những nội dung cơ bản về đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp bách của đề tài
Cùng với sự đổi mới mạnh mẽ bộ máy nhà nước, vấn đề đổi mới tổ chức và
hoạt động của cơ quan tư pháp luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Điều đó, được phản ảnh trong các văn kiện Đại hội của Đảng Cộng sản
Việt Nam (ĐCSVN) qua các kỳ Đại hội. Thực hiện chủ trương của Đảng những
năm qua trên thực tế, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân
dân (TAND) đã được tiến hành khá nhiều lần trong lịch sử lập pháp nước ta. Nhất
là từ sau Hiến pháp 1992 Luật tổ chức TAND đã được Quốc hội liên tục sửa đổi bổ
sung để đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước. Thông qua việc sửa đổi bổ sung, đó
mà TAND từng bước được nâng cao về vị trí, cùng với các cơ quan trong hệ thống
các cơ quan Tư pháp. Tại Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị Trung ương
ĐCSVN khóa IX đã khẳng định:
Trong những năm qua công tác tư pháp đã đạt được nhiều kết
quả, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ tích cực cho công
cuộc đổi mới, phần lớn cán bộ làm công tác tư pháp giữ vững phẩm chất
chính trị, có tinh thần trách nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ [20, tr. 1].
Tuy nhiên, so với nhiệm vụ đổi mới hoạt động lập pháp và nhiệm vụ cải
cách hành chính thì tiến độ thực hiện đổi mới trên lĩnh vực tư pháp còn chậm và kết
quả chưa đáp ứng yêu cầu. Chất lượng xét xử của TAND các cấp đã có thời gian
còn để tình trạng oan, sai, tồn động kéo dài, tổ chức bộ máy TAND các cấp chậm
được đổi mới, đội ngũ cán bộ nhất là đội ngũ Thẩm phán vừa thiếu về số lượng vừa
yếu về trình độ chuyên môn nên ảnh hưởng nhiều đến chất lượng xét xử. Điều đó
được phản ảnh trong Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị Trung ương ĐCSVN
khóa IX như sau: " Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với
yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan
1
người vô tội, vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp" [20, tr. 2].
Do vậy, công tác tư pháp trong thời gian tới phải có những biến chuyển

TAND với vị trí là bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước và là cơ
quan có vai trò to lớn trong việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền dân chủ và duy
trì công lý, nên được Đảng và Nhà nước ta coi trọng và luôn chủ trương cải cách
đổi mới. Để đáp ứng yêu cầu đó của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây đã có
nhiều công trình nghiên cứu nhằm góp phần thực hiện việc đổi mới TAND. Có thể
chia các công trình theo các nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất: Những công trình nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt
Nam có liên quan đến TAND. Bao gồm những công trình nghiên cứu về thực
trạng và phương hướng cải cách hệ thống tư pháp nước ta. Có thể kể đến những
công trình khoa học sau: Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam, Đề tài cấp Nhà
nước, mã số 92-98-353. Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Yểu và Nguyễn Đình
Lộc (đề tài chưa bảo vệ); Xây dựng mô hình quản lý ngành tư pháp, Đề tài cấp
Bộ, mã số 96-98-028, Chủ nhiệm đề tài: Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hiến (đề tài chưa
bảo vệ); Năm mươi năm ngành tư pháp Việt Nam, Mã số 96-98-035, Đề tài cấp
Bộ, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Thảo, năm 1996; Đại hội VII ĐCSVN và
những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà nước và pháp luật, Giáo sư Tiến sĩ
khoa học Đào Trí Úc, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1997; Cơ sở lý luận và
thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp (góp phần sửa
đổi Hiến pháp năm 1992), Đề tài cấp Bộ, Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thế Liên,
năm 2001; Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, PGS TS Lê Minh Thông, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2001; Những vấn đề đổi mới hệ thống tư pháp ở
nước ta, PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí TAND, số 04 năm 1999; Những vấn
3
đề đổi mới các cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ của Lê Thành Dương (1996)
Nhóm thứ hai: Những công trình nghiên cứu về TAND ở những góc độ
khác nhau. Có thể kể đến những công trình cơ bản sau: Cải cách tư pháp, Phần:
Đổi mới tổ chức hoạt động của TA, Đề tài cấp Bộ, mã số: 86-90-011, Chủ nhiệm
đề tài: Nguyễn Tất Viễn, tháng 12/1990; Vị trí vai trò và chức năng của TAND

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận,
đánh giá một cách có căn cứ và khoa học về thực trạng tổ chức và hoạt động của
TA, để trên cơ sở đó hướng tới mục đích:
Xác định được các yêu cầu khách quan của sự đổi mới TA, xây dựng được
các nguyên tắc bảo đảm cho quá trình đổi mới của TA một cách đúng hướng và đạt
hiệu quả cao.
Đề xuất được một số nội dung thiết thực góp phần đổi mới mạnh mẽ về tổ
chức và hoạt động của TAND ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Từ mục đích đó, luận án có nhiệm vụ:
Làm rõ về mặt lý luận vị trí, chức năng các nguyên tắc tổ chức hoạt động
của TAND.
Đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng tổ chức và hoạt
động của TAND. Từ đó xác định được những mặt mạnh, mặt yếu, những nguyên
nhân của thực trạng, làm cơ sở vững chắc về mặt thực tiễn cho quá trình đổi mới.
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn và những nhu cầu khách quan, đề xuất những
giải pháp thiết thực nhằm góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND trong
giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
5
Đối tượng nghiên cứu của luận án: là lĩnh vực tổ chức và hoạt động của
TAND trên cơ sở luật nước ta qua các giai đoạn và chủ yếu là giai đoạn hiện nay.
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta.
Cùng với những yếu tố kinh tế - xã hội, chính trị, pháp lý ảnh hưởng đến tổ
chức và hoạt động của TA.
Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu là nghiên cứu thực trạng về tổ chức và hoạt
động của TA theo luật hiện hành và thực tiễn của nó hiện nay về mặt tổ chức và
hoạt động những gì hợp lý, những gì chưa hợp lý, nguyên nhân của thực trạng;
Trong một chừng mực nhất định, luận án cũng đề cập đến vị trí vai trò của TA
thông qua việc tổ chức và hoạt động của nó trong các giai đoạn lịch sử, cũng như

như mục đích hoạt động của TAND.
Luận án cũng đã đưa ra được những yêu cầu và những giải pháp thiết thực
nhằm góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND đáp ứng yêu cầu của công
cuộc đổi mới hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ quan điểm của Đảng
và Nhà nước về vai trò của cơ quan tư pháp trong đó TAND giữ vai trò "trọng yếu"
trong việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm dân chủ, kỷ cương xã hội và duy trì công lý.
Từ đó nâng cao nhận thức về vai trò và vị trí của TAND trong thời kỳ đổi mới.
Qua phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của TAND hiện nay,
luận án góp phần khẳng định một cách khoa học về tính tất yếu của việc cải cách hệ
thống tư pháp, đổi mới TAND nhằm bảo đảm các nhu cầu khách quan của tình
hình kinh tế - xã hội, đòi hỏi của nền dân chủ, nhu cầu đấu tranh chống vi phạm và
tội phạm hiện nay nhằm góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
7
Đồng thời các kết luận, kiến nghị trong luận án có ý nghĩa thiết thực trong
việc xây dựng hệ thống đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao vị trí vai trò của
TAND, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Luận án là công trình tham
khảo cần thiết cho các nhà tổ chức, các nhà quản lý và nó cũng là tài liệu cho việc
nghiên cứu và giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm
3 chương, 7 mục.
8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
1.1.1. Vai trò và vị trí của Tòa án trong các kiểu Nhà nước (trước Nhà
nước xã hội chủ nghĩa)
Học thuyết Mác - Lênin đã vạch rõ: khi xã hội phát triển đến một trình độ

hội, do đó bao giờ cũng có nhu cầu cho sự hình thành một hệ thống bảo đảm trên cơ
sở giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật không chỉ từ phía giai cấp đối
kháng, mà ngay cả việc giám sát, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật
trong các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Sự đảm bảo đó trước hết phải bằng hoạt
động của các cơ quan trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Các cơ quan này có
quyền nhân danh quyền lực nhà nước xét xử các hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật nhà nước. Đó là hệ thống các cơ quan tư pháp và cơ quan giữ vai trò trọng
trách đó chính là TA.
Như vậy xét về mặt phạm vi quyền lực thì Nhà nước có ba loại quyền:
quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó quyền tư pháp (chữ tư
pháp ở đây chúng ta dịch từ tiếng Trung Quốc chính xác là "Xét xử") do TA thực
hiện. Từ đó cho phép chúng ta khẳng định rằng hoạt động xét xử là hoạt động tất
yếu, là chức năng không thể thiếu được của mọi Nhà nước.
Điều đó đã thể hiện rõ ngay từ thời kỳ cổ Hy Lạp, La Mã, người ta đã
khẳng định: ở đâu có pháp luật, thì ở đó phải có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật
được thi hành một cách nghiêm chỉnh. Sự bảo đảm đó trước hết phải bằng hoạt
động của các cơ quan trong hệ thống cơ quan nhà nước, các cơ quan này có chức năng
xét xử hành vi vi phạm pháp luật, chính là chức năng của TA một cơ quan trong bộ
máy nhà nước.
10
Tuy nhiên, ở mỗi kiểu Nhà nước với chế độ chính trị khác nhau, bộ máy
nhà nước được tổ chức khác nhau, trong đó vị trí của TA cũng khác nhau.
Ở chế độ Chiếm hữu nô lệ và Phong kiến, hình thức Nhà nước chủ yếu là
Quân chủ, hoạt động xét xử cũng như các hoạt động lập pháp và hành pháp đều tập
trung vào giai cấp Chủ nô và Phong kiến mà đại diện là nhà vua. Nhà vua là người
ban hành các đạo luật, vừa là người quyết định tổ chức thực hiện, vừa là người có
quyền lực xét xử cao nhất. Do vậy, TA cùng với hoạt động xét xử trong giai đoạn
này chưa được tổ chức thành hệ thống rõ ràng và chưa trở thành một lĩnh vực hoạt
động độc lập trong bộ máy nhà nước Chiếm hữu nô lệ và Phong kiến.
Vào những năm của thế kỷ 17, 18, giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ trong

chế đối trọng và chế ước; kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận, các nhánh quyền
lực nhà nước. Từ đó mà bảo vệ chế độ dân chủ, bảo đảm tự do cho các công dân
phù hợp với ý chí của giai cấp tư sản và trong khuôn khổ pháp luật của nó.
Cũng như các cơ quan nhà nước khác, TA nếu không được tổ chức thỏa
đáng sẽ trở thành nguy cơ cho quốc gia và tự do của công dân. Một bộ máy nhà
nước, một "cơ quan cầm quyền, vừa là kẻ thi hành luật, vừa cho mình là kẻ lập
pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ
còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của
họ" [45, tr. 87].
Như vậy, theo quan điểm của giai cấp tư sản thì TA là cơ quan bảo vệ pháp
luật quan trọng nhất, bảo vệ công lý và là người trọng tài vô tư, khách quan để đánh
giá các vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp. Đối tượng xét xử của TA
không chỉ là hành vi của con người, của công dân mà còn cả hoạt động của Nhà
nước, của công quyền. Đây cũng là điểm thể hiện rõ nét tính đối trọng giữa quyền
Tư pháp với các quyền Lập pháp và Hành pháp, là điểm thể hiện rõ nét tính độc lập
của TA trong bộ máy nhà nước tư sản.
12
Vấn đề độc lập của TA, tách khỏi nhà vua, cùng với những vấn
đề khác như nghị viện, tự do dân chủ, trở thành khẩu hiệu phương hướng
và động lực cho việc lật đổ chế độ phong kiến thiết lập nên chế độ tư
bản, phải nói một cách công bằng rằng, chế độ tư bản và nhất là thời kỳ
cách mạng của nó bỏ rất nhiều công sức vào việc đấu tranh giành độc lập
cho hoạt động của TA. Sự độc lập của TA khỏi lập pháp và hành pháp là
một trong những đảm bảo quan trọng trong công việc bảo đảm quyền
bình đẳng, quyền tự nhiên của con người, nhất là trong việc chống lại
tình trạng tham nhũng, lợi dụng quyền lực của những nhà cầm quyền, vì
đam mê quyền lực, vì vụ lợi mà họ xâm phạm đến quyền tự do, bình
đẳng, quyền tự nhiên của quần chúng nhân dân lao động [11, tr. 249].
Có thể nói rằng, sự tách riêng và độc lập của TA khỏi hai nhánh quyền lực
lập pháp và hành pháp, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc xác lập chế độ dân chủ tư sản,

của nó, đồng thời các cơ quan này (lập pháp và tư pháp) đã có nhiều cố gắng làm
cho cơ quan tư pháp bảo đảm tính độc lập. Mỹ là một nước thể hiện rõ sự phân
quyền này. Vì vậy mà A.Hamiton đã viết: "Trong tất cả các yếu tố khiến cho ngành
tư pháp có thể duy trì được tính độc lập và cương quyết của mình, nhiệm kỳ của vị
Chánh án là yếu tố quan trọng nhất và chúng ta (Mỹ) có thể coi yếu tố đó là một
thành trì bảo vệ công lý và an ninh cho công chúng vậy" [11, tr. 251].
Chẳng những thế đối tượng và phạm vi hoạt động của quyền tư pháp cũng
phát triển theo thời gian và sự phát triển của nền dân chủ tư sản. Lúc đầu đối tượng
xét xử TA chỉ là "dân đen" vì theo họ chỉ có thần dân mới vi phạm pháp luật của
giai cấp tư sản, còn pháp luật là lợi ích là ý chí và công cụ của giai cấp tư sản. Và
ngược lại những kẻ "áo dài, mũ cao" thì hoạt động của họ là những hoạt động mẫu
mực không bao giờ có vi phạm pháp luật (đây là những lý do giải thích những
quyền miễn trừ tư pháp của các quan lại cao cấp). Nhưng càng về sau các quan
14
chức cũng phải chịu trách nhiệm về những hoạt động vi phạm pháp luật của mình
và cũng là đối tượng xét xử của TA.
Cũng tương tự như vậy, ban đầu phạm vi xem xét của TA là các hoạt động
vi phạm các đạo luật thường nhưng về sau thì xem xét đến cả việc vi phạm Hiến
pháp.
Về vấn đề này ở Mỹ, David Cusman Coyle viết:
Trong buổi ban đầu của nền Cộng hòa, TA không phải trực tiếp
đương đầu với vấn đề phải làm gì khi chính quyền vi phạm Hiến pháp.
Hiến pháp đã được chấp thuận như "luật pháp tối thượng của đất nước.
Và bất cứ một hành động nào của Quốc hội hay Tổng thống mà vi phạm
Hiến pháp thì theo lý thuyết, đó không phải là luật pháp [11, tr. 252].
Tuy nhiên, vì những lợi ích của các tập đoàn và các động cơ khác nhau,
ngày càng thể hiện nhiều hoạt động vi phạm Hiến pháp nên cần có nhu cầu phán
quyết của TA, do vậy mà TA Hiến pháp ra đời bên cạnh TA thường. Đồng thời
cùng với sự phát triển của xã hội ngày càng xuất hiện nhiều quan hệ kinh tế, thương
mại, điền địa và những quan hệ xã hội khác mà Nhà nước cần can thiệp, do đó

quan lập pháp và hành pháp như bộ máy nhà nước tư sản. Tuy nhiên, theo quan
điểm đổi mới của Đảng ta tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX:
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Thì những
kinh nghiệm quý báu trong việc xác lập, mở rộng, nâng cao từng bước vị trí, vai trò
và phạm vi tác động của TA vào các lĩnh vực đời sống xã hội, ở các kiểu Nhà nước,
nhất là Nhà nước tư sản; đặc biệt là lĩnh vực đấu tranh không mệt mỏi của các nhà
luật học nhằm bảo đảm cho sự độc lập của TA trong bộ máy nhà nước và trong
hoạt động xét xử của nó, luôn là những kinh nghiệm tham khảo cần thiết và quý giá
trong công cuộc cải cách tư pháp và đổi mới TA ở nước ta hiện nay.
16
1.1.2. Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của Tòa án trong
các nước tư bản
Với vị trí là cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, thực hiện quyền tư
pháp, hệ thống TA các nước đều phải được tổ chức theo những nguyên tắc nhất
định. Những nguyên tắc này xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động xét xử, nó
là bộ phận quyền lực của Nhà nước, được quyền nhân danh Nhà nước để phán
quyết các hành vi tranh tụng nhằm bảo vệ công lý. Những nguyên tắc này bảo đảm
cho TA tổ chức để xét xử được công bằng, khách quan, công minh. Theo Hiến
pháp mỗi nước, việc qui định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TA có khác
nhau, nhưng khái quát thì có những nguyên tắc mang tính phổ biến sau đây:
Nguyên tắc bảo đảm tính độc lập của TA trong hoạt động xét xử
Như phần trên đã trình bày hoạt động tư pháp là hoạt động quyền lực nhà
nước, nhưng không phải là hoạt động ban hành pháp luật, cũng không phải là hoạt
động điều hòa các quan hệ xã hội bằng việc ra các mệnh lệnh hành chính, mà là
hoạt động áp dụng pháp luật thông qua sự phán đoán trên cơ sở đánh giá các
chứng cứ.
Do vậy muốn có sự đánh giá đúng đắn, khách quan nhằm đưa ra phán
quyết công bằng, nhất thiết các TA và các Thẩm phán phải được độc lập cả về tổ
chức và cả "tư duy". Do vậy việc đấu tranh cho sự độc lập của TA là một thành quả

Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 đã qui định tại Điều 76 chương VI như sau:
" Các Thẩm phán xét xử theo lương tâm và phải tôn trọng Hiến pháp và pháp luật
một cách triệt để " [11, tr. 588} Hiến pháp của Đệ ngũ Cộng hòa Pháp quốc năm
1958 Điều 64 đã thể hiện: "Một đạo luật biên chế ấn định qui chế của Thẩm phán.
Các Thẩm phán xét xử có tính cách bất di bất dịch" [11, tr. 590] và Hiến pháp Cộng
hòa Liên bang Đức năm 1959 tại Điều 97 qui định: "Thẩm phán xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật" [11, tr. 620].
18
Chính sự qui định khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,
sẽ tạo điều kiện cho Thẩm phán tránh được mọi áp lực từ phía các quan chức nhà
nước, kể cả các Thẩm phán của TA cấp trên. Đồng thời, sự ràng buộc này làm cho
Thẩm phán nâng cao năng lực phán đoán cũng như tự chịu trách nhiệm và cũng hạn
chế việc lợi dụng quyền lực của các Thẩm phán. Nó chính là yêu cầu của bảo đảm
tính công lý. Mặt khác ở nhiều nước, một cơ chế nâng cao tính độc lập trong hoạt
động của Thẩm phán đó là bảo đảm cho các vị Thẩm phán một chế độ bổ nhiệm và
nhiệm kỳ đặc biệt. Hamiton đã viết: "Trong tất cả các yếu tố khiến cho ngành tư
pháp có thể duy trì được tính độc lập và cương quyết của mình, nhiệm kỳ trường kỷ
của các vị Chánh án là yếu tố quan trọng nhất " [11, tr. 250]. Điều đó đã được thể
hiện trong Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (tại khoản một Điều III): " Các
pháp quan tối cao pháp viện và của những pháp viện hạ cấp sẽ giữ chức vụ của
mình vĩnh viễn nếu lúc nào cũng có một hành vi chính đáng. Và sẽ có quyền
hưởng, trong những kỳ hạn nhất định một trợ cấp sẽ không bao giờ bị sút giảm suốt
trong thời kỳ tại chức". Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức năm 1959 tại Điều 97
qui định: "Những Thẩm phán được bổ nhiệm chính và theo kế hoạch chỉ có thể bị
bãi miễn trước khi kết thúc nhiệm kỳ họ, hoặc bị tước cương vị lâu dài hay ngắn
hạn bằng một quyết định của TA và chỉ khi có lý do. Cơ quan lập pháp có thể qui
định giới hạn tuổi hưu của các Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời ". Hiến pháp
Nhật Bản năm 1946 tại Điều 78 ghi: "Các Thẩm phán chỉ bị cách chức theo thủ tục
đặc biệt không một cơ quan nào trong ngành hành pháp có thể áp dụng biện pháp
kỷ luật đối với Thẩm phán".

bàn bạc và quyết định theo đa số nhằm đưa ra phán quyết với tính khách quan để
bảo đảm được công lý.
Công lý cũng đồng nghĩa với tính khách quan của bản án và được "tâm
phục khẩu phục". Nguyên tắc xét xử tập thể cho phép các Thẩm phán có thể trao
đổi, cọ xát ý kiến với nhau. Mọi tình tiết của vụ án được hội đồng xét xử thảo luận,
20
xem xét kỹ lưỡng theo nhiều góc độ. Qua đó, vấn đề của vụ án được làm sáng tỏ và
đưa ra được giải pháp của đa số.
Công lý trong phán quyết của TA trước hết là sự vô tư của bản án, nếu bản
án không vô tư thì không có công lý. Cơ chế hội phán sẽ tạo được sự vô tư của hoạt
động xét xử ở chỗ nó hạn chế được sự tùy tiện hay thiên vị trong phán quyết của
Thẩm phán; một Thẩm phán không thể áp đặt ý kiến riêng của mình bởi việc quyết
định là một tập thể (và các thành viên hội đồng đều ngang quyền với nhau). Nhờ sự
vô tư trong phán quyết của hội đồng xét xử, hoạt động xét xử của TA sẽ chiếm
được lòng tin của công chúng.
Nguyên tắc xét xử tập thể còn làm cho phán quyết của hội đồng xét xử trở
nên "vô danh", bởi bản án là của một số đông không do một cá nhân tuyên xử nên
tín nhiệm cũng được san sẻ, Thẩm phán cũng bớt e dè, ngần ngại trong việc đưa ra
phán quyết, để tránh được các áp lực bên ngoài. Chính vì vậy nhiều luật gia cho
rằng, nguyên tắc xét xử tập thể làm cho hoạt động xét xử bảo đảm được tính độc
lập.
Tuy nhiên, việc quy định nguyên tắc xét xử tập thể thì ở các nước tư bản
hiện nay cũng rất khác nhau. Đối với Tòa phúc án (xét xử phúc thẩm) hoặc giám
đốc thẩm thì chế độ xét xử là tập thể. Nhưng đối với cấp sơ thẩm thì thủ tục thường
chỉ có một Thẩm phán xét xử, và nếu trong chừng mực nào đó vụ án có tính phức
tạp thì thông thường luật qui định có đoàn bồi thẩm tham gia, bồi thẩm đoàn là
những công dân bất kỳ ai được đề cử và lập danh sách nơi họ cư trú tại các địa
phương của TA đó và khi bồi thẩm đoàn tham gia họ sẽ là "người" quyết định có
việc phạm tội theo tội danh của cơ quan công tố truy tố hay không. Và khi quyết
định là "tội danh được thành lập" thì quyền phán quyết cụ thể do Thẩm phán chủ

mới đạt chân lý. Vì vậy cần phải qui định nguyên tắc xét xử lại bản án sơ thẩm khi
có kháng cáo, kháng nghị là cần thiết. Do vậy việc bản án được xét xử lại nhiều
lần và qua nhiều cấp là nguyên tắc truyền thống trong hoạt động xét xử của TA
các nước trên thế giới.
22
Mặt khác, xét xử cũng đòi hỏi phải đáp ứng được nhu cầu giải quyết nhanh
chóng. Quyền lợi của nhân dân cũng trở nên bị xâm hại nếu việc giải quyết của TA
kéo dài không có kết thúc. Chính vì vậy, các quốc gia hoạch định cho ngành TA
của mình một hệ thống xét xử gồm hai cấp. Một vụ án đã được xét xử có thể được
xét xử lại một lần nữa theo thủ tục phúc thẩm. Với nguyên tắc này, pháp luật các
nước đều qui định bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo các bản án sơ thẩm
để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đồng thời, các bản án sơ thẩm đều không
được phép đem ra thi hành ngay, mà còn phải chờ đến khi hết thời hạn kháng cáo
của đương sự, bị cáo và họ không thực hiện quyền kháng cáo và cơ quan công tố
không kháng nghị.
Tuy nhiên, nói đến hai cấp xét xử không có nghĩa bản án chỉ được xét xử
đến lần thứ hai là kết thúc không được xét xử nữa. Mà thực tế hoạt động xét xử có
thể tiến hành nhiều lần, nhiều cấp và trong thời gian dài mới đạt chân lý. Do vậy
nguyên tắc xét xử hai cấp chỉ có nghĩa là khi bản án được xét xử phúc thẩm (tức xử
lại lần thứ hai) thì bản án phúc thẩm là chung thẩm có hiệu lực thi hành, bị cáo,
đương sự không còn quyền kháng cáo; nhưng bị cáo, đương sự được quyền đề nghị
với TA cấp trên có thẩm quyền, xem xét lại bản án phúc thẩm theo trình tự giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm. Nhưng việc có tái thẩm hoặc giám đốc thẩm hay không là
thẩm quyền của TA cấp trên, về nguyên tắc các đương sự, bị cáo buộc phải chấp
hành bản án phúc thẩm mà không phải chờ ý kiến của cấp giám đốc, trừ khi cấp
giám đốc có quyết định khác.
Như vậy, đối với nguyên tắc này vừa đảm bảo tính thận trọng, kỹ lưỡng,
khách quan, trong việc xét xử cần có cơ chế xét xử nhiều lần đối với bản án đã xét
xử. Nhưng để bảo đảm quyền lợi của công dân, tránh tình trạng thiệt thòi trong việc
kéo dài và không thi hành được bản án, nên luật các nước đều qui định hai cấp xét

trình kiểm tra các chứng cứ đã được thu thập điều tra, đồng thời tiếp nhận các
chứng cứ khác từ bị cáo, bị hại, người có liên quan, nhân chứng, luật sư Nhưng
hiện nay cũng có nhiều ý kiến đánh giá rằng chính vì lệ thuộc vào kết quả điều tra
24
nên các Thẩm phán xét xử không chú trọng các chứng cứ mới được xuất trình tại
Tòa và quá trình xét xử hướng theo kết quả đã xác định trước (án bỏ túi), vì vậy cần
bảo đảm quá trình xét xử dân chủ công khai và tôn trọng kết quả xét xử tại Tòa nên
Nghị quyết của Bộ Chính trị số 08-NQTW ngày 02-01-2002 "Về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" đã chỉ rõ:
Khi xét xử, các TA phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng
tại phiên Tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn,
bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án,
quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục [20, tr. 3].
Đồng thời bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại cũng như kháng
nghị của Viện Kiểm sát cần bảo đảm tốt việc tiến hành xét xử phúc thẩm và nâng
cao hiệu quả về thủ tục giám đốc thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật có sai sót
nghiêm trọng. Là những nội dung cơ bản trong đổi mới, tổ chức và hoạt động của
TA nước ta trong giai đoạn hiện nay.
1.1.3. Các mô hình chung về tổ chức Tòa án của các nước trên thế giới
Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, tính chất của Nhà nước, đặc điểm mỗi
quốc gia và quan điểm giai cấp của giai cấp thống trị thông qua các nhà cầm
quyền mà hệ thống TA của các nước được tổ chức theo những cách thức khác
nhau: Đối với các quốc gia có lãnh thổ rộng lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, việc tổ
chức TA không thể không chú ý đến vấn đề địa lý lãnh thổ, nhưng ở Nhật Bản tuy
TA cũng tổ chức theo từng cấp như TA tối cao, các Tòa thượng thẩm và Tòa cơ sở,
nhưng các TA được đặt tập trung ở các thành phố lớn, hoặc các thủ phủ của mỗi
vùng lãnh thổ lớn. Còn ở Anh quốc đạt được sự phù hợp đó khi không coi trọng các
yếu tố địa lý, dân cư mà lại nhấn mạnh việc tổ chức TA theo thẩm quyền xét xử vụ
việc, để thuận tiện nhà cầm quyền Anh quốc qui định những vụ việc quan trọng thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status