ĐỔI mới tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của tòa án VIỆT NAM - Pdf 23

LỜI CÁM ƠN
Trong những năm tháng học tập và sinh hoạt tại Khoa Luật-Đại học
Quốc gia Hà Nội, em đã được mọi người, từ các thầy, cô giáo đến các bảo vệ,
các cô lao công nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ. Các thầy, các cô không chỉ dạy em
về kiến thức mà còn cả tác phong, kinh nghiệm cuộc sống. Tin rằng, với
những điều mà em đã học được từ các thầy cô, em sẽ trở thành con người có
ích cho xã hội, cho gia đình.Và ngày hôm nay, em muốn được gửi lời cảm ơn
sâu sắc nhất, lời cảm ơn từ đáy lòng đến các thầy, các cô.
Xin được cám ơn GS.TS Nguyễn Đăng Dung đã viết ra những tác phẩm
hay trở thành nguồn tham khảo to lớn cho em hoàn thành khóa luận này.
Xin được cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên, gắn bó, giúp sức em
học tập và hoàn thành khóa luận.
Xin được cám ơn TS. Trần Nho Thìn đã có những chỉ dẫn quan trọng,
những định hướng chủ đạo cho em hoàn thành khóa luận.
Cám ơn, cám ơn mọi người rất nhiều!!!
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014.
Sinh viên
Phạm Văn Hiệp
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TAND Tòa án nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
HĐND Hội đồng nhân dân
2
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của
Đảng ta trong những năm vừa qua, đặc biệt từ khi nhiệm vụ xây dựng Nhà
nước pháp quyền được chính thức ghi nhận vào trong Hiến pháp (2001) đã

buộc và hoạt động nhằm mục đích bảo vệ công lý (Khoản 3 Điều 102 Hiến
pháp năm 2013). Trên thế giới có nhiều loại hình Tòa án nhưng một trong
những tiêu chí cơ bản của Tòa án đó là phải có được tính độc lập của mình,
tách rời quyền lực lập pháp và hành pháp, không bị chi phối bởi các nhánh
quyền lực kia.
Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng và Nhà nước luôn
chủ trương xây dựng hệ thống Tòa án chuyên nghiệp, độc lập. Tuy nhiên,
trong tiến trình lịch sử của đất nước, trong điều kiện chiến tranh giải phóng
dân tộc từ 1945 đến 1975, các cuộc chiến tranh biên giới, một thời gian bị cô
lập, đất nước còn nhiều khó khăn, hoạt động của hệ thống Tòa án cũng không
phải ngoại lệ, gặp vô vàn trở ngại trong tổ chức và hoạt động. Nhưng từ khi
công cuộc Đổi mới do Đảng lãnh đạo thực hiện từ 1986 đến nay, đất nước đã
có một diện mạo mới, ngành Tòa án cũng có những điều kiện mới, vận hội
mới, những sự giao lưu mới. Tòa án ngày càng có tính độc lập và hoạt động
đạt hiệu quả ngày càng tốt hơn.
Đi kèm với những thành tựu trong tổ chức và hoạt động của Tòa án thì
cũng có những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của mình. Nhận thấy
những thiếu sót đó, Đảng và Nhà nước đã liên tục có những chủ trương và
chính sách nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án. Cụ thể,
ngày 02/6/2005, Bộ chính trị đã ban hành Nghị Quyết 49-NQ/TW về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Ngày 28/7/2010, Bộ Chính trị đã ban
hành Kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa
án, Viện kiểm sát và cơ quan điều tra theo tinh thần Nghị quyết trên trong
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
5
Do đó, việc nghiên đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cần thiết,
nhằm cung cấp những luận cứ khoa học và tổng kết thực tiễn để kiện toàn về tổ
chức nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống cơ quan này.
2. Tình hình nghiên cứu

quyền XHCN ở Việt Nam” của GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 3 năm 2000;
- “Cải cách tư pháp: ý nghĩa, mục đích và trọng tâm” của GS. TSKH. Đào Trí
Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2, 2003;
- “Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước “của GS.TS. Nguyễn
Đăng Dung, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học số 25 năm
2009;
- “Một số biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật” của PGS.TS. Phạm Hồng Hải, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 5, 2003;
- “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân” của Ts. Trần Văn Độ,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11, 2003.
Không chỉ các học giả trong nước quan tâm đến các vấn đề của Tòa án
trong Nhà nước pháp quyền mà các học giả trên thế giới cũng hết sức quan
tâm đến vấn đề này. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc tinh túy từ các ý tưởng,
nghiên cứu của các học giả trong nước và trên thế giới, tác giả Khóa luận triển
khai nghiên cứu vấn đề này nhằm đóng góp công sức bé nhỏ của mình vào
công cuộc cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, đánh giá các tư tưởng, học thuyết về nội dung và mô hình tổ
chức và hoạt động Tòa án ở Việt Nam.
Làm rõ vị trí, vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền.
Kiến nghi khả năng vận dụng lý luận và kinh nghiệm tổ chức và hoạt
động Tòa án trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của
Tòa án ở Việt Nam.
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt
động của Tòa án trong thời kì Đổi mới từ năm 1986 đến nay nhằm đem đến

thức tìm kiếm sự tổ chức hợp lý của hệ thống quyền lực nhà nước. Hai nhà tư
tưởng lớn tiêu biểu cho thời kì này là các triết gia nổi tiếng Platon và Aristole.
Tiếp theo đó là một quá trình lịch sử châu Âu chìm trong đêm trường
trung cổ, phong kiến kéo dài, tưởng như tư tưởng pháp quyền đã biến mất.
Nhưng đột nhiên, các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ, các tư tưởng của thời
kỳ Phục hưng bùng cháy lên và soi rọi cho nhân loại. Tư tưởng pháp quyền
được phát triển và hòa quyện vào các học thuyết phân quyền, chủ nghĩa lập
hiến, dân chủ, tự do, quyền con người. Các tên tuổi và các tác phẩm bất hủ
trong thời kỳ này cần phải kể đến J. Loke với tác phẩm “Khảo luận lần thứ
hai về chính quyền”, J.J Rousseau với tác phẩm “Khế ước xã hội” và Ch. L.
Montesquieu với tác phẩm “Tinh thần pháp luật”. Các tư tưởng pháp quyền
này tuy có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều đề cao các giá trị
dân chủ, tự do và quyền con người.
Trong lịch sử cận đại, đặc biệt là vào cuối thế kỷ XIX trong các học
thuyết pháp lý của Đức, lý thuyết về Nhà nước pháp quyền đã trở thành một
quan điểm chính thống, thống trị trong nền chính trị với thuộc tính bảo đảm
cho an toàn pháp lý và cho các tự do cơ bản.
9
Trước khi trở thành một thuật ngữ phổ biến trong khoa học pháp lý và
khoa học chính trị thế kỷ XX, Nhà nước pháp quyền đã được biết đến từ
nhiều thập kỷ trước với một số giai đoạn phát triển.
Giai đoạn phát triển thứ nhất: Các quan điểm được đưa ra bởi các luật
gia và được sử dụng bởi các luật gia. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Nhà
nước pháp quyền đã trở thành trung tâm của các tranh luận mang tính triết
học và chính trị liên quan đến vai trò của Nhà nước. Khái niệm Nhà nước
pháp quyền đã được du nhập vào một số nước có truyền thống pháp luật
Anglo-saxon và các nước phương Đông và phương Nam, trở thành một chuẩn
mực quốc tế mà các quốc gia cố gắng để phù hợp.
Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, Nhà nước pháp quyền là thuật ngữ
được sự ghi nhận rộng rãi, thậm chí còn được sử dụng trong các bản Hiến

được bổ sung thêm một số yêu cầu, Rechtsstaat bao gồm các nguyên tắc pháp
lý thúc đẩy tiếp cận công lý, nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức bộ
máy nhà nước và sự công nhận các quyền con người.
Đó là hai cách tiếp cận của người Anh và người Đức, thế còn Hoa Kỳ -
quốc gia có một nền khoa học pháp lý phát triển hàng đầu thế giới thì sao?
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các học thuyết pháp quyền hiện đại Giáo sư
Richard H. Fallon từ đại học Havard khẳng định, pháp quyền được công nhận
khi có đủ các yếu tố sau đây :
- Mọi người có thể hiểu pháp luật và tuân thủ chúng;
- Tính hiệu lực của pháp luật khi thực sự hướng dẫn dân chúng;
- Tính ổn định của pháp luật;
- Tính tối cao của pháp luật;
- Những thiết chế để thực thi một nền công lý không thiên vị với những thủ tục
xét xử công bằng.
Như vậy nhìn chung các hướng tiếp cận về pháp quyền trên thế giới là
hết sức đa dạng, thậm chí là cạnh tranh lẫn nhau nhưng chúng không loại trừ
lẫn nhau mà cần phải xem xét trong mối quan hệ biện chứng, liên tục, đan
xen, gắn bó và bổ sung cho nhau.
1.1.2 Nhận thức chung về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
11
Ở Việt Nam, các quan điểm về Nhà nước pháp quyền mới được nghiên
cứu và phổ biến trong khoảng 20 năm nhưng thực sự cách đây gần một thế kỷ
đã có người nhắc đến hai từ “pháp quyền”. Đó chính là Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1919, khi các nước thắng trận trong thế chiến thứ nhất đang họp
tại Véc-xai (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã gửi: “Bản yêu sách của nhân dân An
Nam” tới các nước Đồng minh thắng trận và Chính phủ Pháp. Trong đó tại
Điều 7 của Bản yêu sách này có ghi : “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế
độ ra các đạo luật”. Sau này, Người đã thể hiện lại 8 điểm trong bản yêu sách
này bằng lời ca và điều 7 được thể hiện: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm
điều phải có thần linh pháp quyền” (Yêu cầu ca).

kinh tế, xã hội…”
1
.
Đại hội lần thứ VII của Đảng xác định thực hiện dân chủ XHCN là thực
chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu
vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Như vậy, việc đổi mới vừa là kiên
toàn hệ thống chính trị của Đảng ta đặt ra như một tất yếu để thực hiện và
phát huy dân chủ XHCN.
Quan điểm của Đảng về Nhà nước trong “Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” tại đại hội Đảng lần thứ VII
(6/1991) đã nhấn mạnh đến những vẫn đề có tính nền tảng đối với tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước trong một chế độ dân chủ - pháp quyền: có
đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp, quản lý xã hội bằng luật pháp;
thống nhất quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp)
với sự phân công rành mạch ba quyền đó. Tuy chưa đề cập trực tiếp đến phạm
trù Nhà nước pháp quyền nhưng sự thể hiện các vấn đề cơ bản có tính pháp
quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở tầm cương lĩnh chính trị cho thấy
quyết tâm chính trị của Đảng ta trong đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà
nước theo các yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN trong bối
cảnh cụ thể ở nước ta.
1 Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần VI tháng 12 năm 1986, phần 4 “Về phát huy về làm chủ
tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lỷ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa”
13
Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII (1994) lần đầu
tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền”. Đại hội
đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2002) và Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X (4/2006) đã tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà
nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội Đảng XI
(1/2011) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa và khẳng định “tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện

1.2 Tòa án là một thành tố quan trọng của quyền lực Nhà nước
1.2.1. Quyền tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới
Ở các nước trên thế giới, nhất là phương Tây, tư pháp được hiểu là một
nhánh quyền lực độc lập trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước. Đó là
nhánh quyền lực thứ ba – Quyền tư pháp trong cơ chế phân quyền giữa các
nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Khái niệm tư pháp thuộc nội
hàm của khái niệm quyền lực nhà nước. Chủ thể thực hiện quyền lực này mà
không phải bất kỳ cơ quan Nhà nước nào mà chỉ có Tòa án – cơ quan có khả
năng và năng lực vốn có của mình để tác động đến hành vi của con người và
thông qua đó tác động đến quá trình hoạt động diễn ra trong xã hội. Thực ra
không chỉ có tác động đến con người mà Tòa án còn có khả năng tác động
đến các cơ quan nhà nước khác. Tòa án là một thể chế tư pháp độc lập trong
hệ thống bộ máy nhà nước. Khi đề cập đến tư pháp, các hoạt động tư pháp có
nghĩa là đề cập đến một trong ba quyền cơ bản nhất của hệ thống quyền lực
nhà nước và Tòa án chính là một hệ thống cơ quan độc lập của Nhà nước thực
hiện quyền tư pháp.
Ngay từ thời cổ Hy Lạp và La Mã người ta đã khẳng định : Ở đâu có
pháp luật, thì ở đó phải có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành
một cách nghiêm chỉnh.Sự bảo đảm đó trước hết phải bằng hoạt động của các
cơ quan trong hệ thống nhà nước. Các cơ quan nhà nước này có chức năng xét
xử các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật nhà nước. Và các cơ quan
này được gọi là Tòa án
2
.
2 Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, GS. TS Nguyễn Đăng Dung,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr 78.
15
Các loại hình Tòa án trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến đều
nằm trong tay giai cấp thống trị, phục vụ quyền lợi cho giai cấp này, và
“Chánh án tối cao” của nó lại chính là một người được gọi là Vua. Chỉ sau

… luôn luôn duy trì một hệ thống Tòa án độc lập, bảo vệ hệ thống này trước
sự xâm phạm của hai ngành quyền lực lập pháp và hành pháp. Điều này xuất
phát từ một thực tế là hai ngành quyền lực lập pháp và hành pháp thường có
sự gắn kết chặt chẽ với nhau. Nếu như ở các nước theo thể chế đại nghị, như
Anh, Đức, chính phủ do phe đa số trong Nghị viện lập nên, thường các chính
sách pháp luật, các đạo luật thường do Chính phủ đệ trình. Ngoài ra thì Chính
phủ còn có khả năng ban hành các văn bản dưới luật nhằm đưa các quy phạm
này vào đời sống xã hội. Nếu như ở các nước Cộng hòa Tổng thống, như Hoa
Kỳ thì Tổng thống thường can thiệp vào việc lập pháp thông qua Thông điệp
Liên bang hoặc qua các thành viên trong đảng của mình, hoặc qua các nghị sĩ
thân cận với mình. Việc kết hợp này thường không có gì sai trái, vì điều đó
góp phần cho pháp luật đi vào cuộc sống. Ngoài ra, hai ngành này thường có
sự cân bằng nhất định, nhất là ở Hoa Kỳ. Nhưng nếu như ngành tư pháp mà
kết hợp với một trong hai ngành này thì là một sự nguy hại vô cùng, bởi vì
với bản tính mềm yếu của mình, ngành tư pháp dễ bị lệ thuộc. Đồng thời sẽ
tạo ra tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Như thế sẽ chẳng còn gì bảo
đảm cho người dân được hưởng một hệ thống pháp luật công bằng.
Chính vì các lí do trên và thực tiễn đã chứng minh ở bất kì một thể chế
chính trị đương đại nào trên thế giới thì sự kết hợp chủ yếu là giữa lập pháp
và hành pháp, còn tư pháp thì luôn luôn phải độc lập. Mối quan hệ giữa tính
độc lập của Tòa án với Nhà nước pháp quyền là mối quan hệ điều kiện, mối
quan hệ cần và đủ. Nhà nước pháp quyền cần phải có một hệ thống Tòa án
độc lập, ngược lại, hệ thống Tòa án độc lập thì mới đủ để Nhà nước pháp
quyền hình thành.
1.2.2 Quyền tư pháp ở Việt Nam
Việt Nam với những đặc điểm của lịch sử, của tư duy pháp lý thì khái
niệm “tư pháp” của Việt Nam không đồng nhất. Ở các nước nói trên, khái
niệm tư pháp chỉ được dùng để chỉ hoạt động của Tòa án, thì ở Việt Nam khái
niệm tư pháp không chỉ được dùng cho hệ thống Tòa án, mà còn các cơ quan
17

4 Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, ngày 30/9/2013
18
Đó là chưa kể đến chất lượng luật sư. Thực tế, trong hoạt động tư vấn
pháp luật, chủ yếu các luật sự tư vấn về dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình,
còn số lượng luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh,
thương mại (sở hữu trí tuệ, tài chính ngân hàng, hàng không, hàng hải, bảo
hiểm, thương mại quốc tế…) rất ít, chiếm tỷ lệ 1,2%, trong đó, chỉ khoảng 20
luật sư có trình độ ngang tầm với luật sư trong khu vực.
Nhìn chung, các cơ quan như Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan
thi hành án, đội ngũ luật sư đều có những bước chuyển mình mới, tuy nhiên
trọng tâm của chiến lược cải cách tư pháp phải hướng đến Tòa án. Do Tòa án
là cơ quan tiến hành xét xử, đảm bảo sự thật và sự công bằng dựa trên ba lĩnh
vực như đã nói ở trên. Việt Nam cần hướng đến lấy Tòa án làm trung tâm của
hoạt động tư pháp.
Đồng thời với đó, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện này thì Tòa án không chỉ là trung tâm của hoạt
động tư pháp mà còn phải độc lập, tách riêng ra so với hai ngành lập pháp và
hành pháp. Tuy nhiên, ở nước ta, trước nay thì có một số hạn chế, như tổ chức
của Tòa án theo đơn vị hành chính, Chánh án các Tòa thường phải báo cáo
cho HĐND địa phương, vô hình chung nhánh hành pháp ở địa phương đã ảnh
hưởng đến Tòa án, đến tư pháp. Do đó Tòa án chưa có được sự độc lập cho
riêng mình.
Một vấn đề nữa là số lượng thẩm phán còn hạn chế, các hội thẩm nhân
dân chưa đáp ứng được kỳ vọng. Thậm chí chất lượng của đội ngũ thẩm phán
còn chưa được đảm bảo, chẳng thế mà trong năm 2005, khi trả lời chất vấn
của đại biểu Quốc hội, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao khi đó còn tuyên
bố : “Nhiều nơi hiện nay phải vơ vét thẩm phán cho đủ số”. Với một đội ngũ
thẩm phán như thế thì ngay cả về chuyên môn ngành Tòa án cũng chưa đáp
ứng được chứ chưa nói về vấn đề phân chia quyền lực.
Như vậy, nền tư pháp Việt Nam với những đặc thù riêng có của mình

gia đình bạn? Hẳn nhiên là không! Thẩm phán cũng là những con người, họ
cũng có gia đình, cũng có những ham muốn bình thường. Vì vậy, lương bổng
của Thẩm phán trong bất cứ điều kiện nào cũng phải được đảm bảo một cách
đầy đủ, không phụ thuộc vào biến động kinh tế hay sự lạm phát. Mức lương
không chỉ đủ nuôi sống họ mà còn có thể đem đến cho họ và gia đình một
mức sống khá giả.
Ngoài ra chế độ lương bổng ở đây còn bao hàm cả những chi phí tối
thiểu phục vụ cho hoạt động của Tòa án như trụ sở, chi phí điện nước… Nếu
không có những điều đó thì tất cả là vô nghĩa.
21
Bạn có thể vô tư khi không phải chịu trách nhiệm về hành động của
mình nhưng những hành động đúng đắn sẽ không đến. Vì nếu như bạn không
phải chịu trách nhiệm hay trách nhiệm ít, bạn sẽ không sợ gì cả. Điều đó là
nguy hại vô cùng. Do đó, đặc biệt là Thẩm phán, khi mà các phán quyết của
họ ảnh hưởng vô cùng lớn, đôi khi là cả tính mạng con người thì họ phải chịu
trách nhiệm về những hành động của mình. Nhờ đó giúp cho hệ thống Tòa án
nói riêng và hệ thống tư pháp nói chung ở Việt Nam có có hiệu quả hơn, công
bằng hơn. Việc xét xử phải được công khai, phải có cơ chế để bãi miễn Thẩm
phán khi những người này làm sai do lỗi của chính họ.
Có người nói Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, không cần quan tâm
đến điều gì khác. Nhưng nếu như thế con người nên sáng tạo ra một cái máy
đọc luật hơn là đào tạo Thẩm phán. Thẩm phán cần có đạo đức.
Công việc của một Thẩm phán là phải áp dụng từng quy định cụ thể
của pháp luật vào trong từng trường hợp cụ thể của cuộc sống. Cuộc sống
muôn màu, muôn vẻ, đôi khi có những điều tưởng chừng là đúng nhưng lại
không thể xét xử như thế được. Và lúc đó thì lương tâm của người thẩm phán
phải lên tiếng.
Nhưng đạo đức của Thẩm phán chính là xét xử đúng pháp luật, một
việc cần phải được rèn luyện thông qua nghiệp vụ chuyên môn. Chúng ta
không dựa vào bằng cấp một cách máy móc, nhưng chúng ta cũng không thể

Như đã nói ở trên, ngành tư pháp có trách nhiệm hạn chế quyền lực với
ngành lập pháp và hành pháp. Tuy nhiên, trong Nhà nước pháp quyền, mọi
thứ đều theo luật, luật pháp cũng phải hạn chế quyền lực của Tòa án. Tòa án
phải tự hạn chế hoặc bị bắt buộc hạn chế theo luật định, nếu không Tòa án
cũng sẽ trở thành “con thủy quái lạm quyền”. Vậy làm thế nào để hạn chế
được hoạt động của Tòa án? Tòa án phải luôn tổ chức và hoạt động theo các
nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, Tòa án chỉ được xét xử khi có tranh chấp. Đây là giới hạn
đầu tiên và căn bản nhất của hoạt động tư pháp, sự tranh chấp ở đây không
chỉ giữa các công dân với nhau mà còn giữa công dân với Nhà nước.
23
Thứ hai, luận điểm phải cụ thể. Điều này có nghĩa là Tòa án không thể
xét xử theo tình, tình khác lương tâm, mà phải theo luật định. Nếu một người
không có căn cứ cho rằng theo Hiến pháp và pháp luật quyền lợi của mình bị
xâm phạm thì Tòa án không xét xử.
Thứ ba, người hưởng lợi không được kiện. Điều này có thể giải thích
do người đó không bị xâm phạm vì quyền lợi, họ không cần đến sự bảo vệ
của Tòa án, việc đi kiện của họ chỉ nhằm thỏa mãn lòng tham vô đáy, tính vị
kỉ của họ, không mang đến sự cân bằng xã hội.
Thứ tư, các giải pháp khác phải được tính đến trước khi đi đến Tòa án.
Điều này một phần nhằm giảm tải cho Tòa án, hạn chế chi phí nhưng quan
trọng nhất là đem đến một sự hạn chế hoạt động của Tòa án.Ví dụ như ly hôn
bắt buộc phải qua hòa giải.
Thứ năm, Tòa án không thể xét xử các yếu tố chính trị, tính sáng suốt
của ngành lập pháp hay hành pháp. Điều này có nghĩa là Tòa án không thể
xét xử vấn đề hợp lý hay không mà chỉ xem xét tính hợp pháp của các hoạt
động.
24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status