phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp
chứng cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm
quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội; có tác dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và
vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ việc giải
quyết các tranh chấp, đồng thời góp phần vào việc duy trì kỷ cương pháp luật
trong xã hội.
Việc tăng cường công tác công chứng trong tình hình hiện nay là yêu
cầu bức xúc của quản lý kinh tế, quản lý xã hội, hình thành một bước quan
trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn
định chính trị và trật tự an toàn xã hội [107, tr. 262]. Để phát huy hiệu quả
của hoạt động công chứng, tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật và giúp
đỡ pháp lý cho công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế.
Với một thời gian ngắn trong vòng 10 năm, Nhà nước ta đã ban hành ba
Nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng (Nghị định 45/HĐBT ngày
27/2/1991, Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996; Nghị định 75/2000 ngày
8/12/2000), điều đó chứng tỏ tổ chức và hoạt động công chứng là một lĩnh
vực không những được xã hội chú ý mà còn được Nhà nước luôn quan tâm
để hoàn thiện pháp luật về công chứng ở nước ta.
Thực tiễn hoạt động công chứng ở nước ta trong những năm vừa qua
cho thấy, hoạt động công chứng là "hàn thử biểu" của sự phát triển kinh tế xã
hội [23. tr. 3]. Nền kinh tế thị trường, trình độ xã hội hóa ngày càng cao, các
quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi tổ
5
chức và hoạt động công chứng cần phải đáp ứng kịp thời những nội dung của
quá trình đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đề ra là "cải cách nền hành chính
nhà nước là trung tâm của việc xây dựng hoàn thiện nhà nước trong những năm
trước mắt" [67, tr. 31]. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
và các cơ quan bổ tạo tư pháp, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức

xây dựng và hoàn thiện công chứng nhà nước ở Thành phố Hà Nội (Thông
tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 1995); "Công chứng nhà nước và những
vấn đề đặt ra hiện nay" của TS. Trần Thất (Thông tin khoa học pháp lý, Bộ
Tư pháp, 1995); "Công chứng nhà nước Thành phố Hà Nội những vấn đề cần
quan tâm" của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước,
số 11, tháng 6 năm 1995; "Tình hình công chứng hiện nay và những vấn đề
đặt ra" của tác giả Trần Kiên, đăng trên Tạp chí Pháp luật, số chuyên đề
tháng 7 năm 1995; "Công chứng nhà nước công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức" của tác giả Dương Đình
Thành, đăng trên Tạp chí Pháp luật, số chuyên đề tháng 7 năm 1995; "Một số
vấn đề công chứng các giao dịch về tài sản ở Việt Nam - thực trạng và giải
pháp", Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Đỗ Xuân Hòa, hoàn thành năm
1998; "Một số vấn đề về công chứng nhà nước của TS. Nguyễn Ngọc Hiến''
(tài liệu nghiệp vụ về công chứng - Bộ Tư pháp phát hành tháng 10/1996);
"Tập bài giảng công chứng, luật sư, giám định tư pháp, hộ tịch" của Trường
Đại học Luật Hà Nội, 1997; "Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc
xác định phạm vi nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản
công chứng ở nước ta hiện nay", (Luận án Tiến sĩ Luật học của Đặng Văn
Khanh, Hà Nội 2000).
7
Các đề tài nghiên cứu nói trên đã có những giải quyết nhất định về
các lĩnh vực công chứng ở nước ta trong những năm trước đây, song các nội
dung nghiên cứu chưa cập nhật đầy đủ và chưa đảm bảo tính hệ thống về tổ
chức và hoạt động công chứng ở nước ta trong những năm vừa qua và tình
hình đổi mới theo tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX hiện nay. Trong các quy định của pháp luật về công chứng trong dư luận
xã hội cũng như quan điểm của các tác giả thì lĩnh vực công chứng dường
như vẫn còn là một lĩnh vực thiếu nhất quán và còn nhiều mâu thuẫn.
Với đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ giải quyết được một phần hạn
chế nói trên. Chúng tôi có những thuận lợi hơn các tác giả trước đây là: Bản

tổ chức và hoạt động công chứng được áp dụng trong thực tiễn hoạt động của
các phòng công chứng cũng như hoạt động của các cơ quan khác có thẩm
quyền thực hiện công chứng, đồng thời trên cơ sở những vướng mắc, thiếu
sót mà thực tiễn hoạt động công chứng đặt ra để phân tích về mặt lý luận và
đề xuất những giải pháp nhằm kiện toàn lại tổ chức công chứng ở nước ta.
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu về khái niệm công chứng nói chung và khái niệm
công chứng theo mô hình tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta hiện
nay; nghiên cứu về tổ chức công chứng, hoạt động công chứng; nghiên cứu
về cơ quan quản lý công chứng; đặc biệt là nghiên cứu về công chứng viên -
chủ thể của hoạt động công chứng; nghiên cứu về các cơ quan có liên quan
đến hoạt động công chứng ở nước ta.
- Phạm vi nghiên cứu:
9
Luận án nghiên cứu việc tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta
gồm các vấn đề về khái niệm công chứng, việc tổ chức các cơ quan thực hiện
công chứng.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp
luật. Trên cơ sở phương pháp luật duy vật biện chứng và quan điểm lịch sử
để khẳng định vị trí vai trò chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt
động công chứng.
- Tác giả dựa vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về kinh
tế, về quản lý nhà nước, về cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp và
đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp, hỗ trợ tư pháp. Nghiên cứu các
chế định về công chứng nói chung, trong đó đáng chú ý là các quy định về tổ
chức công chứng trong các thời kỳ lịch sử cụ thể ở nước ta và của các trường
phái công chứng trên thế giới.
- Trong quá trình nghiên cứu tác giả đặc biệt chú ý sử dụng phương

hành vi công chứng.
- Luận án đã đưa ra được mô hình tổ chức và quản lý công chứng trên
cơ sở nghiên cứu về lịch sử phát triển công chứng, chứng thực ở nước ta qua
các thời kỳ, dựa trên nền tảng của văn hóa dân tộc, thói quen ứng xử trong
giao lưu dân sự, quá trình phát triển của quan hệ sở hữu, kết hợp với việc
nghiên cứu có chọn lọc không áp đặt, rập khuôn máy móc, giáo điều mô hình
công chứng của bất cứ quốc gia nào. Cơ cấu tổ chức bộ máy công chứng mà
tác giả đưa ra là phù hợp, hoạt động có hiệu quả phù hợp với tiến trình cải
11
cách nền hành chính quốc gia, phù hợp với tình hình đặc điểm của nước ta kể
cả hiện tại và trong tương lai.
- Luận án đã có những đề xuất cụ thể để sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện những văn bản pháp luật về công chứng, chứng thực, về chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan quản lý công chứng, về quy chế hoạt
động của công chứng viên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ
thống đầu tiên về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện
nay. Với những đóng góp mới về mặt khoa học đã được nêu trên, trong quá
trình viết luận án, tác giả đã công bố những kết quả nghiên cứu trong các tạp
chí chuyên ngành.
- Về thực tiễn: Luận án góp phần vào việc xác định khái niệm công
chứng, chủ thể thực hiện hành vi công chứng cũng như việc nâng cao hiệu
quả trong việc hạn chế bớt các tranh chấp xảy ra trong giao dịch dân sự, kinh
tế, thương mại, lao động
Ngoài ra, với những đóng góp mới của luận án sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tiếp tục nghiên cứu về tổ chức và hoạt động công chứng cũng
như làm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy ở các trường đại học, nhất là
phục vụ cho việc đào tạo chức danh công chứng ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận án

nhận. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa
vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải
quyết
vụ việc tranh chấp. Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực
hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là "tư
chứng thư" [54, tr. 31]. Đây là một dạng chứng nhận của bất kỳ một cá nhân
nào, thực hiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn
mà họ được giao, Nhà nước không những không cấm mà còn có phần
khuyến khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu. Loại
hoạt động này chúng ta thấy xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến tận
ngày nay. Ở Việt Nam trong Quốc triều thư khế (Thể thức giấy tờ, khế ước
dùng trong triều) như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng
đất, văn ước vay nợ, giấy giao kèo, văn ước bán trâu, bò đều quy định người
chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉ vào văn tự [54, tr.
61], [69], [78]. Đây là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý, hạn
chế tranh chấp kiện tụng.
Trong xã hội phong kiến ở Việt Nam chính vì có những bảo
đảm trong quan hệ giao dịch nên nhân dân đã tìm đến với Quốc
triều hình luật, Quốc triều thư kế vốn có chứa đựng những chuẩn
mực sinh hoạt đời thường. Một điều lý thú trong đời sống hàng
ngày từ xa xưa ở Việt Nam đã có câu "Nói có sách, mách có
chứng" phần nào như một luật tục. Cho đến nhà Nguyễn Gia Long
ban hành Hoàng Việt luật lệ vẫn tiếp tục được nhân dân và quan lại
chính quyền nhà Nguyễn vận dụng [53, tr. 21].
Bộ luật dân sự của nước ta hiện nay vẫn quy định trong quan hệ dân
sự các bên phải thiện chí, trung thực Nếu một bên cho rằng bên kia không
14
trung thực thì phải có chứng cứ [1], [11], chứng cứ ở đây bao hàm cả những
chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do bất kỳ tổ
chức, cá nhân nào cung cấp.

chứng. Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vi công chứng được
Nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm
tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định
của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng
các hình thức Nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc Nhà
nước ủy quyền (công chứng tự do).
Hiện tại có những quan điểm cho rằng, công chứng có nghĩa là lấy công
quyền mà làm chứng (Attestation), sự chứng nhận của Nhà nước, sự chứng
nhận của quyền lực công [1, tr. 102]. Công chứng ở nước ta được hình thành
(hiểu theo nghĩa hình thành một tổ chức) từ thời Pháp thuộc, lúc đó gọi là
chưởng khế, hoạt động theo quy chế chưởng khế của người Pháp [7, tr. 63].
Thuật ngữ chưởng khế được hiểu như sau: Chưởng có nghĩa là chức vụ, chức
tước mà mình đang nắm giữ (chức mình giữ), một người được Nhà nước giao
cho một chức vụ nào đó. Khế có nghĩa là khế ước, hợp đồng, sự thể hiện ý
chí với nhau, ý chí này phù hợp với các chủ thể (bày tỏ, tự nguyện). Thuật
ngữ chưởng khế có nghĩa là: Các việc công chứng do người có chức vụ hoặc
được Nhà nước giao nhiệm vụ chứng nhận các hợp đồng (khế ước, văn khế)
hoặc là người lập hoặc giữ các khế ước, cấp bản sao khế ước cho các đương
sự [97], [102, tr. 99]. Chứng nhận là cái dựa vào đó, để đảm bảo những sự
kiện, hiện tượng diễn ra là có thật, là đúng sự thật.
Có một số tài liệu nghiên cứu về công chứng cho rằng, thuật ngữ
Notariat (tiếng Pháp), Notary (tiếng Anh), Notariat (tiếng Đức), Hotapiat
16
(tiếng Nga) đều có gốc La tinh là Notarius, có nghĩa là ghi chép lập văn bản
[8, tr. 20]. Có quan điểm cho rằng, bản thân thuật ngữ công chứng đã mang ý
nghĩa là sự làm chứng công khai, có dấu ấn của công quyền, công chứng viên
là người được Nhà nước bổ nhiệm thực hiện một công vụ. Thuật ngữ công vụ
ở đây được hiểu là không hoàn toàn lệ thuộc vào những quy định của pháp
luật về nền hành chính công. Công chứng là một hoạt động hành chính công,
lấy lẽ công để làm chứng, là sự nhận thực, xác thực hoặc xác nhận một sự

tr. 65].
Ở một số nước quy định, trong vòng một tháng kể từ khi được bổ
nhiệm công chứng viên phải tuyên thệ tại Tòa rộng quyền và chỉ được hoạt
động sau ngày tuyên thệ, trước khi hoạt động công chứng công chứng viên
phải đăng ký chữ ký tại Tòa rộng quyền, nơi đặt trụ sở của văn phòng.
Nhược điểm của thể chế công chứng này là trong chừng mực nào đó bị chi
phối bởi yếu tố dịch vụ, thiếu sự kiểm tra giám sát của Nhà nước. Tính chất
"công" trong hoạt động chứng thực bị chi phối [88, tr. 92].
Tương tự như loại hình này còn có một số quốc gia thuộc hệ thống
pháp luật Ăng-lô Sắc-xông quan niệm công chứng là một nghề tự do hoàn
toàn, Nhà nước không thừa nhận thể chế công chứng [7], [34].
Nhà nước thực hiện công chứng: Đây là loại hình công chứng nhà
nước, Nhà nước trực tiếp tổ chức và thực hiện công chứng chứ không ủy
quyền cho tổ chức hay cá nhân thực hiện. Là mô hình công chứng được tổ
chức chặt chẽ hoạt động chuyên nghiệp bằng kinh phí của Nhà nước. Tổ
chức công chứng là cơ quan nhà nước nằm trong bộ máy hành pháp [108].
Công chứng viên là công chức hưởng lương từ ngân sách của Nhà nước.
Điển hình của hệ thống này được áp dụng ở nước ta và các nước trong hệ
18
thống xã hội chủ nghĩa trước đây, công chứng nhà nước ở các nước xã hội
chủ nghĩa trước đây tuy có những nét riêng biệt, phụ thuộc vào điều kiện
hoàn cảnh của mỗi quốc gia. Song, có những nét nổi bật là hoạt động mang
tính chất nhà nước. Công chứng viên là viên chức nằm trong bộ máy nhà
nước. Cơ quan công chứng được thành lập theo lãnh thổ hành chính, những
nơi chưa có Phòng công chứng nhà nước thì giao cho Ủy ban nhân dân
chứng nhận, ý nghĩa của văn bản công chứng chưa được coi trọng. Vai trò
của công chứng viên không được đề cao, trách nhiệm bồi thường dân sự
trong hoạt động công chứng hầu như không được nhắc đến [87]. Công chứng
ở nước ta hiện nay được tổ chức theo loại hình này, công chứng đã xuất hiện
ở nước ta từ những năm 1930, do đặc điểm lịch sử và điều kiện phát triển

thực. Ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
về công chứng, chứng thực. Nghị định này đã quy định về tổ chức của Phòng
công chứng và công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.
Khác với Nghị định 31/CP/1996 (18/5/1996), Nghị định 75/2000/NĐ-CP
(8/12/2000) lần này xác định khái niệm công chứng và khái niệm chứng
thực:
Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác
thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập
trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác
(sau đây gọi là hợp đồng và giao dịch) và các việc khác theo quy
định của nghị định này.
Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác
nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân
20
trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ
theo quy định của nghị định này [66].
Như vậy, cả ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng đều
xác định công chứng ở nước ta là Nhà nước thực hiện công chứng, mặc dù
Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) có thay đổi tên gọi và tách bạch phạm
vi công chứng và chứng thực song, nghị định này vẫn điều chỉnh các lĩnh
vực hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện công chứng,
chứng thực, chứ không điều chỉnh riêng về hành vi công chứng, chứng thực
hoặc hành vi yêu cầu công chứng, chứng thực của cá nhân và tổ chức như
pháp luật về công chứng của các nước thuộc hệ thống pháp luật Ăng-lô Sắc-
xông.
Dựa trên những quy định của Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000)
về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay thì khái niệm công chứng theo
Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 đã được sửa đổi và phân định rõ trên cả hai
phương diện về tổ chức và hoạt động công chứng, chứng thực. Những việc
chứng nhận hợp đồng, giao dịch và các quan hệ xã hội khác do công chứng

diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện thì gọi là công chứng,
nếu cũng việc ấy mà do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì gọi
là chứng thực.
Như vậy, công chứng và chứng thực là hai khái niệm khác nhau cả về
phương diện tổ chức, phạm vi hoạt động, chủ thể thực hiện hành vi công
chứng, chứng thực. Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) trong chừng mực
nào đó đã khắc phục được những thiếu sót về đồng nhất khái niệm công
chứng và chứng thực, khắc phục được sự nhầm lẫn giữa văn bản của công
22
chứng và văn bản của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã mà các nghị định
về công chứng trước đây chưa giải quyết được.
Tuy nhiên, hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện,
cấp xã không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án, song việc xác định thẩm
quyền, phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực, giá trị pháp lý của văn
bản công chứng, chứng thực có mối quan hệ với nhau và nhiều vấn đề cần
phải làm rõ, chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của công chứng nhà nước
Đặc điểm hoạt động công chứng nhà nước: Hoạt động công chứng ở
nước ta do Nhà nước quản lý về tổ chức, hoạt động công chứng là hoạt động
dịch vụ công, công chứng có nhiệm vụ giúp công dân, tổ chức thực hiện và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ bằng các biện pháp pháp lý. Hoạt động
này khác hoàn toàn với hoạt động của cơ quan tư pháp (Tòa án) là nhằm thực
thi công quyền, lập lại trật tự pháp luật khi đã bị rối loạn. Hoạt động công
chứng là hoạt động hỗ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hoạt động tư pháp.
Công chứng ở nước ta có đặc điểm khác biệt so với công chứng của
các quốc gia trên thế giới, là do các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước
thực hiện, hoạt động công chứng được xem là một nghề trong số các nghề tư
pháp [22, tr. 3], công chứng viên là một chức danh do Nhà nước quy định về
tiêu chuẩn chuyên môn, đạo đức. Văn bản công chứng thể hiện khá đậm nét
về dấu ấn của quyền lực công, đó là con dấu của công chứng nhà nước mang

trường, dưới sự quản lý của Nhà nước, góp phần xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng kinh tế đối ngoại, thực hiện đổi mới kinh tế,
xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng;
24
phù hợp với chủ trương của Nhà nước phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần với các hình thức sản xuất kinh doanh đa dạng, trong đó sở hữu toàn
dân và tập thể là nền tảng, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Chính cơ
sở kinh tế này đã quyết định tới việc xây dựng hệ thống công chứng và xác
định vị trí vai trò chức năng nhiệm vụ của công chứng ở nước ta [2], [93],
[107], [135]. Phòng công chứng với tính cách là cơ quan bổ trợ tư pháp, đã
có một vị thế mới, hoạt động công chứng lần đầu tiên trong văn bản của
Chính phủ được thừa nhận là một nghề tư pháp (Nghị định 75/2000 NĐ-CP
ngày 8/12/2000 của Chính phủ). Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động công chứng ở nước ta
đang chứng tỏ là một công cụ đắc lực phục vụ quản lý Nhà nước có hiệu quả,
góp phần tích cực phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự an toàn pháp lý cho các
quan hệ giao dịch trong xã hội [22].
Hoạt động chứng nhận của các cơ quan thực hiện công chứng nhằm
bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế và các quan hệ xã hội
khác, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, có tác dụng chủ động phòng ngừa các
tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp các tài liệu có giá trị chứng cứ phục
vụ cho việc giải quyết các tranh chấp. Một nội dung hết sức quan trọng vượt
ra khỏi vai trò hỗ trợ và phòng ngừa là giá trị thi hành đối với các bên giao
kết, sự hiện diện của công chứng viên, người có trình độ chuyên môn hiểu biết
pháp luật chứng nhận các bên đưa ra những điều khoản cam kết đúng pháp
luật đã làm cho hiệu lực thi hành của văn bản công chứng có giá trị tuyệt đối.
Sự đáng tin cậy và không thể phản bác của văn bản công chứng buộc
tổ chức, công dân phải tự nguyện thi hành những nghĩa vụ và giúp họ đương
nhiên được hưởng những quyền lợi mà văn bản công chứng đã xác nhận mà

Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991), Điều 1 Nghị định 31/CP (18/5/1996) và
Điều 2 Nghị định 75/2000 NĐ-CP (8/12/2000) đều xác định mục đích của
hoạt động công chứng là chứng nhận "tính xác thực của các hợp đồng được
giao kết hoặc giao dịch khác và giấy tờ theo quy định của pháp luật".
Vấn đề tranh luận nhiều hiện nay là hiểu như thế nào về tính xác
thực, bản chất của vấn đề xác thực là như thế nào?
Nội dung của Điều 2 Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) đã đề
cập tới khái niệm về công chứng. Mặt khác, đề cập tới mục đích của hành vi
công chứng là chứng nhận tính xác thực của hợp đồng và giấy tờ và nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần phòng ngừa
vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Cái mà pháp luật công chứng nhằm vào là bảo vệ lợi ích của các chủ
thể, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa [92, tr. 6]. Một số quan điểm cho rằng đây là mục đích của hành vi
công chứng. Song mục đích của hành vi công chứng không phải là như vậy
vì nó chưa phản ánh đúng đặc thù của hoạt động công chứng. Bảo vệ lợi ích
của các chủ thể, phòng ngừa vi phạm pháp luật là mục đích quan trọng và
thể hiện chung cho tất cả các hoạt động khác của các cơ quan nhà nước, các
tổ chức xã hội đều hướng tới chứ không riêng gì công chứng nhà nước. Vì
vậy, chúng tôi đồng ý cho đây là yêu cầu của việc thực hiện công chứng.
Tính xác thực có nghĩa là, người được Nhà nước giao nhiệm vụ làm
chứng phải phản ánh đúng sự thật khách quan diễn ra trong một không gian,
thời gian nhất định. Sự vật hiện tượng luôn diễn ra một cách khách quan đòi
hỏi công chứng viên phải đủ các điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ, hiểu
biết xã hội, để phản ánh một cách chính xác [91, 5].
Nói đến hoạt động công chứng là nói đến việc yêu cầu chứng nhận và
việc chứng nhận. Quá trình chứng nhận là quá trình diễn ra giữa các chủ thể
27
yêu cầu chứng nhận và chủ thể chứng nhận cùng hoạt động chung, cùng phối
hợp hài hòa với mục đích là phản ánh chính xác nội dung sự việc diễn ra.

ký tên vào văn bản, giấy tờ là có thật. Chữ ký trong văn bản đúng là của đương
sự còn ý chí của đương sự có đúng với sự thực khách quan và có phù hợp với
đánh giá của cơ quan có thẩm quyền hay không thì công chứng viên không
quan tâm.
- Chứng nhận về nội dung: Là loại công việc mà công chứng viên tiến
hành kiểm tra, xác minh để xác định năng lực hành vi, năng lực pháp luật trong
việc ký kết văn bản. Công chứng viên tiến hành kiểm tra nội dung của văn
bản, kiểm tra sự việc xem có đúng với ý chí của đương sự hay không, các
quyền và nghĩa vụ của các bên có phù hợp với quyền năng pháp lý của họ hay
không.
Trong hai loại công chứng trên thì công chứng về mặt hình thức đơn
giản hơn, đây là loại công việc đặc trưng của các nước dựa vào chế độ pháp
luật theo án lệ của Tòa án (Ăng-lô Sác-xông). Còn công chứng nội dung là
đặc trưng của các nước theo trường phái công chứng ''theo luật viết'' hình
thành từng bước qua hoạt động công chứng của người La Mã. Các nước lục
địa châu Âu, châu Phi đều theo hệ thống thể chế công chứng này. Liên Xô
(cũ) và các nước Đông Âu trước đây cũng áp dụng theo trường phái công
chứng "theo luật viết". Tuy nhiên, vì trước đây nền kinh tế của Liên Xô và
các nước Đông Âu không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh và tập thể, nên hoạt động công chứng không phát triển,
hoạt động tương đối đơn giản vì ít phải chứng thực các quan hệ thuộc sở hữu
29


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status