đề tài định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án trong giai đoạn hiện nay - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 36 (2010 – 2014)

ĐỀ TÀI

ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY

Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Nam Phương
Bộ môn: Luật Hành chính

Sinh viên thực hiện:
Lê Vũ Kỳ
MSSV: 5105872
Lớp: Luật Thương Mại 1–K36

Cần Thơ, tháng 12/2013


NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
---   -- ......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày….tháng….năm……


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN

1.2.2 Chức năng

15

1.2.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân

18

1.3 MỘT VÀI NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN
19
1.3.1 Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán

19

1.3.2 Nguyên tắc Tòa án xét xử có sự tham gia của Hội thẩm, Hội thẩm ngang
quyền với Thẩm phán

20

1.3.3 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

21

1.3.4 Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật

23

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA

34

2.2.3 Một số hạn chế về hoạt động của Tòa án

35

2.3 THỰC TRẠNG VIỆC CẢI CÁCH TƯ PHÁP

36

2.3.1 Tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện

37

2.3.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án

38

2.3.3 Xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp

39

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
HIỆN NAY CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
41
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CẤP TÒA ÁN

41



49

3.1.3.4 Về Tòa án tối cao

50

GVHD: Nguyễn Nam Phương

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP

53

3.2.1 Thay đổi thủ tục tố tụng xét hỏi bằng thủ tục tố tụng tranh tụng

54

3.2.2 Hủy bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án

55

3.2.3 Nâng cao năng lực, đời sống vật chất của đội ngũ cán bộ Tòa án

56


xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hàng loạt vấn đề lý luận, thực tiễn trong tổ chức và hoạt động
của hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay vẫn còn là yêu cầu đòi hỏi bức thiết về cả
lý luận và thực tiễn.
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nhằm đưa đất
nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hội nhập cùng thế giới. Để góp phần bảo đảm tính ổn
định, phát triển của đất nước, cần phải xây dựng một môi trường pháp lý thông thoáng, lành
mạnh và tiến bộ đáp ứng các yêu cầu của công cuộc hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thúc
đẩy nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công
nhà nước pháp quyền. Vì vậy, cần phải xây dựng một hệ thống Tòa án hoàn chỉnh, đồng bộ,
thống nhất từ trung ương đến địa phương, thực hiện tốt công tác bảo đảm và thực thi pháp
luật và để làm rõ hệ thống tòa án trong bộ máy nhà nước ta từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn ngành Tòa án. Vì thế, người viết chọn đề tài “Định hướng đổi mới tổ
chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay”.

GVHD: Nguyễn Nam Phương

1

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
2. Mục đích nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống Tòa án trong việc bảo vệ pháp luật theo
như khẳng định của các nhà luật học “Ở đâu có pháp luật, ở đó phải có Tòa án để bảo vệ
pháp luật”. Tuy nhiên, về bản chất, vai trò, quyền hạn, cách thức để tổ chức và hoạt động
của Tòa án thuộc mỗi kiểu nhà nước hay trong mỗi nước là khác nhau cần phải hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay theo hướng có hệ thống
hơn, toàn diện hơn làm cơ sở lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới. Vì vậy, người viết
chọn đề tài này để nâng cao hiểu biết bản thân về tổ chức và hoạt động của Tòa án. Đồng

Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN
Trong chương này người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu về mặt khái quát các vấn
đề chính. Thứ nhất sẽ tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của ngành Tòa án nhân
dân ở nước ta thông qua các giai đoạn lịch sử kể từ khi nhà nước ta ra đời vào ngày 2-91945 ngành Tòa án đã có nhiều thay đổi theo thời gian. Thứ hai người viết nghiên cứu sơ
lược về vị trí và chức năng, thẩm quyền của Tòa án để hiểu rõ về tổ chức và hoạt động Tòa
án trong bộ máy nhà nước. Thứ ba sẽ tìm hiểu một vài nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
Tòa án để hiểu rõ thêm về cách thức tổ chức và hoạt động để đảm bảo cho Tòa án xét xử
khách quan đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

1.1 KHÁI QUÁT CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ LỊCH SỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN
1.1.1 Giai đoạn từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959
Ngày 24-1-1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ra Sắc
lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán. Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định
một cách đầy đủ tổ chức, giải quyết các tranh chấp, xử phạt các việc vi cảnh ở cơ sở cũng
như tổ chức các Tòa án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm
phán.
Tiếp theo Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 51
ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các thành viên trong
Tòa án.
Ngày 9-11-1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thông qua bản Hiến
pháp đầu tiên của Nhà nước ta. Theo đó “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa gồm có: Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp”.1 Ở
giai đoạn này các Thẩm phán đều được bổ nhiệm với các quy định “Các viên Thẩm phán đều
do Chính phủ bổ nhiệm”.2 Về các nguyên tắc xét xử gồm có: “Trong khi xử việc hình thì
phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc đại hình”.3

này không có quyền kiểm soát, điều khiển các Tòa án. Các Thẩm phán cũng không phải báo
cáo với Ủy ban hành chính.
Về phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án: theo Sắc lệnh số 185 thì thẩm quyền
các Tòa án sơ cấp và Tòa án đệ nhị cấp, thì hệ thống Tòa án Việt Nam trong giai đoạn này
hoạt động trên cơ sở phân định thẩm quyền khá rạch ròi. Về hình sự, Tòa án sơ cấp chỉ xét
xử những vụ vi cảnh hoặc đòi bồi thường; Tòa án đệ nhị cấp xét xử tiểu hình và đại hình.8
Về dân sự và thương sự, Tòa án sơ cấp xét xử những việc hộ tịch, những việc kiện liên quan
đến động sản mà giá ngạch (do nguyên đơn định giá trên 150 đồng nhưng dưới 450 đồng)9
hoặc bất động sản, những việc không thể ấn định giá ngạch, những việc không có giá ngạch
nào mà phải có án nghị. Tòa đệ nhị cấp có quyền phúc thẩm những phán quyết sơ thẩm của
Tòa án sơ cấp bị kháng cáo, những việc liên quan đến thân phận hay căn cước của con người
(trừ các việc hộ tịch) hoặc các vấn đề tế tự.10 Tòa thượng thẩm (Tòa án phúc thẩm theo tên
gọi Hiến pháp năm 1946) xét xử phúc thẩm những phán quyết sơ thẩm của Tòa án đệ nhị cấp
bị kháng cáo. Cách quy định này đã tạo nên một hệ thống xét xử hai cấp của Tòa án Việt

4

Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, Điều 66.
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, Điều 67.
6
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, Điều 69.
7
Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946, Điều 46.
8
Sắc lệnh số 185 ngày 26-5-1948, Điều 10.
9
Tòa án nhân dân tối cao, Lịch sử và phát triển Tòa án, [ ngày truy cập 3-9-2013].
10
Sắc lệnh số 185 ngày 26-5-1948, Điều 11.
5

thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Với mục tiêu này, Sắc lệnh quy định khi
xét xử, thành phần Hội thẩm nhân dân phải chiếm đa số trong Hội đồng xét xử. Trước đó
phụ thẩm nhân dân chỉ tham gia trong xét xử các vụ án hình sự, giờ đây tham dự xét xử cả
hình sự và dân sự và có quyền biểu quyết bình đẳng với thẩm phán. Cũng trong năm 1950,
tại mỗi liên khu và những vùng tạm chiếm được thành lập một Tòa án nhân dân liên khu
hoặc Tòa án nhân dân vùng bị tạm chiếm theo Sắc lệnh số 156-SL và Sắc lệnh số 157-SL.16

11

Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946, Điều 3.
Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946, Điều 48.
13
Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946, Điều 49.
12
Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946, Điều 52.
15
Sắc lệnh số 85 ngày 22-5-1950, Điều 1.
12

16

Nguyễn Đăng Dung, Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004, tr. 158 – 161.

GVHD: Nguyễn Nam Phương

5

SVTH: Lê Vũ Kỳ




Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
trong bộ máy Nhà nước. Hai hệ thống cơ quan này không còn trực thuộc Hội đồng Chính
phủ mà trực tiếp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội (cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất).
Hệ thống Tòa án của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân địa phương (gồm Tòa án nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung
ương, Tòa án nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các Tòa án quân sự và trong
trường hợp xét những vụ án đặc biệt Quốc hội có thể thành lập Tòa án đặc biệt.17 Ví dụ:
Trong giai đoạn này nếu có những phần tử chống đối cách mạng, ra sức để lật đổ chính
quyền nhân dân gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thì Quốc hội sẽ quyết định thành lập
Tòa án đặc biệt để xét xử các phần tử phản cách mạng này.
Về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm có: Chánh án, một hoặc nhiều Phó
Chánh án, các Thẩm phán và Thẩm phán dự khuyết. Tòa án nhân dân tối cao có các tổ chức
sau: Ủy ban thẩm phán; các Tòa chuyên trách: Tòa hình sự, Tòa dân sự và Tòa quân sự; Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân tối cao; Hội đồng toàn thể thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.18 Hội
đồng toàn thể Thẩm phán không phải là thiết chế xét xử mà chỉ duyệt lại các bản án tử hình
trước khi thi hành, còn việc xét lại án đã có hiệu lực pháp luật thuộc về Ủy ban Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị
hành chính tương đương có Chánh án, một hoặc nhiều Phó Chánh án và các Thẩm phán.19
Tòa án nhân dân cấp tỉnh không có các Tòa chuyên trách mà chỉ có Ủy ban Thẩm phán. Tòa
án nhân dân khu tự trị có cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban Thẩm phán, các Tòa hình sự, Tòa dân
sự, Tòa phúc thẩm.
Trong giai đoạn này căn cứ để thiết lập một Tòa án là mỗi đơn vị lãnh thổ từ cấp
huyện được thành lập một Tòa án. Đối với các khu tự trị, ngoài Tòa án khu, các tỉnh và các
huyện trong khu tự trị đó cũng thành lập các Tòa án.
Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán được thay thế bằng nguyên tắc bầu Thẩm phán.
Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp địa phương do Hội đồng nhân dân các cấp bầu ra.
Nhiệm kỳ của thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh là bốn năm,20 nhiệm kỳ của Thẩm phán
Tòa án nhân dân cấp huyện là ba năm.21 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu

tối cao được giao nhiệm vụ quản lý các Tòa án nhân dân địa phương. Tuy nhiên, về thực
chất, Tòa án nhân dân tối cao chỉ quản lý về công tác sắp xếp bộ máy làm việc, số lượng biên
chế, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội duyệt tổng biên chế của các Tòa án địa phương, quản
lý, hướng dẫn xét xử các Tòa án địa phương còn các vấn đề bầu, miễn nhiệm thẩm phán,
kinh phí, cơ sở vật chất, sắp xếp nhân sự đều do chính quyền địa phương đảm nhiệm.

22

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Điều 26.

GVHD: Nguyễn Nam Phương

8

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
Sơ đồ tổ chức Tòa án theo Luật tổ chức Tòa án năm 1960

Tòa án nhân dân tối cao
Ủy ban thẩm phán
TANDTC

Tòa hình sự

Tòa dân sự

Tòa phúc
thẩm

tương đương

TAND huyện,
thành phố
thuộc tỉnh, thị


TAND huyện,
thị xã trong
khu tự trị

GVHD: Nguyễn Nam Phương

Tòa án quân
sự trung
ương

9

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
1.1.3 Giai đoạn từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992
Về cơ bản, trong giai đoạn này, hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân không khác nhiều
so với hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn trước đó. Nguyên tắc tổ chức Tòa án theo
đơn vị hành chính lãnh thổ kết hợp với thẩm quyền xét xử và nguyên tắc bầu cử Thẩm phán
ở các Tòa án địa phương được tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức
Tòa án nhân dân ngày 3 tháng 7 năm 1981. Tuy nhiên, có một số điểm mới sau:
Nhiệm kỳ thẩm phán theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 được quy định rõ thời

GVHD: Nguyễn Nam Phương

10

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
Sơ đồ tổ chức tòa án theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981
được sửa đổi, bổ sung năm 1988
Tòa án nhân dân tối cao
Hội đồng thẩm phán
TANDTC

Ủy ban thẩm phán
TANDTC

Tòa hình sự

Tòa dân sự

Các Tòa phúc
thẩm

TAND tỉnh, thành phố trực thuộc TW và cấp
tương đương
Ủy ban thẩm phán

Tòa hình sự


thống pháp luật, một bộ máy nhà nước mới để quản lý hiệu quả nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và một xã hội dân chủ toàn diện cộng với sự thay đổi hệ thống tư
pháp. Với sự ra đời của Hiến pháp năm 1992, cuộc cải cách tư pháp lần thứ ba được thực
hiện, Tòa án nhân dân có những thay đổi về mô hình tổ chức phù hợp với nhiệm vụ xét xử
trong tình hình mới “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án
quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án
đặc biệt”.27
Hệ thống Tòa án nước ta gồm có: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh; các Tòa án quân sự gồm có: Tòa án quân sự trung ương, các Tòa án quân sự quân khu
và tương đương, các Tòa án quân sự khu vực; các Tòa khác do luật định.28
Trong giai đoạn này, tổ chức hoạt động của Tòa án có những đặc điểm cơ bản sau:
Chế độ xét xử hai cấp trước đây được quy định trong Điều 9 Luật tổ chức Tòa án
nhân dân năm 1960, Điều 11 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 đã không còn được
quy định như là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án trong Luật tổ chức Tòa án
nhân dân năm 1992;
Phù hợp với những bước đi đầu tiên của quá trình chuyển đổi, các Tòa chuyên trách
được thành lập bên trong Tòa án cấp tỉnh và cấp trung ương để xét xử các tranh chấp về kinh
tế, lao động và hành chính bên cạnh hai lĩnh vực truyền thống là hình sự và dân sự. Tại Tòa
án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thành lập các Tòa chuyên trách để xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính.29 Tại các Tòa án nhân dân cấp huyện
không thành lập các Tòa chuyên trách nhưng có sự phân công các Thẩm phán giải quyết các
vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp mình.
Trước năm 1993, trong các Tòa án nhân dân ở nước ta chỉ có Tòa hình sự và Tòa dân sự. Các
tranh chấp kinh tế do Trọng tài kinh tế Nhà nước giải quyết. Nhưng việc giải quyết của
Trọng tài kinh tế mang tính chất hòa giải. Ngoài ra, cơ chế thị trường và những ưu điểm,
khuyết tật cố hữu của nó đã đặt ra trước Nhà nước những nhiệm vụ mới không chỉ trong hoạt
27


nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án và Thẩm
phán của Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án, thẩm phán Tòa án nhân dân địa
phương, Tòa án quân sự là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm.31

30
31

Nguyễn Đăng Dung, Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb. tư pháp, Hà nội, 2004, tr. 167 – 168.
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, Điều 38.

GVHD: Nguyễn Nam Phương

13

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
Sơ đồ tổ chức Tòa án theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992
được sửa đổi, bổ sung năm 1993 và 1995
Tòa án nhân dân tối cao
Hội đồng thẩm phán
TANDTC

Các Tòa chuyên trách
(hình sự, dân sự, kinh tế,
hành chính, lao động).

Bộ máy giúp
việc

Tòa án quân sự khu vực

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
1.2 VỊ TRÍ VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.2.1 Vị trí
Nhà nước ta được cấu thành từ bốn hệ thống cơ quan: Hệ thống cơ quan quyền lực
nhà nước (hay còn gọi là cơ quan đại diện mà cụ thể là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp); các cơ quan chấp hành và điều hành (hay còn gọi là cơ quan hành pháp mà cụ thể là
Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan thuộc Ủy
ban nhân dân các cấp); các cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân các cấp và các Tòa án quân sự)
và các cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện kiểm sát quân sự các cấp).
Và như vậy với vị trí là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước, góp phần cấu thành
nên bộ máy nhà nước, để thực hiện tốt vai trò vừa là cơ quan xét xử vừa là cơ quan bảo vệ
pháp luật của Nhà nước ta thì hoạt động của Tòa án phải đảm bảo tính công minh, khách
quan góp phần vào sự ổn định của pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong hệ thống tư
pháp, Tòa án giữ một vị trí đặc biệt. Bằng hoạt động của mình, Tòa án có vai trò cực kỳ
quan trọng trong việc giữ gìn, đảm bảo công lý, bảo vệ pháp luật và quyền lợi của công dân
và đây chính là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia.32
Tờ trình Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946 về tổ chức các Tòa án và các
ngạch thẩm phán của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có đoạn: "Người ngoại quốc khi tới một nước,
trước khi hoạt động về kinh tế hay làm một việc gì, vẫn tự hỏi luật lệ và Thẩm phán ở nước
ấy có đủ minh bạch và công bằng để đảm bảo cho họ không?" từ nội dung trên mà chúng ta
thấy được rằng bản chất của việc xét xử chính là đảm bảo tính công minh của pháp luật, bảo
vệ quyền lợi cho mỗi người dân. Như vậy, Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp trong hệ
thống các cơ quan cấu thành nên bộ máy nhà nước, là một cơ quan hoạt động độc lập và có
quyền phán xét hành vi nào là có tội hay không có tội, qua đó bảo vệ pháp luật, bảo vệ
quyền và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính

tranh chấp hoặc hình phạt đối với các hành vi có lỗi và trái pháp luật trong mỗi vụ án.34 Như
vậy, việc Tòa án được nhân danh Nhà nước để thực hiện hoạt động xét xử của mình chính là
việc Tòa án thực hiện quyền lực Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước để quản lý xã hội.
Ngoài nhiệm vụ quản lý cán bộ của ngành, quản lý cơ sở vật chất và tang vật của Tòa án
mình, Tòa án nhân dân còn phải tham gia phối hợp với các cơ quan nhà nước khác, các tổ
chức xã hội trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện "sống và làm việc theo
pháp luật".
Hoạt động chủ yếu, thường xuyên của Tòa án nhân dân là hoạt động xét xử các hình
sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tế…Chức năng xét xử là chức năng duy nhất của Tòa
án, ngoài Tòa án ra không có một cơ quan nào nhân danh quyền lực Nhà nước để thực hiện
chức năng này “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án
quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam”.35
Từ những lý do trên mà chúng ta thấy rằng đặc điểm cơ bản của Tòa án nhân dân
(một trong bốn cơ quan cấu thành nên bộ máy nhà nước) để phân biệt với các tổ chức khác
đó chính là tính quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước để phán xét một cá nhân về hành
vi phạm tội của mình hoặc ra một bản án, quyết định đối với cá nhân, tổ chức liên quan…
Chính tính quyền lực ấy đã tạo cho hoạt động của Tòa án nhân dân những đặc điểm của hoạt
động xét xử như sau:
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật.36 Như vậy từ quy định mang tính nguyên tắc suy đoán vô tội trên
34

Nguyễn Đăng Dung – Ngô Đức Tuấn, Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật Hiến pháp Việt Nam,
Nxb. Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh, 2004, tr.98.
35
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Điều 1.
36
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Điều 72.


buộc các bên phải tuân thủ, nếu vi phạm thì sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự, hay nói khác đi việc thực hiện quyền lực Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà
nước đã thể hiện rõ hơn ở chức năng xét xử này của Tòa án so với các cơ quan Nhà nước
khác. Một lần nữa chúng ta lại nhận thức rằng tính quyền lực Nhà nước thể hiện rất rõ nét ở
chỗ: thẩm quyền của Tòa án trong những trường hợp như trên là quyền ra quyết định có tính
bắt buộc các chủ thể có liên quan (cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ Nhà nước, tổ chức xã
hội, công dân) phải thi hành.

GVHD: Nguyễn Nam Phương

17

SVTH: Lê Vũ Kỳ


Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
1.2.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao:
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.37 Hướng dẫn các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự áp dụng
thống nhất pháp luật đây là điều rất cần thiết để hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta từ
trung ương đến địa phương. Giám đốc việc xét xử của của các Tòa án bảo đảm việc xét xử
của các Tòa án kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật vì tình hình vi phạm pháp luật ngày
càng nhiều cộng với năng lực của các Thẩm phán còn hạn chế và các tiêu cực trong ngành
Tòa án cần phải phát hiện kịp thời và phải được giải quyết theo đúng pháp luật. Ngoài việc
xét xử theo trình tự Giám đốc việc xét xử, Tòa án nhân dân tối cao còn phải xét xử các vụ án
theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm đây là nhiệm vụ xuyên suốt, quan
trọng nhất, Tòa án nhân dân tối cao thành lập các Tòa chuyên trách: Tòa hình sự, Tòa dân
sự, Tòa lao động,Tòa kinh tế, Tòa hành chính, các Tòa phúc thẩm đặt ở (Hà nội, Đà Nẵng,
Thành phố Hồ Chí Minh) và Tòa án quân sự Trung ương.

Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án trong giai đoạn hiện nay
Xét xử phúc thẩm các bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện mà đã được
kháng cáo, kháng nghị lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các
bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện có kháng nghị. Giải quyết những việc
khác theo quy định của pháp luật (bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất tại Tòa án cấp
mình và Tòa án cấp dưới, tổng kết rút kinh nghiệm xét xử, báo cáo công tác trước Hội đồng
nhân dân cùng cấp và Tòa án nhân dân tối cao, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân và cán bộ Tòa án cấp mình và cấp dưới…)
Như vậy, có thể thấy thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là khá rộng và
nhiệm vụ cũng hết sức nặng nề.
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện:
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn
nhân, gia đình, lao động, hành chính, kinh tế nhưng chỉ theo một thủ tục duy nhất là: xét xử
sơ thẩm những vụ đơn giản, ít phức tạp, không có nhân tố nước ngoài hoặc những vụ án
hình sự mà nó không liên can tới (an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình chống lại loài người,
tội giết người…). Tuy nhiên hiện nay ở các Tòa án cấp huyện vẫn còn những bất cập như
một số nơi ở miền núi, hải đảo, vùng sâu… hoạt động xét xử diễn ra rất ít, trái lại các Tòa án
cấp huyện ở các Thành phố lớn thì các vụ án phải giải quyết quyết rất nhiều trong khi biên
chế ở các nơi này là như nhau.
1.3 MỘT VÀI NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
TÒA ÁN
Các Tòa án nhân dân là những bộ phận hợp thành của hệ thống tư pháp trong bộ
máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Vì vậy tổ chức và hoạt động của Tòa án
nhân dân trong tiến trình đổi mới, cải cách hệ thống tư pháp cần tiếp tục được củng cố và
để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ đó Nhà nước ta cần phải hoàn thiện các nguyên tắc
xét xử sau đây trong công cuộc cải cách tư pháp.
1.3.1 Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán
Ở nước ta trước đây đã thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán. Nhưng từ năm 1960
đến trước khi có Hiến pháp 1992, Thẩm phán của Tòa án nhân dân các cấp do các cơ quan
quyền lực Nhà nước cùng cấp bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm. Trước đây chúng ta quan niệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status