
hình sự
11
1.2.
Những yêu cầu đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp liên quan đến
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
28
1.2.1.
Những yêu cầu về đổi mới bộ máy tổ chức các cơ quan tư pháp nói
chung và Cơ quan Viện kiểm sát nói riêng liên quan đến Kiểm sát viên
28
1.2.2.
Những yêu cầu về tố chất bên trong Kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp hiện nay khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
của mình
33
Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
37
2.1.
81
3.2.
Bồi dưỡng, đào tạo, bổ sung những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ liên
quan đến tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Kiểm sát viên
86
3.3.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện quyền hạn, trách
nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng
88
3.4.
Tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện công tác đối với
đội ngũ Kiểm sát viên
89
3.5.
Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng nói chung và của Viện kiểm sát nói riêng
90
KẾT LUẬN
97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
3 4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Viện kiểm sát, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, thực hiện
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và thực
hành quyền công tố.
Tuy nhiên, người thực hiện chức năng của Viện kiểm sát chính là Kiểm
sát viên. Hay nói cách khác, những thành công cũng như những thất bại của Viện
kiểm sát trong thực hiện chức năng của mình đều phụ thuộc vào thái độ, trách
nhiệm, năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức… của Kiểm sát viên. Chính vì vậy,
Kiểm sát viên giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ quan Viện kiểm sát các cấp.
Nếu so sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và các
văn bản pháp luật có liên quan, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những
quy định về quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nói chung, Kiểm sát viên
nói riêng đã rõ ràng hơn theo hướng từng bước tăng thẩm quyền cho Kiểm sát
viên trong quá trình tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án hình sự.
Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cho thấy,
những quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự chưa bảo đảm được yêu
cầu để Viện kiểm sát chủ động thực hiện đúng chức năng của mình trong tình
hình án hình sự ngày một tăng lên và tính phức tạp ngày càng cao. Đã xuất
hiện nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự
mà lẽ ra, đã không xảy ra nếu các Kiểm sát viên được trang bị các quyền năng
trị". Đây là một công trình khoa học được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu các
quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 nhằm luận giải cơ sở pháp lý và vai trò của Viện kiểm
sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư 6
pháp trong giai đoạn điều tra; đánh giá khái quát thực tiễn hoạt động thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong những năm qua
nhằm phân tích tìm ra những nguyên nhân của các kết quả và những mặt còn
hạn chế. Qua đó tác giả đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002. Luận văn thạc sĩ luật học của Phương Lan về: "Tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong giải quyết các vụ án hình sự của Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(2004). Đây được coi là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội. Nội dung nghiên cứu của luận
văn tập trung vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa
nói chung và pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nói riêng; đánh giá thực trạng pháp chế
trong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự của các Viện kiểm sát cấp huyện
trên địa bàn thành phố Hà Nội, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải
pháp góp phần tăng cường pháp chế trong việc giải quyết vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả, được biết cũng chưa có bài
viết nào đăng trên các tạp chí pháp lý đề cập vấn đề tăng thẩm quyền cho
Kiểm sát viên. Trong một số cuộc hội thảo khoa học do Viện kiểm sát chủ trì
cũng như trong nhiều báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát hàng năm đều ghi
điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó trong
giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Nội dung nghiên cứu đề cập đến khái niệm, đối tượng, phạm vi quyền
hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, đi sâu phân tích các
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; thực trạng tình hình thực hiện
quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự; đề xuất giải
pháp hoàn thiện về vấn đề này. 8
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu về quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của
Kiểm sát viên thuộc cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình tiến hành
tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ở các giai
đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Qua đó phân tích, đánh giá, liên hệ
với thực tiễn, đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm luận chứng cho việc cần tăng
cường và hoàn thiện các quyền năng và trách nhiệm pháp lý của Kiểm sát
viên tại các giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản nêu trên nhằm hoàn thiện quyền
năng pháp lý cho Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng hình sự.
Luận văn không đề cập tới vấn đề:
- Hệ thống Viện kiểm sát quân sự;
- Các chức danh Viện trưởng, Phó Viện trưởng cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân trong và ngoài quá trình tiến hành tố tụng
- Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án, thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước ta về tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp, về mối quan hệ giữa
của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự.
Chương 3: Những kiến nghị, giải pháp tăng cường quyền hạn cho
Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. 10
Chương 1
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP
1.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
Trong khoa học pháp lý nói chung, vị trí, vai trò của một chủ thể quan
hệ pháp luật (cơ quan, tổ chức, cá nhân…) được hiểu là tổng hợp các quy định
của pháp luật làm cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để phân biệt, tạo nên sự độc
lập của chủ thể đó so với các chủ thể khác.
Về nguyên tắc cũng như theo lôgích của vấn đề thì vị trí, vai trò của
Kiểm sát viên phải thống nhất, không thể tách rời vị trí, vai trò của hệ thống
cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói chung. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự
cũng vậy, quá trình hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình,
Viện kiểm sát nhân dân không thể triển khai tác nghiệp tập thể mà phải thông
qua những cá nhân đại diện thường xuyên. Những mà cá nhân này chính là
những Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong từng giai
đoạn, từng công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung và theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002 thì Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về
những hành vi và quyết định của mình. Để hiểu rõ hơn vị trí, vai trò của Kiểm
sát viên cần thiết phải thống nhất quan điểm về quyền công tố, thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định phạm vi quyền
công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan 12
trọng. Giải quyết được rõ ràng, rành mạch vấn đề trên giúp cho việc nhận
thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong
tố tụng hình sự. Các tài liệu pháp lý ở nước ta hiện nay chỉ đề cập đến vấn đề
quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Khái niệm
thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi, mối quan hệ giữa thực
hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập. Một số chuyên đề gần đây ở Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân địa phương khi
đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố cũng mới chỉ đưa ra được một
số biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình
sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án.
Những vấn đề liên quan đến quyền công tố, thực hành quyền công tố,
chúng tôi đồng ý với những quan điểm đưa ra của TS. Lê Hữu Thể và TS. Trần
Văn Độ. Theo tác giả Lê Hữu Thể:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này
thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện
(ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát). Để phát hiện tội phạm và truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều
này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách
nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định
động áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm
quyền thực hiện một số hoạt động tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự.
Theo các quy chế hiện hành do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban
hành về công tác kiểm sát điều tra, xét xử đang được áp dụng cho toàn ngành
kiểm sát, cũng như theo kết quả các công trình nghiên cứu về khoa học công
tác kiểm sát thì phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt
động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố (một số
trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố như việc áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ v.v…) và kết thúc khi
người phạm tội đã thi hành xong bản án. 14
Như vậy, để quyền công tố và thực hành quyền công tố có hiệu quả cũng
như kiểm sát hoạt động tư pháp một cách hữu hiệu, ngăn chặn và khắc phục kịp
thời những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát là chủ thể
duy nhất. Những kết quả đã đạt được trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung, giải quyết vụ án hình sự nói riêng (như thực hiện quyền kiểm sát việc
khởi tố vụ án, phê chuẩn việc khởi tố bị can, đảm bảo tính căn cứ và hợp pháp
của các quyết định khởi tố, truy tố; từ chối không phê chuẩn các quyết định khởi
tố bị can, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án và quyết định không khởi tố vụ án
không có căn cứ, từ chối phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai
đoạn điều tra; đưa ra các kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm v.v… đã
thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong hoạt động tố tụng hình sự, xóa được
mặc cảm của xã hội cho rằng, việc làm của Viện kiểm sát là hợp thức hóa các
hoạt động điều tra, xét xử v.v…), cũng như những sai lầm mắc phải của Viện
kiểm sát (như một số Kiểm sát viên chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án liên quan
đến khởi tố vụ án và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can nên không phát hiện
được hồ sơ còn thiếu những chứng cứ quan trọng hoặc có vi phạm thủ tục tố
nhiên, trong Bộ luật tố tụng hình sự (các điều 112, 113) cũng như trong Luật
tổ chức Viện kiểm sát (các điều 17, 18, 19), mặc dù không nêu rõ về quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên, nhưng những quy định về Viện
kiểm sát cũng có nghĩa nêu về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát
viên vì đại diện cho Viện kiểm sát chính là Kiểm sát viên. Ví dụ, Điều 112 Bộ
luật tố tụng hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra: khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau
đây: khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định
của Bộ luật này; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành
điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra
theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi
Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này; nếu hành vi của Điều tra viên có 16
dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác;
quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan
điều tra theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp không phê chuẩn thì
trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do; hủy bỏ các quyết định
không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều
tra truy nã bị can; quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm
đình chỉ vụ án. Hoặc Điều 113 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát khi kiểm sát điều tra: khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm
sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát
các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp
về thẩm quyền điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp
vụ và gắn liền với trách nhiệm chỉ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được
giao, Kiểm sát viên mới được sử dụng quyền hạn do luật định và ngược lại
chỉ được sử dụng quyền hạn mà luật cho phép đối với những nhiệm vụ được
giao hoặc nhiệm vụ được luật quy định. Chính vì vậy, khoản 1 Điều 37 Bộ
luật tố tụng hình sự không quy định tách bạch vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn
của Kiểm sát viên mà quy định chung các hoạt động tác nghiệp thuộc về các
lĩnh vực trên. Trong quá trình này Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm theo
quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự như đã nêu ở trên.
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của Kiểm sát viên tập trung vào:
Thứ nhất, kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và
việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra.
Kiểm sát việc khởi tố bao gồm kiểm sát việc khởi tố hoặc không khởi
tố vụ án hình sự và kiểm sát khởi tố bị can. Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình
sự là hoạt động kiểm tra, xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết
định khởi tố. Khi được phân công kiểm sát việc khởi tố, Kiểm sát viên phải
kiểm tra quyết định khởi tố vụ án hình sự và toàn bộ những chứng cứ, tài liệu
làm căn cứ để cơ quan điều tra hoặc các cơ quan được giao tiến hành một số
hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Việc khởi tố vụ án hình 18
sự chỉ được coi là có căn cứ khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định
dấu hiệu tội phạm phải dựa trên những cơ sở được quy định tại Điều 100 Bộ
luật tố tụng hình sự.
Việc khởi tố vụ án ngoài tính có căn cứ như đã nêu còn phải đảm bảo
tính hợp pháp, cụ thể là, quyết định khởi tố vụ án phải do cơ quan điều tra và
thủ trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra ban hành hoặc do Viện kiểm sát hay hội đồng xét xử ban hành trong
những trường hợp cụ thể theo quy định của Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với những vụ án về các tội được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105,
Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố đó để báo cáo
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để hoặc là chấp thuận và chuyển
cho cơ quan điều tra tiến hành điều tra, hoặc là không chấp thuận và kháng
nghị lên Tòa án cấp trên.
Đối với hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can theo quy định của Điều 126
Bộ luật tố tụng hình sự. Khởi tố bị can là một sự kiện tố tụng rất quan trọng
và có ý nghĩa bước ngoặt trong việc giải quyết vụ án hình sự. Khởi tố bị can
trực tiếp ảnh hưởng ở các mức độ nhất định tới quyền tự do, sinh mạng chính
trị, uy tín và danh dự của một con người cụ thể. Khởi tố bị can thường đi liền
hoặc ngay trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình
sự đối với người bị khởi tố. Khởi tố bị can đúng, chính xác là tiền đề cho việc
giải quyết vụ án, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngược lại
khởi tố bị can không đúng, không chính xác sẽ dẫn đến tình trạng oan hoặc bỏ
lọt tội phạm, đồng thời kéo theo một loạt các hậu quả xấu khác. Với ý nghĩa
quan trọng như vậy nên lần đầu tiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát
phê chuẩn mới có hiệu lực và giá trị pháp lý (Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988 không có quy định này). Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định như trên cho thấy, việc khởi tố bị can đúng đắn, chính xác hay khởi tố
oan người vô tội không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan điều tra. Trọng 20
trách này, theo tinh thần của luật đã được giao cho cơ quan Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên được phân công là người có nhiệm vụ giúp Viện kiểm sát hoàn
thành trọng trách này. Khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định
khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải kiểm tra xem xét toàn bộ hệ thống chứng
cứ đã có mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Kiểm sát viên phải sử dụng
điều tra phải tuân thủ đúng quy định của các điều từ Điều 131 đến Điều 159
Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên phải đảm bảo kết quả các hoạt động
điều tra đáp ứng yêu cầu của Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự về "những vấn
đề phải chứng minh trong vụ án hình sự".
Ngoài ra trong việc kiểm sát các hoạt động điều tra, Kiểm sát viên còn
có nhiệm vụ kiểm tra xem xét đảm bảo việc tuân thủ các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự ở các thủ tục khác như: kiểm sát việc thực hiện để đảm bảo thực
hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, kiểm sát việc nhập
hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra; việc ủy thác điều tra (theo Điều
62, 117, 118 Bộ luật tố tụng hình sự); kiểm sát việc chấp hành thời hạn điều
tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại quy định tại Điều 119, 121
Bộ luật tố tụng hình sự; kiểm sát để xác định tư cách tiến hành tố tụng của
Điều tra viên nhằm đảm bảo điều tra viên tiến hành tố tụng trong vụ án không
thuộc các trường hợp phải bị thay đổi quy định tại các Điều 42 và khoản 1
Điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về kiểm sát việc lập hồ sơ của cơ quan điều tra, Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 chỉ quy định việc lập hồ sơ vụ án hình sự là một nhiệm vụ của
Điều tra viên (điểm a khoản 1 Điều 35) chứ không quy định cụ thể việc lập hồ
sơ như thế nào. Việc lập hồ sơ vụ án hình sự của Điều tra viên được thực hiện
theo hướng dẫn của Bộ công an (Hướng dẫn số 3821/C27.P2 ngày 4/11/1998
của Cục hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát). Đồng thời, tùy từng yêu cầu của mỗi vụ
án, loại án hình sự mà số lượng tài liệu, chứng cứ cần thu thập nhiều hay ít
trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên thông thường, một hồ sơ vụ án hình sự do Điều
tra viên lập để phục vụ công tác truy tố, xét xử có những tài liệu chủ yếu như:
các tài liệu làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can; các quyết định (quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định phân công điều tra viên, quyết 22
định trưng cầu giám định, các quyết định khác…); các loại lệnh (lệnh bắt,
23
điều tra cụ thể, thích hợp để cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện. Thực
tế cho thấy, nếu Kiểm sát viên làm tốt công tác này thì việc giải quyết vụ án ở
các trình tự tố tụng tiếp theo sẽ gặp nhiều thuận lợi. Hạn chế được tình trạng
để việc giải quyết vụ án phải kéo dài, cũng như hạn chế được việc sau khi kết
thúc điều tra, đề nghị truy tố, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho cơ quan
điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc điều tra lại.
Thứ ba, triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người
làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Triệu tập và lấy lời khai những người tham gia tố tụng nêu trên là
những hoạt động điều tra thuộc về nhiệm vụ của cơ quan điều tra và Điều tra
viên nhằm thu thập chứng cứ. Đây là những biện pháp điều tra công khai theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (các điều 133, 134, 135, 136, 137).
Trong quá trình điều tra một vụ án hình sự, cơ quan điều tra và Điều
tra viên sẽ tiến hành thực hiện các biện pháp điều tra nêu trên kết hợp với các
biện pháp điều tra công khai khác như: khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, khám xét thu giữ vật chứng, giám định, đối chất, nhận dạng,
thực nghiệm điều tra… để thu thập chứng cứ, phục vụ công tác truy tố, xét
xử. Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng và tiến hành biện pháp điều tra nào là
do đòi hỏi khách quan của việc giải quyết từng vụ án, từng loại án hình sự, kết
hợp với việc tổ chức chiến thuật điều tra cụ thể đối với từng loại án hình sự.
Như vậy, việc triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai
người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là những công việc thuộc quyền chủ
động mang tính bắt buộc và thuộc nhiệm vụ của cơ quan điều tra và Điều tra
viên. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
cũng đã quy định những biện pháp điều tra trên đây với tư cách thuộc về
nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên. Bên cạnh đó các điều 131, 132, 133,