ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN ĐỨC PHƯƠNG
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH
CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuân
HÀ NỘI – 2007
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
Ch¬ng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
1.1. Vị trí, vai trò của tòa án.
1.1.1. Sự hình thành tòa án.
1.1.2. Vị trí, vai trò của tòa án ở nước ta.
1.2. Các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của tòa án ở nƣớc ta
hiện nay.
1.3. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của tòa án.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trƣớc nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nƣớc, trƣớc yêu cầu Nhà nƣớc
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nƣớc và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống
tội phạm ở nƣớc ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của tòa án nhân dân là một nội dung quan trọng đƣợc thể hiện trong
nhiều văn kiện Nghị quyết của Đảng về cải cách tƣ pháp.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về
chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, trong đó xác định nhiều nội dung
về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp, trong đó có đổi mới
tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, Nghị quyết nêu rõ:
Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ
máy các cơ quan tƣ pháp. Trọng tâm là xây dựng hoàn thiện tổ chức và hoạt
động của TAND.
Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào
đơn vị hành chính lãnh thổ, gồm: tòa án sơ thẩm khu vực đƣợc tổ chức ở một
hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ
yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; tòa thƣợng thẩm
đƣợc tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; tòa án nhân dân tối
cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hƣớng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập
tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp tòa án, từng khu
vực. Đổi mới tổ chức tòa án nhân dân tối cao theo hƣớng tinh gọn với đội ngũ thẩm
phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành.
1
Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của tòa án
Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học, các bài
viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức hoạt động của tòa án nhân
dân. Có thể phân loại thành hai nhóm nhƣ sau:
- Nhóm thứ nhất: Những công trình là đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc,
cấp Bộ, các luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tƣ pháp
Việt Nam có liên quan đến tòa án nhân dân nhƣ: Đề tài khoa học cấp Nhà
nƣớc mã số KX.04.06 "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống
các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân". Luận án tiến
sĩ luật học, Viện nghiên cứu nhà nƣớc và pháp luật "Đổi mới tổ chức và hoạt
động tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay " của tác giả Lê
Thành Dƣơng năm 2002. Luận án tiến sĩ luật học, Đại học luật Hà nội "Đổi
mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà
nước pháp quyền" của tác giả Trần Huy Liệu năm 2003. Luận án tiến sĩ luật học,
Đại học quốc gia Hà nội "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống
cơ quan tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền" của
tác giả Đỗ Thị Ngọc Tuyết năm 2005. Sách tham khảo: "Một số vấn đề về Hiến
pháp và bộ máy Nhà nước" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Giao thông
vận tải năm 2002; "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay"
của tập thể các tác giả do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội
năm 2002; "Góp bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay" của TS Ngô
Huy Cƣơng, Nxb Tƣ pháp năm 2005; "Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự
lãnh đạo của Đảng" của Luật sƣ Nguyễn Văn Thảo, Nxb Tƣ pháp năm 2006.
Liên quan đến nhóm vấn đề này còn có kỷ yếu các cuộc hội thảo về lịch
sử ngành tòa án nhân dân.
3
- Nhóm thứ hai, là các bài viết liên quan đến nội dung đổi mới tổ chức
Qua phân tích những cơ sở lý luận cơ bản nhất về tổ chức quyền lực
Nhà nƣớc, quyền tƣ pháp để làm rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của tòa án
nhân dân trong bộ máy Nhà nƣớc, các quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt
động của tòa án nhân dân, yêu cầu của cải cách tƣ pháp đối với đổi mới tổ
chức và hoạt động của tòa án nhân dân.
+ Làm rõ thực trạng tổ chức, hoạt động tòa án nhân dân ở nƣớc ta hiện nay.
+ Đề xuất những phƣơng hƣớng cơ bản cho việc đổi mới và hoàn thiện
tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tƣ pháp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp
luật, luận văn tập trung phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ
chức và hoạt động của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu của cải cách tƣ pháp,
nên đối tƣợng là những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của tòa án nhân dân ở Việt Nam.
Luận văn chỉ nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân,
không nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của tòa án quân sự.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thể hiện trên cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối, quan điểm của Đảng và
Nhà nƣớc ta về lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật, về đổi mới tổ chức
và hoạt động của tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tƣ pháp, những
thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới.
Dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phƣơng pháp đƣợc sử dụng là các phƣơng pháp
nghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội, phƣơng pháp kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể, đồng
thời cũng sử dụng phƣơng pháp luật học so sánh, phƣơng pháp lý thuyết hệ
thống, phƣơng pháp thống kê …
5
7
Ch¬ng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
1.1. Vị trí, vai trò của tòa án
1.1.1. Sự hình thành tòa án
Nhà nƣớc ra đời xem nhƣ một công cụ hữu hiệu trong tay giai cấp
thống trị. Nhờ có nhà nƣớc mà giai cấp thống trị về kinh tế đã trở thành giai
cấp thống trị về chính trị và nắm lấy quyền lực nhà nƣớc.
V.I.Lênin cho rằng: "… Sự tồn tại quyền lực nhà nước được thể hiện
thông qua đội ngũ quan lại, quân đội, bộ máy hành chính, tòa án… nếu bỏ
qua các bộ phận ấy thì quyền lực nhà nước chỉ là cái bóng, là sự tưởng tượng
hoặc là một tên gọi trống rỗng…"[29,tr.128]
Nhà nƣớc đã ban hành ra pháp luật thì phải có cơ chế để đảm bảo cho
pháp luật đƣợc thực thi, bởi lẽ pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa, nếu nó không
đƣợc các giai cấp và tầng lớp khác tuân theo, pháp luật không đi vào đời sống
hàng ngày của dân cƣ. Mặt khác trong bất cứ xã hội nào, luôn luôn có các cá
nhân, tổ chức hoặc giai cấp đối lập tìm mọi cách để làm trái các điều luật của
nhà nƣớc, đi ngƣợc lại với lợi ích của giai cấp thống trị. Do vậy giai cấp
thống trị đã tổ chức ra một hệ thống các cơ quan chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ
và bảo đảm cho pháp luật đƣợc thực thi nhƣ quân đội, cảnh sát... Nhƣng
không thể sử dụng đội quân này có thể bắt bớ, giam cầm một cách tùy tiện,
bởi nhƣ thế sẽ tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. Bởi lẽ đó cần có một cơ quan
đƣợc lập ra để đảm nhiệm chức năng xét xử, xem xét hành vi nào là đúng, là
sai. Cơ quan đó chính là tòa án, luôn tồn tại trong bất kỳ chế độ nhà nƣớc nào.
Theo V.I. Lênin " … Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động
pháp là một thành công lớn trên con đường phát triển của nhân loại …"
9
[24,tr.482]. Việc phân công giữa các nhánh quyền lực không phải là làm cho
chúng yếu đi mà làm cho chúng có sự kiểm tra giám sát lẫn nhau và ngày
càng phát triển, PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng“...Việc phân công quyền
lực trước hết phải được tiến hành trên cơ sở để hợp tác giữa các nhánh quyền
lực để mỗi nhánh quyền lực có phạm vi và lĩnh vực thực hiện đã được xác
định của mình và được cân bằng một cách hợp lý...” [37,tr.4].
Tuy nhiên, vai trò của tòa án cũng phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm tƣ
tƣởng chỉ đạo của giai cấp cầm quyền trong Nhà nƣớc tƣ sản, ở nhà nƣớc nào
nguyên tắc phân quyền không rõ ràng thì tòa án chịu sự lấn át của lập pháp và
hành pháp, còn những nhà nƣớc nào áp dụng triệt để học thuyết phân quyền
thì vai trò của tòa án mới thực sự đƣợc đề cao, đó mới thực sự là một nhà
nƣớc dân chủ.
Việc xét xử của tòa án ban đầu chỉ là việc xét xử về hình sự mà đối
tƣợng không phải là đội ngũ quan lại mà là các thần dân, chỉ có các thần dân
mới vi phạm pháp luật, còn quan lại đƣợc coi là những ngƣời mẫu mực,
không có hành vi vi phạm pháp luật, về sau qua sự phát triển của lịch sử đòi
hỏi mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý bất kể ngƣời đó là ai ,
làm gì , Đối tƣợng xét xử của Tòa án cũng đƣợc mở rộng dần, từ việc xét xử
về hình sự đến các việc tranh chấp khác trong đời sống xã hội của cá nhân,
hoặc các cơ quan, tổ chức "... Không ai được phép dựa vào quyền thế để làm
trái pháp luật. Mọi vi phạm đều phải bị xử lý, bất cứ ai vi phạm đều đưa ra
xét xử, không được làm theo kiểu phong kiến: dân thì chịu hình pháp, quan thì
xử theo lễ…" [12,tr.87].
1.1.2. Vị trí, vai trò của tòa án ở nước ta
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn
độc lập khai sinh ra nƣớc Việt nam dân chủ cộng hoà. Tuyên ngôn độc lập là
phương thức, là hình thức thể hiện quyền lực nhà nước. Đó là họat động của
12
cơ quan (Tòa án) được nhân danh quyền lực nhà nước đưa ra một phán quyết
cuối cùng có hiệu lực bắt buộc đối với một tranh chấp cụ thể (hình sự, dân sự,
kinh tế, lao động, hành chính ...) Đó là sự biểu thị thái độ trực tiếp của nhà
nước về các vụ việc cụ thể ... " [25,tr.37]
1.2 Các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án ở nƣớc ta
hiện nay.
Tòa án nhân dân là một bộ phận của bộ máy Nhà nƣớc, nên nó cũng
đƣợc tổ chức và họat động theo những nguyên tắc chung, nguyên tắc hiến
định nhƣ: nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên
tắc pháp chế ... Đây là những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho họat động
của bộ máy nhà nƣớc ta. Các nguyên tắc này tuy không quy định cụ thể đối
với tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án nhƣng có sự ảnh hƣởng lớn đến
việc tổ chức và hoạt động của tòa án. Hệ thống tòa án nhân dân hoạt động có
những nét đặc thù so với các hệ thống cơ quan nhà nƣớc khác. Do vậy nó
cũng có những nguyên tắc hoạt động riêng biệt bên cạnh những nguyên tắc
chung nêu trên, đó là:
Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là nguyên tắc "... là tiền đề nền tảng của tư pháp trong Nhà nước
pháp quyền ..." [34,tr.32]. Nguyên tắc này bảo đảm cho tòa án ra những quyết
định, bản án đúng pháp luật, thật sự công bằng và khách quan. Đây là nguyên
tắc rất quan trọng trong hoạt động tố tụng của tòa án. Theo nguyên tắc này khi
xét xử, thẩm phán không bị ràng buộc bởi bất cứ cơ quan hoặc cá nhân nào để
xét xử khách quan, công bằng và nghiêm minh. Thẩm phán phải chịu trách
nhiệm đối với quyết định của mình.
Thẩm phán độc lập cũng có nghĩa là không một cơ quan, tổ chức nào
đƣợc phép can thiệp trái pháp luật vào họat động xét xử của Tòa án, sự độc
thể có những mối quan hệ chằng chịt từ nhiều phía. Trong hoạt động tố tụng,
15
từng ngƣời ở từng khâu đoạn, vị trí của mình đều cố gắng đi tìm sự thật đúng
nhƣ nó đã xuất hiện và từng tồn tại. Đây cũng chính là một trong những lý do
giải thích vì sao nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trở thành một
nhu cầu tự nhiên của hoạt động tố tụng và thể hiện rõ nhất, có tính tiêu biểu
trong hoạt động xét xử của ngƣời thẩm phán. Trên con đƣờng tìm đến, tái
hiện sự thật khách quan đó, thẩm phán, theo vị trí chức năng của mình, là
ngƣời duy nhất có điều kiện, có thẩm quyền kiểm tra, xác minh, đối chất,
kiểm chứng lại tại phiên toà toàn bộ các chứng cứ, tình tiết vụ án đã thu thập
đƣợc từ các giai đoạn tố tụng trƣớc đó hoặc bổ sung tại phiên tòa. Trƣớc mắt
ngƣời thẩm phán sự thật vốn đã từng xảy ra, tồn tại trong quá khứ hiển hiện
dần lên một cách sống động. Từ đó, có thể thấy chỉ có ngƣời thẩm phán với vị
trí tố tụng đƣợc pháp luật tố tụng tạo ra có khả năng đẩy đủ nhất để xem xét,
đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ bản chất pháp lý của hành vi, sự kiện
pháp lý. Yêu cầu lớn nhất đƣợc đặt ra lúc này chính là tạo ra, bảo đảm một
môi trƣờng khách quan với các điều kiện chuyên môn, kỹ thuật và cả tâm lý - xã
hội để ngƣời thẩm phán độc lập đối mặt với các sự kiện, hành vi pháp lý. Phải
dành cho ngƣời thẩm phán một môi trƣờng không có bất kỳ sự can thiệp nào
ngoài sự chỉ đạo của pháp luật và niềm tin nội tâm hình thành từ sự đánh giá,
phán xét toàn bộ các thông tin, các tình tiết, sự kiện, hành vi pháp lý làm cơ sở
cho việc vận dụng pháp luật để đi đến một phán quyết nhân danh nhà nƣớc.
Nguyên tắc bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đây
cũng là một nguyên tắc hiến định (Điều 52 - Hiến pháp 1992). Trong hoạt
động xét xử ngƣời tiến hành tố tụng phải tuân thủ pháp luật trong mọi hoạt
động, xác minh điều tra, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật phải đúng đắn,
không vì bất cứ lý do gì mà thiên vị bất cứ ai, bất cứ đƣơng sự nào trong vụ
án, không phân biệt địa vị, trình độ, giới tính, đảng phái. Đảm bảo mọi hành
chỉnh pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật. Mặt khác hội thẩm nhân dân là
17
những ngƣời lao động, công tác ở cơ sở, thay mặt nhân dân lao động, tham
gia hoạt động xét xử của tòa án, làm cho việc xét xử vừa đúng pháp luật, vừa
phù hợp với tâm tƣ nguyện vọng của nhân dân.
Nguyên tắc tòa án xét xử công khai (Điều 131 Hiến pháp 1992 và Điều
7 Luật tổ chức TAND 1992).
Nguyên tắc này đảm bảo nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia
phiên tòa xét xử. Một mặt đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền kiểm tra
giám sát đối với hoạt động xét xử của tòa án, mặt khác phát huy đƣợc tác
dụng giáo dục của phiên tòa, với quần chúng nhân dân.
Việc xét xử công khai của tòa án có thể đƣợc tiến hành ở trụ sở của tòa
án, hoặc bằng phiên tòa lƣu động. Trong cả hai trƣờng hợp này, tòa án cần
phải thông báo rõ ràng thời gian, địa điểm xét xử. Với các vụ án điển hình cần
phải thông báo trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết.
Tuy nhiên, không phải mọi phiên tòa đều xét xử công khai mà theo
Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức tòa án nhân dân thì tòa án có thể xét xử kín. Đó
là những trƣờng hợp để giữ gìn bí mật của Nhà nƣớc, thuần phong mỹ tục của dân
tộc hoặc để giữ bí mật của các đƣơng sự theo yêu cầu chính đáng của họ …
Cho dù là xét xử công khai hay xử kín, thì quyết định hoặc bản án của
tòa án cần phải đƣợc đọc công khai để mọi ngƣời biết, nắm rõ đƣợc nội dung
sự việc, qua đó mới có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa tội phạm, đồng
thời ngƣời dân cũng tránh đƣợc các sự loại việc tƣơng tự.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 132 Hiến pháp 1992 và Điều 9 Luật tổ
chức TAND).
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử của
tòa án, bảo đảm cho bị can, bị cáo không bị thiệt hại về quyền và những lợi
có nhƣợc điểm về thể chất, tinh thần, ngƣời bị khởi tố về tội có khung hình
19
phạt cao nhất là tử hình). Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ
của các đƣơng sự phải đƣợc thực hiện trong toàn bộ quá trình tố tụng, do vậy
về nguyên tắc và theo luật định thì luật sƣ, ngƣời bào chữa, ngƣời bảo vệ
quyền, lợi ích cho các đƣơng sự đƣợc quyền tham gia từ những giai đoạn đầu
của quá trình tố tụng, cụ thể là từ sau khi có quyết định khởi tố trong vụ án hình
sự và từ khi khởi kiện đối với vụ án dân sự. Trách nhiệm của cơ quan điều tra,
kiểm sát, tòa án là phải tạo điều kiện thuận lợi cho bị can, bị cáo, các đƣơng sự
và ngƣời bào chữa, ngƣời đại diện của họ đƣợc thực hiện quyền của mình.
Nguyên tắc tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 11 Luật tổ
chức TAND).
Nguyên tắc này một mặt đảm bảo sự kiểm tra, giám sát, khiếu nại của
chính các đƣơng sự, bị cáo, ngƣời bị hại đối với bản án, quyết định sơ thẩm
của tòa án thông qua việc thực hiện quyền kháng cáo để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình, mặt khác, tạo ra công cụ tự kiểm tra, giám sát của hệ
thống tƣ pháp - thông qua quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hoặc
của Tòa án cấp trên đối với quyết định, bản án sơ thẩm của tòa án cấp dƣới.
Theo nguyên tắc này, Tòa án xét xử theo hai cấp - sơ thẩm và phúc
thẩm. Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn
luật định phải đƣợc xét xử phúc thẩm; bản án, quyết định phúc thẩm là cuối
cùng (chung thẩm), có hiệu lực thi hành. Giám đốc thẩm, tái thẩm không phải
là các cấp xét xử tiếp theo của phúc thẩm mà chỉ là các thủ tục đặc biệt để
xem xét lại bản án trong những trƣờng hợp đặc biệt theo quy định của pháp
luật. Nguyên tắc tòa án thực hiện hai cấp xét xử đòi hỏi việc tổ chức, sắp xếp
hệ thống tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra một cách hợp lý để đảm bảo
tính chuyên môn hóa và hiệu quả cao của từng cấp xét xử.
Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của tòa án.
Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn, Mỹ
21
Tho. Các Tòa án quân sự đã đƣợc thành lập với thẩm quyền xét xử sơ thẩm,
đồng thời chung thẩm tất cả những ngƣời phạm vào một việc gì có phƣơng
hại cho nền độc lập của nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa. Những bản án
của Tòa án quân sự có hiệu lực ngay, bị cáo và các đƣơng sự không có quyền
chống án, trừ trƣờng hợp ngƣời bị kết án tử hình sẽ đƣợc đƣa ra thi hành, khi
có quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nƣớc.
Để giữ vững kỷ luật trong quân đội, phục vụ tốt cho yêu cầu chiến đấu,
ngày 23/8/1945 Chính phủ đã ra sắc lệnh số 163/SL về việc thành lập tòa án
xét xử các quân nhân, sĩ quan phạm tội.
Đó là những văn bản pháp lý đầu tiên, là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt
động của tòa án sau này.
Để nâng cao hiệu lực của Bộ máy Nhà nƣớc cũng nhƣ để hoàn thiện về
mặt tổ chức của tòa án, ngày 24/1/1946 Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số
13/SL quy định về tổ chức, hoạt động tòa án và ngạch thẩm phán. Đây là Sắc
lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ, cụ thể tiêu chuẩn nhiệm vụ và quyền
hạn của các ngạch thẩm phán.
Theo Sắc lệnh này, Bộ trƣởng Bộ Tƣ pháp có quyền bổ nhiệm thẩm
phán tòa án sơ cấp. Chủ tịch nƣớc bổ nhiệm thẩm phán tòa án đệ nhị cấp.
Thẩm phán đƣợc chia thành hai dạng là thẩm phán xét xử và thẩm phán công
tố. Việc bổ nhiệm thẩm phán đòi hỏi phải có một số tiêu chuẩn nhất định nhƣ:
phải có quốc tịch Việt Nam, đủ 21 tuổi trở lên, có bằng cử nhân luật khoa và
đã trúng tuyển kỳ thi tuyển.
Cũng theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946, hệ thống tòa án bao gồm:
tòa thƣợng thẩm (cấp kỳ), tòa đệ nhị (cấp tỉnh), tòa án sơ cấp (cấp huyện). Bên
dƣới là mạng lƣới các Ban tƣ pháp xã, đƣợc thành lập gồm có Chủ tịch, Phó
chủ tịch và thƣ ký. Hệ thống này chịu sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Tƣ pháp.