tổ chức và hoạt động của tòa án trong tiến trình cải cách tư pháp ở việt nam - Pdf 21

LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là định
hướng cơ bản trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Tòa án nhân
dân là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp.
Hệ thống ngành Tòa án đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ pháp chế XHCN;
bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà
nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân. Hệ thống Tòa án của nước ta đã trải qua những cuộc cải cách về tổ
chức và hoạt động qua các thời kỳ theo quy định của các bản Hiến pháp năm
1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 Nhìn chung những thay đổi, cải cách về
hệ thống Tòa án đã mang lại những kết quả tích cực cả về tổ chức và hoạt động,
đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ chính trị đặt ra trong từng giai
đoạn lịch sử. Tuy nhiên, chưa thể nói tổ chức và hoạt động của TAND hiện nay
đã hoàn thiện, đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp
theo các mục tiêu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Để
Tòa án thực sự là chỗ dựa, công cụ, biểu tượng của công bằng, bình đẳng và bảo
vệ quyền con người, đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp đang
đặt ra, em xin mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu, tìm hiểu các giải pháp
nhằm đổi mới hơn nữa về tổ chức cũng như hoạt động của Tòa án nhân dân
trong tiến trình cải cách tư pháp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND trong những năm gần
đây đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, cán bộ làm công
tác thực tiễn như: Luận án tiến sĩ Luật học của Tiến sĩ Lê Thành Dương năm
2002, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay”; một số bài viết đăng trong Hội thảo khoa học cấp khoa - Trường
Đại học Luật Hà Nội như: “Bài về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án
nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
XHCN và hội nhập quốc tế” của Th.sĩ Nguyễn Thị Hoa…Khóa luận này em xin

trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống TAND từ năm 1945 đến nay có
thể phân ra làm bốn giai đoạn phát triển, căn cứ vào nhiệm vụ chung của cách
mạng trong cả nước, căn cứ vào việc ban hành Hiến pháp và các Luật tổ chức
Tòa án cũng như đặc điểm, tổ chức hoạt động của TAND trong từng giai đoạn
cách mạng ở nước ta.
a. Tòa án nhân dân giai đoạn trước cách mạng tháng tám - năm 1945
đến năm 1959
Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin thì trong xã hội có giai cấp đối
kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được thể hiện trên các
mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng. Để đạt được hiệu quả thống trị, giai cấp thống trị
đã sử dụng nhà nước như là một công cụ sắc bén nhất thể hiện và thực hiện ý chí
của giai cấp cầm quyền. Nhà nước ban hành ra pháp luật để thực hiện quản lý
bắt buộc đối với mọi công dân và để bảo vệ pháp luật, nhà nước đã tổ chức nên
bộ máy nhà nước, trong đó có TAND là một trong những hệ thống cơ quan hợp
thành bộ máy nhà nước. Các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản đều có các
Tòa án để bảo vệ và duy trì quyền lực thống trị của giai cấp cầm quyền, bắt các
giai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị.
Ở nước ta, trong thời kỳ Pháp thuộc, nền tư pháp thuộc địa và nửa phong
kiến được tổ chức theo chính sách chia để trị của thực dân Pháp. Ở Nam kỳ và
các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, có các Tòa án thuộc địa do
thực dân Pháp trực tiếp nắm và điều khiển, nhằm xét xử các vụ án hình sự, dân
sự đối với người Việt Nam theo pháp luật của Pháp. Ở Trung kỳ và Bắc kỳ bọn
quan lại phong kiến nắm quyền hành chính đồng thời nắm cả quyền xét xử, xét
xử các vụ án hình sự, dân sự theo pháp luật bản xứ. Như vậy, các cơ quan tư
pháp thuộc địa và phong kiến là công cụ của bọn thực dân và phong kiến nhằm
bảo vệ quyền lực thống trị của chúng, đàn áp cách mạng cũng như quần chúng
nhân dân lao động trong xã hội. Trong bối cảnh đó, ngay từ khi mới giành được
chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 18/SL
ngày 8/9/1945 bãi bỏ ngạch học quan; Sắc lệnh số 32/SL ngày 13/9/1945 bãi bỏ

13/SL và sau đó là Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/7/1946 quy định Các Tòa án sơ
cấp và đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời cả sơ chung thẩm,
còn các Tòa án Thượng thẩm chỉ chuyên xét xử phúc thẩm. Cũng theo Sắc lệnh
trên, trong các cơ quan Tòa án, Thẩm phán được chia làm hai ngạch đó là Thẩm
phán sơ cấp và Thẩm phán đệ nhị cấp. Ngạch Thẩm phán sơ cấp có 5 hạng và
ngạch Thẩm phán đệ nhị cấp có 7 hạng, được chia thành hai chức vị: Thẩm phán
xét xử (do Chánh nhất Tòa án Thượng Thẩm đứng đầu) và Thẩm phán buộc tội
(do Chưởng lý đứng đầu). Bộ trưởng Bộ Tư Pháp bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp
và Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán đệ nhị cấp.
Đánh giá chung, từ khi Cách mạng tháng tám thành công cho đến khi
Hiến pháp năm 1946 được thông qua, trong giai đoạn chưa ban hành được Hiến
pháp, các Tòa án được thành lập theo yêu cầu của từng địa bàn về phòng chống
tội phạm, cũng như giải quyết các việc dân sự, thương sự. Hệ thống Tòa án thời
kỳ này chưa có Tòa án tối cao, mà tổ chức theo mô hình Tòa án sơ thẩm, Tòa án
đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm kỳ. Điều này phản ánh sự tiếp thu, kế thừa mô hình
tổ chức Tòa án của chính quyền thực dân cũ. Hệ thống Tòa án được thành lập,
hoạt động song song với các cấp chính quyền với nhiệm vụ quan trọng đặt ra là
bảo vệ thành quả cách mạng mới dành được và sau đó là bảo vệ trật tự xã hội và
quyền lợi của cá nhân. Hệ thống Tòa án được thành lập dựa trên sự kết hợp của
hai yếu tố. Giữa thẩm quyền xét xử với tổ chức đơn vị hành chính lãnh thổ, luôn
có sự chỉ đạo sát sao của các cơ quan hành chính địa phương.
Hiến pháp năm 1946 ra đời đánh dấu một bước ngoặt về tổ chức của
ngành Tòa án. Theo quy định của Điều 63 - Hiến pháp năm 1946, cơ quan tư
pháp bao gồm: Tòa án Tối cao, Các Tòa Phúc Thẩm, các Tòa đệ nhị cấp và sơ
cấp. Tòa án Tối cao được thành lập nhưng chịu sự quản lý của Chính phủ; Các
Thẩm phán của Tòa án đều do Chính phủ bổ nhiệm; Hoạt động xét xử của Tòa
án thời kỳ này dựa trên các nguyên tắc: trong khi xử việc hình thì phải có phụ
thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết
định với Thẩm phán nếu là việc đại hình; khi xét xử các viên Thẩm phán chỉ
tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp; các phiên toà đều

tụng để đảm bảo xét xử nhanh chóng. Vì vậy, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh
số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định về cải cách tư pháp và Luật tố tụng. Các Tòa
án thường được đổi thành Các Tòa án nhân dân, Các Tòa án sơ cấp, đệ nhị cấp
được đổi thành các TAND huyện; các TAND tỉnh; Hội đồng phúc án nay gọi là
Tòa phúc thẩm; các Phụ thẩm nhân dân được đổi thành Hội thẩm nhân dân.
Ngày 12/11/1954 Chính phủ ra Sắc lệnh số 150/SL thành lập Tòa án đặc biệt.
Các Tòa án này có nhiệm vụ trừng trị những bọn phản cách mạng, những kẻ
chống phá chính quyền.
Sau hòa bình được lặp lại ở miền Bắc, nhà nước ta tiếp tục tiến hành cải
cách tư pháp. Tháng 4/1948 Quốc hội quyết định thành lập Tòa án tối cao và
Viện Công tố. Hai cơ quan này đã không chịu sự quản lý về tổ chức của Bộ Tư
Pháp mà trực thuộc Hội đồng Chính Phủ.
b. Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Hiến pháp năm 1959 ra đời đã cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Đai hội
Đảng III về vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước. Hiến pháp đã quy định lại vị trí,
chức năng, nhiệm vụ của hệ thống TAND và Viện kiểm sát nhân dân. Trên cơ
sở Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức TAND ngày
14/7/1960. Theo quy định của Luật tổ chức TAND 1960, hệ thống TAND gồm
có: TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự, trong trường hợp
đặc biệt Quốc hội thành lập các Tòa án đặc biệt. Các Tòa án quân sự bao gồm:
Tòa án quân sự trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án
quân sự khu vực cũng thuộc hệ thống TAND, nhưng được tổ chức trong quân
đội. Các TAND được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc: thực hiện chế
độ bầu cử Thẩm phán thay cho bổ nhiệm Thẩm phán trước đó. Thẩm phán
TAND tối cao do UBTVQH cử và bãi miễn, Thẩm phán của TAND các cấp ở
địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và bãi miễn; khi xét xử có Hội
thẩm nhân dân tham gia và Hội Thẩm ngang quyền với Thẩm phán; TAND xét
xử tập thể và quyết định theo đa số; khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án xét xử công khai trừ trường hợp
do luật định; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo…Để đảm bảo việc thực hiện

sự trung ương, quân khu, khu vực cũng do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp quản lý về
mặt tổ chức, có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc Phòng và Chánh án TAND
tối cao; mở rộng thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm những bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị
kháng nghị vì có sự vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới có thể làm
thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đó; quy định trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức hữu quan và mọi công dân trong việc tôn trọng và nghiêm
chỉnh chấp hành những bản án và quyết định đã có hiêu lực pháp luật của
TAND; TAND có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức khắc phục những thiếu
sót trong quản lý; ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp như Ban tư pháp xã,
tổ hòa giải để giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân
theo quy định của pháp luật. Luật tổ chức TAND năm 1981 quy định cụ thể rõ
ràng hơn về các Tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự và Tòa phúc
thẩm. Về Thẩm quyền xét xử, TAND cấp huyện đã được mở rộng phạm vi thẩm
quyền như xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự mà theo quy định của Bộ luật hình
sự, người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù từ bảy năm trở xuống, trừ các tội
phạm an ninh quốc gia, các tội phạm nghiêm trọng, gây hậu quả lớn, các vụ án
mà bị cáo phạm tội ở nước ngoài hoặc do TAND cấp trên lấy lên để xử.
d. Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 1992 đến nay
Về tổ chức, xuất phát từ yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị và bộ máy
Nhà nước được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và VII,
Ngày 15/4/1992 Quốc hội khóa VII đã thông qua Hiến pháp năm 1992. Để cụ
thể hóa Hiến pháp các vấn đề về Tòa án, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức
TAND năm 1992 ngày 6/10/1992 và tiếp sau đó là Luật tổ chức TAND năm
2002. So với Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức TAND năm 1981, pháp luật
thời kỳ này đã mở ra những thay đổi về nguyên tắc tổ chức của ngành Tòa án
như: Tòa án đặc biệt chỉ được thành lập “Trong tình hình đặc biệt” và cũng chỉ
do Quốc hội quyết định; chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ
của Thẩm phán được thay thế cho chế độ bầu và cử Thẩm phán trong Hiến pháp

Thẩm phán. Luật tổ chức TAND năm 1992 còn quy định Chánh án TAND tối
cao, Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cấp dưới theo quy định của pháp luật tố tụng.
Ngày 28/12/1993 Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức TAND năm 1992. Theo quy định của
Luật tổ chức TAND sửa đổi, trong cơ cấu tổ chức của TAND tối cao, các TAND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bên cạnh các Tòa hình sự, dân sự còn
thành lập thêm 3 Tòa chuyên trách mới đó là: Tòa lao động; Tòa hành chính;
Tòa kinh tế. Luật tổ chức TAND còn quy định trường hợp cần thiết, UBTVQH
quyết định thành lập các tòa chuyên trách khác. Mở rộng thành phần Hội đồng
xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế, lao động, hành chính. Bảo đảm số Thẩm phán
nhiều hơn Hội thẩm nhân dân (gồm: hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân).
Thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán theo nhiệm kỳ với tiêu chuẩn cao hơn so
với Pháp lệnh năm 1993; đã có một bước tiến mới về cải cách chế độ tiền lương,
phụ cấp đối với Thẩm phán, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác
xét xử của ngành Tòa án.
Về Thẩm quyền, để nhằm mục đích bảo vệ hơn nữa quyền lợi của người
phạm tội, pháp luật hiện hành đã bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung
thẩm của TAND tối cao. Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố
trực thuộc tỉnh mặc dù được tăng thẩm quyền xét xử nhưng mô hình tổ chức vẫn
giống quy định của Hiến pháp năm 1980 là không có Ủy ban Thẩm phán và các
Tòa chuyên trách như TAND tối cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương. Theo quy định của pháp luật hiện hành, TAND tối cao được phân công lại
việc quản lý các Tòa án ở địa phương (về mặt tổ chức). Hay nói cách khác, theo
quy định của Hiến pháp năm 1980, việc quản lý các Tòa án ở địa phương về mặt
tổ chức do Bộ trưởng Bộ tư pháp quản lý (con người, cơ sở vật chất), TAND tối
cao chỉ quản lý nghiệp vụ chuyên môn của Tòa án (quản lý công tác xét xử và
hướng dẫn công tác áp dụng pháp luật trong xét xử) thì hiện nay, hoạt động của
TAND tối cao không chỉ tác động lên phạm vi hoạt động xét xử của Tòa án mà

bộ máy nhà nước, nhằm tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn trong nhiệm vụ và chức
năng của từng cơ quan, bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng đồng bộ của cả bộ máy
nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Là bộ phận hợp thành của bộ
máy nhà nước, Tòa án là biểu hiện tập trung của quyền lực tư pháp, là nơi phản
ánh một cách đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất nền công lý của chế độ ta. Theo
quy định của pháp luật hiện hành, trong bộ máy nhà nước, TAND có một vị trí
đặc biệt. TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các tòa
án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam
(Điều 127- Hiến Pháp). Chỉ có các Tòa án mới có quyền xét xử các vụ án hình
sự, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải
quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Bằng hoạt động của mình,
Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế độ XHCN và quyền
làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính
mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩn của công dân. Đồng thời
thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân ý thức pháp
luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, tham gia vào cuộc đấu tranh
chống và phòng ngừa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
Vị trí của Tòa án còn thể hiện ở chỗ, tất cả các Thẩm phán đều hình thành
thông qua con đường bổ nhiệm. Trong đó, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức đối với Thẩm phán TAND Tối cao còn Thẩm phán TAND địa
phương, Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu, Tòa án quân sự khu vực do
Chánh án TAND Tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của các
Hội đồng Thẩm phán. TAND Tối cao quản lý về tổ chức nhân sự đối với các
TAND địa phương, các Tòa án quân sự. Hoạt động của TAND các cấp đặt dưới
sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và sự chỉ đạo, lãnh đạo
của TAND cấp trên trực tiếp. Các TAND địa phương chịu sự quản lý về chuyên
môn của TAND tối cao.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
1.2.1. Chức năng của Tòa án nhân dân
a. Khái niệm và bản chất hoạt động xét xử của TAND

cáo hoặc kháng nghị và bị Tòa án cấp trên xem xét lại theo các thủ tục phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm để cải, sửa hoặc hủy bỏ bản án đó.
Hoạt động xét xử của Tòa án là một hoạt động sáng tạo của TAND, thông
thường khi xây dựng pháp luật, nhà làm luật không thể dự kiến được hết các tình
tiết, hoàn cảnh sự việc, hành vi diễn ra trong hiện thực cuộc sống. Do đó, đòi hỏi
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu kỹ lưỡng, toàn diện mọi chi
tiết, điều kiện, hoàn cảnh liên quan đến vụ án đó để có cách thức giải quyết tốt
nhất, hợp lý nhất phù hợp với quy định nêu ra trong quy phạm pháp luật. Để có
bản án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đòi hỏi Thẩm phán và Hội
thẩm phải có tri thức tổng hợp về cuộc sống, về pháp luật, có kinh nghiệm sống
phong phú và sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống, để giúp Thẩm phán cũng
như Hội thẩm có được những quyết sách đúng đắn hợp lòng dân và bảo đảm sự
tuân thủ pháp luật.
b. Đối tượng xét xử của Tòa án nhân dân
Đối tượng xét xử của TAND là tổng hợp các loại việc mà TAND có
quyền thụ lý để tiến hành xét xử sơ thẩm. TAND xét xử những vụ án hình sự,
dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những
việc khác theo quy định của pháp luật (Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002)
Đối với các vụ án hình sự: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành
vi theo tội danh mà Viện kiển sát nhân dân truy tố; Tòa án xét xử các vụ án hình
sự nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân tránh những việc
làm tùy tiện, và không phải bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng có quyền kết tội
một công dân; chỉ có Tòa án là cơ quan có đủ điều kiện để xác định một người
có tội hay không có tội và áp dụng loại và mức hình phạt phù hợp với hành vi
phạm tội; quy định chỉ có TAND là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án
hình sự phù hợp với nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết
tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.
Đối với các vụ án dân sự: Tòa án chỉ xét xử các vụ án dân sự trong trường
hợp công dân, pháp nhân, tổ chức khởi kiện hoặc Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu
Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của tập thể, của nhà nước

TAND cần phải giải quyết. Trong những nhiệm vụ của TAND có nhiệm vụ
chung, cơ bản và lâu dài. Để thực hiện những nhiệm vụ chung ấy, TAND cần
thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng của đất nước.
Theo quy định của Điều 126 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Luật tổ chức
TAND năm 2002 quy định: “Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có
nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và
quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ
tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Bằng hoạt động
của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý
thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác”.
Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, chế độ XHCN và bảo vệ các quyền tự do,
dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của
TAND. Nó thể hiện rõ nét bản chất dân chủ và nhân đạo của TAND của nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
TAND thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo đảm việc nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, tôn trọng pháp chế XHCN. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích hợp
pháp của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải được phát hiện
kịp thời xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, không làm oan người ngay, nhưng
cũng không để lọt tội phạm. Thông qua hoạt động xét xử, TAND có nhiệm vụ
giáo dục công dân lòng chung thành với tổ quốc Việt Nam, với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, có ý thức chấp hành nghiệm chỉnh pháp luật, tôn trọng
những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm và các vi phạm pháp luật khác. Những vụ án đưa ra xét xử công khai là
nhằm giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật, góp phần vào sự hình thành
và phát triển nền văn hóa pháp lý XHCN với tư cách là một bộ phận cấu thành
của nền văn hóa nói chung.
Để nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật của hoạt động xét xử TAND các
cấp đã dành nhiều quan tâm đến việc tổ chức nội dung và hình thức phiên tòa
xét xử, người có tội phải bị xét xử đúng pháp luật. Phán quyết của Tòa án phải

bầu Thẩm phán ở nhiều địa phương còn rất hình thức, chưa lựa chọn được
những người có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt để làm Thẩm phán.
Nhiệm kỳ hoạt động ngắn làm cho Thẩm phán không có ý thức trau dồi kiến
thức chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt không yêu tâm công tác, hoạt động xét xử
của Tòa án không bảo đảm nguyên tắc độc lập chỉ tuân theo pháp luật vì tâm lý
nếu không được lòng chính quyền…Để khắc phục những hạn chế của chế độ
bầu Thẩm phán, Điều 128 Hiến pháp năm 1992 và Điều 3 Luật tổ chức TAND
quy định chế độ bổ nhiệm Thẩm phán thay cho chế độ bầu Thẩm phán. Các
Thẩm phán của TAND các cấp đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm
cách chức theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán các cấp. Nhiệm kỳ
hoạt động của Thẩm phán là năm năm (riêng Chánh án TAND Tối cao do Quốc
hội bầu và bãi nhiệm, miễn nhiệm). Để thực hiện chế độ bổ nhiệm đối với Thẩm
phán TAND các cấp, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân năm 1993, trong đó quy định rõ tiêu chuẩn cụ thể về chuyên
môn, nghiệp vụ, chính trị, đạo đức của Thẩm phán. Trước khi được bổ nhiệm
làm Thẩm phán, người đó phải qua sự sơ tuyển của Hội đồng tuyển chọn.
Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán bảo đảm cho nhà nước lựa chọn được
những người có đủ điều kiện về trình độ, nghiệp vụ, về tư cách đạo đức chính
trị, đạo đức nghề nghiệp để thực hiện chức năng xét xử của Tòa án. Thẩm phán
được bổ nhiệm sẽ yên tâm công tác, có điều kiện để tích lũy kiến thức, kinh
nghiệm xét xử, nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm cá nhân
đảm bảo thực hiện được nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật
 Nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân dân (Hội thẩm quân
nhân tham gia), Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 129 Hiến Pháp năm 1992 và Điều
4 Luật tổ chức TAND năm 2002. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền
với Thẩm phán là điều kiện để Hội thẩm nhân dân phát huy được vai trò là
người đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án.
Nguyên tắc này giúp bảo đảm tính nghiêm minh, đúng pháp luật và họ

lợi ích hợp pháp của công dân. Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thật
sự chí công vô tư, kiên quyết bảo vệ pháp luật.
 Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp
năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 (Điều 131) và các Luật tổ chức TAND
năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm 2002.
Hội đồng xét xử sơ thẩm của các TAND địa phương: gồm một Thẩm
phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm
trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhân
dân. Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có
mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm
nhân dân; Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp
cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm nhân dân. Tòa chuyên trách TAND Tối
cao hoặc Tòa án quân sự trung ương gồm ba Thẩm phán. Nếu Ủy ban Thẩm
phán hoặc Hội đồng Thẩm phán giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì thành viên
tham gia xét xử phải chiếm 2/3 tổng số các thành viên của Ủy ban Thẩm phán
hoặc Hội đồng thẩm phán tham gia. Nguyên tắc này phát huy được trí tuệ tập thể
và bảo đảm việc xét xử của Tòa án thận trọng, khách quan, toàn diện, chống độc
đoán. Hội đồng xét xử làm việc tập thể và chịu trách nhiệm trước những phán
quyết của mình mọi thành viên Hội đồng xét xử ngang quyền nhau.
 Nguyên tắc Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định
Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và cụ thể hóa trong các luật tổ chức
TAND năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm 2002.
Nguyên tắc xét xử công khai là một trong những nguyên tắc dân chủ của
hoạt động xét xử XHCN. Nguyên tắc này góp phần vào việc giáo dục và nâng
cao ý thức tôn trọng pháp luật, thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào cuộc đấu
tranh, chống tội phạm và các vi phạm. Mặt khác nguyên tắc này đảm bảo cho
nhân dân quyền tham dự phiên tòa, tạo điều kiện cho nhân dân giám sát hoạt
động của Tòa án cũng như các cơ quan chức năng khác, nâng cao ý thức trách

sự “chí công vô tư” trong hoạt động xét xử, chống sự áp đặt từ bên ngoài.
 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Đây là nguyên tắc được quy định trong các bản Hiến pháp năm 1946 đến
năm 1992 và các Luật tổ chức TAND năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm
2002, là nguyên tắc dân chủ trong hoạt động tố tụng của Tòa án. Nội dung
nguyên tắc này quy định bị cáo có quyền bào chữa hoặc nhờ luật sư, bào chữa
viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của bị cáo bào chữa cho bị cáo. Bảo
đảm quyền bào chữa của bị cáo là nhằm làm cho việc xét xử của Tòa án được
khách quan, toàn diện và chính xác. Quyền bào chữa là quyền cần thiết và quan
trọng của công dân được quán triệt trong các giai đoạn tố tụng.
Để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo trong những
trường hợp do luật định thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu
cầu Đoàn luật sư của người bào chữa cho họ. Đó là các trường hợp bị can, bị cáo
phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ
Luật hình sự; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về
thể chất hoặc tinh thần. người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tự mình hoặc có quyền nhờ luật sư
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
 Nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết
của dân tộc mình trước Tòa án
Nguyên tắc này thể hiện rõ chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta.
Nhà nước ta thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân

Trích đoạn Các biện pháp bảo đảm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp Thành lập hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử Thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực Thành lập Tòa án cấp phúc thẩm Thành lập các Tòa Thượng thẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status