Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân trong tiến trình cái cách tư pháp - Pdf 10

Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân
dân trong tiến trình cái cách tư pháp

Phan Đức Phương

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Tuân
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức quyền lực Nhà nước, quyền tư pháp để làm
rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước, các quan
điểm về đổi mới, yêu cầu của cải cách tư pháp đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của
tòa án nhân dân. Từ đó làm rõ thực trạng tổ chức, hoạt động của tòa án nhân dân ở nước
ta và nêu nguyên nhân, hạn chế trong tiến trình cải cách tư pháp. Đề xuất những phương
hướng cơ bản và kiến nghị về xác định lại thẩm quyền xét xử và thiết kế mới mô hình tổ
chức của các tòa án; nâng cao tính độc lập, nghiêm minh của hoạt động xét xử; nâng cao
năng lực, phẩm chất và địa vị pháp lý của thẩm pháp, hội thẩm nhân dân, nhằm đổi mới
và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, xây dựng hệ thống tòa án trong
sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử nói chung

Keywords: Cải cách tư pháp; Pháp luật Việt Nam; Tòa án Content
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu

Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách họat động xét xử làm trọng tâm, thực hiện
cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến
pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp… [15,tr.126].
Như vậy, cả Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị và Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đều xác định tòa án nhân dân phải tiến hành đổi
mới tổ chức và hoạt động đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Do đó, tòa án nhân dân phải chủ
động chuẩn bị tất cả các điều kiện để thực hiện thành công việc đổi mới tổ chức và hoạt động
phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp. Đến đây hàng loạt các vấn đề về lý luận và thực tiễn
được đặt ra khi đổi mới tổ chức, hoạt động của tòa án nhân dân đòi hỏi phải được quan tâm
nghiên cứu.
Với lý do nêu trên, học viên đã chọn đề tài: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án
nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp " để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành lý luận và
lịch sử nhà nước và pháp luật. Đây là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học, các bài viết trên các tạp chí
liên quan đến nội dung tổ chức hoạt động của tòa án nhân dân. Có thể phân loại thành hai nhóm
như sau:
- Nhóm thứ nhất: Những công trình là đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, các luận án
tiến sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến tòa án nhân
dân như: Đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX.04.06 "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn
thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân". Luận án tiến sĩ luật học, Viện
nghiên cứu nhà nước và pháp luật "Đổi mới tổ chức và hoạt động tòa án nhân dân ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay " của tác giả Lê Thành Dương năm 2002. Luận án tiến sĩ luật học, Đại
học luật Hà nội "Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà
nước pháp quyền" của tác giả Trần Huy Liệu năm 2003. Luận án tiến sĩ luật học, Đại học quốc gia
Hà nội "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống cơ quan tòa án Việt Nam theo định
hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền" của tác giả Đỗ Thị Ngọc Tuyết năm 2005. Sách tham khảo:
"Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Giao
thông vận tải năm 2002; "Hệ thống tư pháp và cái cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay" của tập thể các

pháp để làm rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của tòa án nhân dân trong bộ máy Nhà nước, các
quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, yêu cầu của cải cách tư pháp
đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân.
+ Làm rõ thực trạng tổ chức, hoạt động tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay.
+ Đề xuất những phương hướng cơ bản cho việc đổi mới và hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận văn tập
trung phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân
đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, nên đối tượng là những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân ở Việt Nam.
Luận văn chỉ nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, không nghiên cứu
về tổ chức và hoạt động của tòa án quân sự.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thể hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận và lịch
sử Nhà nước và Pháp luật, về đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân trong tiến trình
cải cách tư pháp, những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới.
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, các phương pháp được sử dụng là các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa
học xã hội, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp,
lịch sử cụ thể, đồng thời cũng sử dụng phương pháp luật học so sánh, phương pháp lý thuyết hệ
thống, phương pháp thống kê …
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực tiễn
trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư
pháp.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người
làm thực tiễn, đồng thời có thể sử dụng được cho việc nghiên cứu, giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn

[1,tr.71].
1.2 Các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án ở nƣớc ta hiện nay.
Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là nguyên tắc " là tiền đề nền tảng của tư pháp trong Nhà nước pháp quyền "
[34,tr.32]. Nguyên tắc này bảo đảm cho tòa án ra những quyết định, bản án đúng pháp luật, thật
sự công bằng và khách quan. Theo nguyên tắc này khi xét xử, thẩm phán không bị ràng buộc bởi
bất cứ cơ quan hoặc cá nhân nào để xét xử khách quan, công bằng và nghiêm minh. Thẩm phán
phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình.
Nguyên tắc bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52 - Hiến pháp
1992). Trong hoạt động xét xử người tiến hành tố tụng phải tuân thủ pháp luật trong mọi hoạt
động, xác minh điều tra, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật phải đúng đắn, không vì bất cứ lý
do gì mà thiên vị bất cứ ai, bất cứ đương sự nào trong vụ án, không phân biệt địa vị, trình độ,
giới tính, đảng phái. Đảm bảo mọi hành vi vi phạm, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân và Nhà nước đều bị xử lý công bằng nghiêm minh đúng pháp luật.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự (Điều 132 Hiến pháp 1992 và Điều 9 Luật tổ chức TAND).
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử của tòa án, bảo đảm
cho bị can, bị cáo không bị thiệt hại về quyền và những lợi ích hợp pháp.
Nguyên tắc tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 11 Luật tổ chức TAND).
Nguyên tắc này một mặt đảm bảo sự kiểm tra, giám sát, khiếu nại của chính các đương
sự, bị cáo, người bị hại đối với bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án thông qua việc thực hiện
quyền kháng cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác, tạo ra công cụ tự
kiểm tra, giám sát của hệ thống tư pháp - thông qua quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân hoặc của Tòa án cấp trên đối với quyết định, bản án sơ thẩm của tòa án cấp dưới.
Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của tòa án.
Công lý chỉ được khôi phục và duy trì, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ
chức, công dân chỉ được bảo đảm trên thực tế khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp
luật được thi hành.
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của tòa án ở nƣớc ta.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số

Hệ thống tòa án nhân dân gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa
phương, các tòa án quân sự (Điều 97).
Hiến pháp năm 1980 ra đời với những bước tiến mới đáng kể trong các quy định về tổ
chức bộ máy Nhà nước, trong đó hệ thống tòa án nhân dân giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng,
ngày càng được không ngừng hoàn thiện và phát triển.
Việc tổ chức của các tòa án nhân dân địa phương và tòa án quân sự quân khu do Bộ Tư
pháp quản lý. Đây là điều kiện quan trọng, tạo điều kiện cho tòa án nhân dân tối cao làm tốt công
tác hướng dẫn và tổng kết kinh nghiệm xét xử, đồng thời cũng tạo điều kiện tốt cho hoạt động
xét xử của tòa án. Như vậy, về cơ bản, vị trí, vai trò của tòa án nhân dân vẫn giống như Hiến
pháp năm 1959.
Đến Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức TAND 1992, về cơ bản mô hình tổ chức và hoạt
động của tòa án vẫn như Hiến pháp 1980, tuy nhiên có sự thay đổi, đó là việc thay chế độ bầu
thẩm phán bằng việc bổ nhiệm thẩm phán ở tòa án các cấp, thẩm phán do Chủ tịch nước bổ
nhiệm, việc quản lý tòa án địa phương Bộ Tư pháp vẫn quản lý.

Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở NƢỚC
TA HIỆN NAY

2.1. Tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành.
Về tổ chức tòa án
Theo hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 ở nước ta có
các tòa án sau: Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, các tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các tòa án quân sự, các tòa
án khác theo luật định … [7,tr.8].
Về hoạt động của tòa án
Theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức tòa án nhân dân 2002 thì tòa án xét
xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính và giải quyết những
việc khác theo quy định của pháp luật.
2.2 Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và họat động của tòa án nhân dân ở nước ta

người dân. Hiện tại khi thẩm quyền xét xử của cấp huyện được tăng thì tòa án cấp tỉnh lại cũng
lặp lại tương tự như tòa án tối cao trước đây, như vậy vấn đề đặt ra là không phải tăng thẩm
quyền cho các cấp tòa án mà vấn đề là tổ chức một cách khoa học, hợp lý của các cấp tòa án chứ
không như cách tổ chức như hiện nay.
Trong hoạt động xét xử: Chức năng chủ yếu của tòa án là xét xử, theo luật tổ chức TAND
(2002) thì hiện nay có quá nhiều cấp xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, đã ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các toà án.
Về hoạt động xét xử các loại án:
Trong công tác xét xử các vụ án hình sự, "…Thẩm vấn, tranh luận tại phiên tòa chưa đầy
đủ, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện, dẫn đến xác định tội danh không chính
xác…" [38,tr.16], thủ tục tố tụng nặng về thẩm vấn coi nhẹ tranh tụng, quyền bào chữa của bị
can, bị cáo, đương sự chưa thực sự được chú trọng. Trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự
và các vụ án hành chính " trong nhiều trường hợp còn vi phạm pháp luật tố tụng về thụ lý vụ
án, xác định sai tư cách hoặc thiếu người tham gia tố tụng, xây dựng hồ sơ vụ án không đầy đủ,
đánh giá chứng cứ thiếu khách quan toàn diện…"[38,tr.17]. Đối với các vụ án hành chính, khi
xét xử thì không mấy thuận lợi bởi lẽ còn phải đợi ý kiến phía người bị kiện, đa phần người bị
kiện là cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc triệu tập đến tòa án là rất khó khăn.
Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân về nhận thức: trong một thời gian dài nhà nước và xã hội đều chưa nhận
thức đầy đủ về vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là toà án, trong hệ thống bộ máy
nhà nước cũng như chưa thấy rõ những đặc thù về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Công cuộc cải cách kinh tế đã tạo ra những biến đổi khá sâu rộng trong các mối quan hệ kinh tế -
xã hội, nhưng phải gần 10 năm sau chúng ta mới bắt đầu nhận ra tính chất phức tạp và nặng nề
của việc phải xây dựng các thiết chế giải quyết tranh chấp mới trong nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Chậm và chưa nhậy bén nhận thức về những thách thức mới đối với các cơ quan tư
pháp trong đấu tranh phòng chống các tội phạm mới hoặc các biến dạng, phát triển mới của các
loại tội phạm phát sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, nhất là đối với các tội
về tham nhũng, buôn lậu.
Nguyên nhân về tổ chức: mặc dù về nguyên tắc toà án thực hiện hai cấp xét xử nhưng

cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những
bản án quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định "
[9,tr.3]. Ngày 02 tháng 06 năm 2005, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nội dung nghị quyết đã đề cập một cách toàn diện
mục tiêu, quan điểm cải cách tư pháp, phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp từ nay đến năm
2020. Liên quan trực tiếp đến tổ chức, họat động của tòa án nhân dân, Nghị quyết số 49-NQ/TW
nêu rõ:
Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính
gồm: tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện, tòa
án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án, tòa
thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao
có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án
lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét
xử của từng cấp Tòa án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh
gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong
ngành.
Đối với việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ,
nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của
hoạt động tư pháp [10,tr.4].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định phương hướng tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó có việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan tư pháp. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
khẳng định: "… Xây dựng cơ chế vân hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản
pháp luật. Xây dựng hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt
động và quyết định của các cơ quan công quyền " [15,tr.126].
Về tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp, văn kiện nêu rõ: " Xây dựng hệ thống cơ

tảng cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án. Xây dựng đội ngũ cán bộ tòa án trong
sạch, vững mạnh giàu phẩm chất chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ
3.3. Các kiến nghị đối với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
trong tiến trình cải cách tƣ pháp.
3.3.1. Xác định lại thẩm quyền xét xử và thiết kế mới mô hình tổ chức của các tòa án.
Mở rộng thẩm quyền xét xử chung của tòa án.
Cải cách tư pháp theo hướng đảm bảo tòa án có thẩm quyền xét xử mọi tranh chấp phát sinh
trong đời sống xã hội khi người dân có yêu cầu. Công dân có quyền và được khuyến khích lựa
chọn các phương thức khác nhau (thương lượng, trung gian, hòa giải, trọng tài, khiếu nại hành
chính …) để giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính nhưng điều đó không
hạn chế quyền của công dân, lựa chọn con đường khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết các tranh
chấp đó (nếu các bên không có thỏa
thuận khác).
Phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp và Tổ chức hệ thống tòa án theo
nguyên tắc hai cấp xét xử.
Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc nền tảng của mọi nền tư pháp dân chủ, đảm bảo
xét xử đúng đắn, khách quan, việc xét xử đặt dưới sự giám sát, kiểm tra nội bộ của hệ thống tòa
án và sự giám sát từ cơ quan kiểm sát, bị cáo, các đương sự, những cá nhân, tổ chức có liên quan
thông qua việc họ thực hiện quyền kháng nghị hoặc kháng cáo.
Có thể, mô hình tổ chức hệ thống tòa án được thiết kế như sau:
Trước mắt, theo hướng mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án cấp huyện hiện nay:
Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ án hình sự, dân sự, hành
chính, kinh tế, lao động. Các tòa án sơ thẩm được tổ chức theo khu vực không phụ thuộc vào đơn
vị hành chính (cấp huyện).
Tòa phúc thẩm (tương đương tòa án cấp tỉnh hiện nay): có thẩm quyền chủ yếu xét xử lần
thứ hai các bản án do tòa án sơ thẩm xử lần đầu nhưng bị kháng cáo, kháng nghị ; đồng thời tòa
phúc thẩm có thẩm quyền xử lần đầu một số ít vụ án đặc biệt phức tạp, nghiêm trọng.
Tòa thượng thẩm khu vực, (thay cho các tòa phúc thẩm của tòa án nhân dân tối cao hiện
nay) thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm các vụ án do tòa án phúc thẩm xử lần đầu nhưng
quyết định, bản án bị kháng cáo, kháng nghị. Các tòa thượng thẩm cũng được tổ chức theo khu

theo hướng phân biệt rõ quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng.
Việc xác định lại thẩm quyển của từng cấp tòa án theo hướng tiến tới mỗi cấp tòa chỉ có một
thẩm quyền xét xử - sơ thẩm, phúc thẩm hay giám đốc thẩm, tái thẩm là tiền đề về tổ chức để đảm
bảo rằng quan hệ giữa các cấp tòa án chủ yếu là quan hệ tố tụng. Yêu cầu phi hành chính hóa quan hệ
tố tụng giữa Chánh án hoặc chức danh lãnh đạo khác và các thẩm phán trong một cơ quan tòa án là
một bảo đảm cho tính độc lập cho hoạt động xét xử.
3.3.3 Nâng cao năng lực, phẩm chất pháp lý của thẩm phán, hội thẩm nhân dân.
Thẩm phán và hội thẩm nhân dân hoàn toàn chịu trách nhiệm về các phán quyết của mình
là yếu tố có tính chất quyết định và cũng có thể coi là thành trì cuối cùng đáng tin cậy nhất để
bảo vệ tính độc lập, khách quan của hoạt động xét xử.
Cơ chế tuyển chọn thẩm phán cần cải cách theo hướng: mở rộng nguồn tuyển chọn thẩm
phán; Chuyển từ cơ chế xét tuyển sang cơ chế thi tuyển quốc gia. Cơ chế bổ nhiệm thẩm phán
các cấp cần cải cách theo hướng: chế độ bổ nhiệm thẩm phán theo ngạch, bậc trên cơ sở tiếp tục
hoàn thiện hệ tiêu chuẩn chức danh thẩm phán và phân loại ngạch, bậc thẩm phán; kéo dài nhiệm
kỳ tiến tới chế độ bổ nhiệm thẩm phán suốt đời. Hệ tiêu chuẩn chức danh thẩm phán và các tiêu
chí bổ nhiệm, nâng ngạch thẩm phán phải được hoàn thiện theo hướng dựa căn bản trên trình độ
hiểu biết, mức độ tinh thông nghiệp vụ, kỹ năng và hiệu quả xét xử, bản lĩnh và phẩm chất đạo
đức, sự liêm khiết, trung thực của thẩm phán.
Cải cách chế độ sử dụng, đãi ngộ, bảo vệ và chế độ giám sát, kỷ luật đối với thẩm phán.

KẾT LUẬN

Qua quá trình phát triển từ ngày thành lập đến nay, tổ chức, hoạt động của ngành tòa án
nhân dân đã không ngừng đổi mới, từng bước được hoàn thiện củng cố, về cơ bản đã đáp ứng
được yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo luật định. Từng bước hệ thống tổ chức, bộ
máy cơ quan tòa án các cấp đã đi vào ổn định, hoạt động theo một quy trình đồng bộ, thống nhất,
đạt hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà nước cũng như các quyền, tự do dân chủ của công dân.
Tuy nhiên qua quá trình hoạt động và trước những yêu cầu nhiệm vụ mới của việc xây
dựng NNPQ, tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân đã bộc lộ rõ một số điểm bất cập chưa

Văn bản pháp luật
1. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992 (2007), Nxb chính trị
quốc gia.
2. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ (2005), Nxb Chính trị Quốc gia.
3. Bộ luật tố tụng hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2003), Nxb
Chính trị Quốc gia.
4. Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2004), Nxb
chính trị quốc gia.
5. Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân (2002), Nxb Chính trị Quốc gia.
6. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (2006), Nxb Tư pháp.
7. Luật tổ chức TAND (2002), Nxb Chính trị Quốc gia.
Văn bản của Đảng
8. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2006), Tài liệu hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết nghị
quyết 08/NQ-TW và triển khai thực hiên nghị quyết 49-NQ/TW của bộ chính trị về công tác tư
pháp.
9. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm
của công tác tư pháp trong thời gian tới
10. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 Về chiến lược cải cách tư
pháp dến năm 2020
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Các nghị quyết của trung ương đảng 1986-1999,
Nxb chính trị quốc gia.
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện đại hôi đại biểu đảng toàn quốc lần thứ
VI, Nxb Sự thật.
13. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hôi đại biểu đảng toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị Quốc gia.
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hôi đại biểu đảng toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị Quốc gia.
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hôi đại biểu đảng toàn quốc lần thứ X,
Nxb Chính trị Quốc gia.
Sách tham khảo

pháp luật (3), .
33. Lê Cảm (2006), “ Những vấn đề chủ yếu của công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn
xây dựng nhà nước Việt nam”, Tòa án nhân dân tối cao (3).
34. Nguyễn Mạnh Cường (2002),“Yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền đối
với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp”, Nghiên cứu lập pháp (10).
35. Nguyễn Mạnh Kháng (2003), “ Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng”, Nhà nước và
pháp luật (10).
36. Phạm Hồng Hải (2001), “ Vai trò của tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp ’’,
Tòa án nhân dân tối cao (1).
37. Võ Khánh Vinh (2003) “ Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta ”, Nhà nước và pháp luật (8).
38. Tòa án nhân dân tối cao (2007), “ Báo cáo tổng kết năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ
công tác năm 2007 của ngành tòa án nhân dân, Hà Nội.
39. Tòa án nhân dân tối cao (2006), “ Báo cáo tổng kết năm 2005 và phương hướng nhiệm vụ
công tác năm 2006 của ngành tòa án nhân dân, Hà Nội.
40. Tòa án nhân dân tối cao (2005), “ Báo cáo tổng kết năm 2004 và phương hướng nhiệm
vụ công tác năm 2005 của ngành tòa án nhân dân, Hà Nội.
41. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2000), “Chuyên đề: Tổng hợp các kiến nghị khoa
học góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp”, Thông tin khoa học pháp lý
(10+11), Bộ tư pháp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status