Luận văn Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam - Pdf 13

LUẬN VĂN:

Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp ở Việt Nam Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước

nhiều nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, về Viện kiểm
sát nhân dân, Nghị quyết nêu rõ:
Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay
là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân
dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án. Nghiên cứu việc
chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố
trong hoạt động điều tra [14].
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt
Nam cũng đã nêu rõ:
Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ
nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Đẩy mạnh việc thực hiện
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương,
đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố
gắn với hoạt động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm
Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp [15].
Như vậy, cả hai nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định Viện kiểm sát nhân
dân phải tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Do
đó, Viện kiểm sát nhân dân phải chủ động chuẩn bị tất cả các điều kiện để thực hiện
thành công việc đổi mới tổ chức và hoạt động phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp.
Đến đây, hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn được đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân đòi hỏi cần phải được quan tâm nghiên cứu.
Với lý do nêu trên, học viên đã chọn đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam" để viết
luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là vấn đề có
tính thời sự, cần thiết và cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, các bài


Tuy vậy, các công trình, bài viết trên chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu chung
nhất về tổ chức quyền lực nhà nước, nghiên cứu theo từng lĩnh vực nghiệp vụ chuyên
ngành hoặc được nghiên cứu dưới góc độ của luật nhà nước, luật hình sự và tố tụng hình
sự hoặc có công trình nghiên cứu tuy có trực tiếp đề cập đến vấn đề này nhưng do thời
điểm nghiên cứu đã lâu nên không cập nhật được những vấn đề đang đặt ra trong líư luận
và thực tiễn hiện nay, do đó nội dung không còn mang tính thời sự nữa. Vấn đề đổi mới
về cơ bản tổ chức Viện kiểm sát nhân dân theo hướng chuyển Viện kiểm sát thành Viện
công tố mới chính thức được đặt vấn đề khi Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-
NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành vào giữa năm 2005 và mới được ghi nhận trong
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu
năm 2006. Vì vậy, đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn
diện và có hệ thống về vấn đề này được chính thức công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và
pháp luật làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Qua phân tích những cơ sở lý luận cơ bản nhất về tổ chức quyền lực nhà nước,
quyền tư pháp để làm rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ
máy nhà nước; các quan điểm về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu của
cải cách tư pháp đối với đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
+ Làm rõ thực trạng đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam để làm
cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
+ Đề xuất những phương hướng cơ bản cho việc đổi mới và hoàn thiện tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận
văn tập trung phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân



7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực
tiễn trong quá trình đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học,
những người làm thực tiễn; đồng thời có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu, giảng
dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương 9 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận tiếp tục đổi mới
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

1.1. Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và vị trí, vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp
1.1.1. Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước ta
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị -
pháp lý quan trọng, là cơ sở để hàng loạt các thiết chế của một Nhà nước mới được tạo
lập. Ngay sau khi giành được độc lập, việc xây dựng và củng cố chính quyền là một trong
những công việc quan trọng, trong đó có việc xây dựng các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ
thành quả của cách mạng. Hệ thống cơ quan tư pháp ngay trong những năm đầu thành lập
được định hướng xây dựng thể hiện là một nền tư pháp cách mạng. Trong bối cảnh của
những ngày đầu thành lập nước, hệ thống cơ quan tư pháp được tổ chức rất đa dạng, linh

công tố, buộc tội tại phiên tòa.
Ngày 14 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số
21 thay thế các sắc lệnh đã ban hành trước đây về Tòa án quân sự, trong đó quy định Bộ
trưởng Bộ Tư pháp và Chủ tịch ủy ban hành chính có quyền chỉ định Công cáo ủy viên
thực hành quyền công tố, buộc tội tại phiên tòa. Như vậy, về tổ chức, ngoài Chánh án và
hai Hội thẩm là ủy viên quân sự và ủy viên chính trị đảm nhiệm, chức năng công tố do
một Công cáo ủy viên thực hiện. ở Bắc Kỳ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định Công cáo ủy
viên, ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì do Chưởng lý Tòa thượng thẩm hoặc Chủ tịch ủy ban
hành chính chỉ định ủy viên Chính phủ ngồi ghế Công cáo ủy viên. ủy viên Chính phủ
ngồi ghế Công cáo ủy viên có thể lấy trong quân đội, trong Ban trinh sát hay trong số các
Thẩm phán chuyên nghiệp. Các Công cáo ủy viên trực tiếp đặt dưới quyền giám sát của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp hay Bộ trưởng Bộ Nội vụ. ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì do Chưởng
lý Tòa thượng thẩm và Chủ tịch ủy ban hành chính giám sát.
Trong bối cảnh vừa giành được độc lập, việc thiết lập các cơ quan trong bộ máy
nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân, đặc biệt là các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo đảm trật tự xã hội. Bên cạnh việc thiết
lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét xử những tội phạm phản cách mạng,
những tội vi phạm trật tự quân đội, vi phạm kỷ luật của nhà binh, cần thiết phải thiết lập
hệ thống Tòa án thường để xét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ nhà nước và
bảo vệ nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Chính
phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm
phán (trong đó có Thẩm phán buộc tội). Theo quy định của Sắc lệnh này thì Tòa án
thường được tổ chức ở ba cấp là Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm.
Tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố chỉ được thành lập ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa
thượng thẩm, không tổ chức thành phần Công tố trong Tòa án sơ cấp vì thẩm quyền của
cấp Tòa án này rất hạn chế. Chủ thể thực hiện quyền công tố trong hệ thống Tòa án
thường được quy định là các Thẩm phán buộc tội thuộc Tòa án.
Mặc dù, tổ chức của cơ quan Công tố được đặt trong hệ thống Tòa án, cả Thẩm

trưởng Bộ Tư pháp và Chưởng lý.
Như vậy, trong thời kỳ này, tổ chức của cơ quan Công tố chủ yếu gắn với tổ chức
của cơ quan Tòa án, nằm trong tổ chức của cơ quan Tòa án, song vị trí và hoạt động của
cơ quan Công tố độc lập so với tổ chức và hoạt động của Tòa án.
Vào những năm 1950, kết quả của cuộc cải cải tư pháp lúc bấy giờ có ảnh hưởng
quan trọng tới hoạt động cơ quan Công tố. Về vị trí của cơ quan Công tố và những chủ
thể được giao thực hiện quyền công tố nhà nước so với các quy định được ban hành trước
cuộc cải cách tư pháp năm 1950 về cơ bản không thay đổi, quyền công tố nhà nước vẫn
được giao cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện. Tuy nhiên, kết quả cuộc
cải cách tư pháp năm 1950 đã ảnh hưởng tới việc quy định thẩm quyền của cơ quan Công
tố trong các văn bản pháp luật của nhà nước.
Sau cuộc cải cách tư pháp năm 1950, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư
pháp được đổi mới và chấn chỉnh một bước, những kết quả cải cách đã góp phần tăng
cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này. Song tổ chức các cơ quan tư
pháp trên thực tế còn chưa phù hợp, chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp chưa
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, sự chỉ đạo của ủy ban hành chính đối với các cơ quan
tư pháp còn lỏng lẻo. Nhận thức rõ tình hình đó, Chính phủ tiếp tục ban hành các văn bản
pháp luật để kiện toàn các cơ quan tư pháp, tăng cường chỉ đạo công tác tư pháp như các Thông tư số 772/TTg ngày 15 tháng 5 năm 1956, Thông tư số 314/TTg ngày 19 tháng 7
năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, ngày 5 tháng 12 năm 1957, Bộ Tư pháp ra
Thông tư số 141/HCTP quy định về phân công nội bộ trong các Tòa án. Theo quy định
của Thông tư thì Tòa án có Chánh án và Công tố ủy viên, ở những nơi nhiều việc có thể
có Phó Chánh án, Phó Công tố ủy viên và Thẩm phán. Chánh án và Công tố ủy viên có
nhiệm vụ độc lập và đều là Thủ trưởng cơ quan. Thông tư này có giá trị rất quan trọng,
đặt nền móng cho việc thành lập Viện công tố độc lập, tách ra khỏi Tòa án.
Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, việc tổ chức bộ máy nhà nước nói
chung và bộ máy các cơ quan tư pháp nói riêng linh hoạt như trong thời kỳ đầu về cơ bản
là phù hợp với điều kiện của nước ta. Tuy nhiên, sau năm 1954, khi hòa bình được lập lại

quyền công tố nhà nước vào một cơ quan duy nhất đó là Viện công tố trung ương và hệ
thống Viện công tố. Sự ra đời của hệ thống Viện công tố độc lập, trực thuộc Hội đồng
Chính phủ trong thời kỳ này đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử cải cách nền tư
pháp của nước nhà. Đây là cơ sở quan trọng, đặt nền móng cho sự ra đời hệ thống Viện
kiểm sát nhân dân sau này.
Mặc dù đã tồn tại với tư cách là một hệ thống cơ quan độc lập, tổ chức và hoạt
động của các Viện công tố địa phương do Viện công tố trung ương quản lý và chỉ đạo
nhưng trên thực tế, các Viện công tố địa phương vẫn phải chịu sự lãnh đạo và có trách
nhiệm báo cáo tình hình công tác với ủy ban hành chính cùng cấp. Cơ chế lãnh đạo "song
trùng trực thuộc"này là cần thiết trong hoàn cảnh kháng chiến trước đây, nhưng trong
tình hình mới đã tỏ ra không còn phù hợp nữa. Thực tiễn lúc đó cho thấy ủy ban hành
chính thường có ảnh hưởng rất lớn và nhiều khi có ý kiến quyết định đối với việc truy tố,
xét xử của các cơ quan tư pháp cùng cấp. Kinh nghiệm từ các vụ án xét xử oan, sai trong
thời gian này cho thấy nguyên nhân phổ biến bắt nguồn từ ý kiến lệch lạc một chiều giữa
ủy ban hành chính đối với các cơ quan Công an, Công tố và Tòa án. Trong cơ chế đó, rất
khó cho Viện công tố duy trì sự độc lập khách quan, chế ước và phát hiện sai lầm trong
công tác điều tra, xét xử để điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, tổ chức cơ quan Công tố được
thành lập năm 1958 cũng mới chỉ là tổ chức của thời kỳ quá độ. Tổ chức đó mới chỉ làm
được một phần nhiệm vụ của cơ quan kiểm sát là thực hành quyền công tố, còn phần
quan trọng là nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật thì vẫn chưa thực hiện được.
Theo quan điểm của V.I. Lênin trình bày trong tác phẩm "Nguyên tắc song trùng
lãnh đạo và vấn đề pháp trị" thì tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có được pháp chế thống nhất. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với việc xây dựng chế độ
pháp trị chính là sự can thiệp của địa phương xuất phát từ động cơ tư lợi hoặc cục bộ địa
phương chủ nghĩa. Vì vậy, việc áp dụng nguyên tắc "song trùng" lãnh đạo trong lĩnh vực
pháp trị, theo đó cơ quan chuyên môn ở địa phương phải đặt đồng thời dưới sự lãnh đạo
của cơ quan chủ quản và ủy ban hành chính, là một sự sai lầm về mặt nguyên tắc. Do đó,
theo Lênin, để đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa cục bộ địa phương thì phải thành lập

1.1.2. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư
pháp
Tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp. Trên thế giới,
mỗi quốc gia có cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực riêng cho nhà nước của mình.
Đối với hầu hết các nhà nước tư sản đều tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo
học thuyết tam quyền phân lập. Theo đó, quyền lực nhà nước được phân chia thành ba
nhánh độc lập, giao cho ba hệ thống cơ quan khác nhau thực hiện, trong khi thực hiện
quyền lực có sự đối trọng và chế ước lẫn nhau. ở những nước này không có cơ quan Viện
kiểm sát nhân dân, mà chỉ có cơ quan Viện công tố và cơ quan này cũng không phải là
một hệ thống độc lập mà nó có thể nằm trong Tòa án hoặc chịu sự quản lý của Bộ Tư
pháp hay của Chính phủ. Chức năng cơ bản của Viện công tố của các nước này là đưa kẻ
phạm tội ra trước Tòa án và thực hiện sự buộc tội đối với hành vi phạm tội của người đó.
Đối với các nước tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo học thuyết tập
quyền (Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm này) thì tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại
diện của mình là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Trong bộ máy nhà nước của
các quốc gia này tồn tại một hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập,
trực thuộc Quốc hội. Viện kiểm sát nhân dân được giao chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Xem xét vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trên phương diện trong mối quan hệ
với các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam theo qui định của pháp luật hiện hành có thể thấy vị trí của Viện kiểm sát nhân dân
với các cơ quan nhà nước khác như sau: Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội: Quốc hội là cơ quan
quyền lực cao nhất. Quốc hội thành lập ra Viện kiểm sát nhân dân và giao cho Viện kiểm
sát nhân dân chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc
hội thực hiện việc giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân
dân cùng cấp về các công việc có liên quan.
Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, Viện kiểm
sát nhân dân cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước. Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân
dân là cơ quan bảo vệ pháp chế, Viện kiểm sát nhân dân còn được tổ chức và hoạt động
theo một nguyên tắc đặc thù, đó là nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành.
Nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất đã chi phối nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự
lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Do đó, hệ thống cơ quan Viện
kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất.
Nguyên tắc tập trung thống nhất đảm bảo cho các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương được tổ chức và hoạt động một cách tập trung, thống nhất và độc lập theo ngành
dọc, không lệ thuộc hay chịu sự can thiệp nào từ phía các cơ quan Nhà nước ở địa
phương. Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng, xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ
của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, khi xác định vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước cần có
nhận thức đúng về những vấn đề sau:
Tuy Viện kiểm sát nhân dân địa phương không chịu sự chỉ đạo của chính quyền
sở tại, nhưng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương không phải là một bộ phận tách
rời mọi hoạt động của địa phương. Viện kiểm sát nhân dân địa phương còn phải chịu sự
lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương và sự giám sát của nhân dân địa phương. Hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân cũng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương. Do
đó, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải kết hợp chặt chẽ và đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất
trong ngành.

pháp năm 1992 xác định rõ nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, của
từng hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước. Đối với các cơ quan tư pháp nói chung,
Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, vấn đề chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này
không chỉ bảo đảm lĩnh vực hoạt động riêng mà bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong
hoạt động thực hiện chức năng chung của nhà nước. Trên cơ sở, nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Hiến pháp năm 1992 khẳng định nhà nước ta là
nhà nước của dân, do dân và vì dân, là tổ chức để nhân dân lao động thực hiện quyền
làm chủ của mình. Đó là bản chất, là nguồn gốc sức mạnh và hiệu lực quản lý của nhà
nước kiểu mới. Vì vậy, việc phát huy và bảo đảm quyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa
là vấn đề có tính quy luật, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân
dân trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước thực chất là bảo đảm quyền lực của
nhân dân trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Các nguyên tắc cơ bản khác như
nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc thống nhất quyền lực, nhưng có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
đã định hướng trực tiếp đến tổ chức, hoạt động đối với hoạt động của cơ quan tư pháp
nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng. Mục tiêu chung của cải cách bộ máy nhà
nước chỉ thực sự đạt được trên cơ sở hoàn thiện tổ chức hoạt động của từng cơ quan, bộ
phận trong bộ máy nhà nước cùng với hoàn thiện cơ chế phối hợp của tổ chức cơ quan
thực hiện chức năng chung của nhà nước.
Trong hệ thống cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân
dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân. Thực hiện nhiệm vụ này, Viện kiểm sát nhân dân là một trong
những cơ quan thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước ta, là bộ phận không thể thiếu
trong bộ máy nhà nước.
Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các cơ quan Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát


là vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (chức năng kiểm sát chung), Viện
kiểm sát nhân dân các cấp có vai trò, trách nhiệm trong hoạt động thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt thời kỳ đổi mới cho đến khi ban hành Hiến
pháp 1992 (sửa đổi). Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả đóng góp to lớn của Viện kiểm
sát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt
động của tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế. Công tác kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong suốt thời kỳ này đã tuân thủ định hướng được chỉ đạo thống nhất toàn
ngành trong nhiệm vụ công tác năm tập trung hoạt động vào một lĩnh vực cụ thể có ảnh
hưởng tới nền kinh tế. Mục đích của các cuộc kiểm sát không chỉ xác định vi phạm, thu
hồi tài sản bị chiếm đoạt, khắc phục hậu quả về kinh tế - xã hội, mà vấn đề mang ý nghĩa
lớn đó là phát hiện ra những yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội của các
bộ, ngành, địa phương. Từ đó đưa ra những kiến nghị với Chính phủ nhằm nâng cao hiệu
quả về hoạt động quản lý nhà nước và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những tồn
tại, bất cập về cơ chế, chính sách, pháp luật. Có thể đánh giá một cách công bằng trong
thời kỳ này thành tựu của ngành kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật đối với hoạt động
của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Điều này được minh chứng
bởi hàng loạt các chương trình công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực
hành chính, kinh tế, xã hội trong suốt giai đoạn này như chương trình kiểm sát trong lĩnh
vực bưu chính viễn thông, chương trình mía đường, chương trình kiểm sát công tác quản
lý nhà nước về đất đai, chương trình dự án giao thông đường bộ, chương trình giáo dục,
chương trình xuất khẩu lương thực…
Năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được tiến hành trên
cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước. Những thành tựu quan trọng
trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà
nước ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX
khẳng định tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp một cách

thống pháp luật kinh tế là quá trình không ngừng sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế. Trong điều kiện vận hành nền kinh tế thị trường vẫn đang tiếp tục
có sự tìm tòi, thử nghiệm và không ngừng đổi mới để có sự phát triển phù hợp, vững
chắc; bên cạnh những ưu điểm của việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật qua hoạt động
kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân thì mặt khác dường như đã tạo ra lực cản vô hình đối với sự phát triển của nền kinh tế. Sự phản ứng ở những mức độ khác nhau của
các nhà quản lý, các nhà kinh doanh đối với hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát
chung của Viện kiểm sát đã đặt vấn đề về thực tiễn của việc có cần thiết tồn tại chức năng
này của Viện kiểm sát hay không. Xét một cách biện chứng, khi pháp luật phù hợp với
kinh tế sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển. Chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm pháp luật được tuân thủ, nhưng trong
điều kiện hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện thì chính nó trở thành nguyên nhân làm hạn
chế tác dụng, ý nghĩa của việc thực hiện chức năng này. Sự cần thiết duy trì hay xóa bỏ
chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát cần được xem xét từ nhiều phương diện
khác nhau cả về lý luận và thực tiễn.
Nhìn vấn đề ở phương diện hẹp hơn để đánh giá thực trạng của ngành kiểm sát
về lực lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát (về năng lực, trình độ, về số lượng…), quy mô tổ
chức bộ máy ngành kiểm sát, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật còn nhiều hạn chế, bất
cập. Trong khi, Viện kiểm sát đang phải thực hiện nhiều trọng trách trên nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội thì với điều kiện hiện có, việc thực hiện tốt tất cả những chức năng,
nhiệm vụ được giao thực sự là khó khăn đối với Viện kiểm sát.
Mặt khác, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng,
sôi động của kinh tế mang lại sự thay đổi, nâng cao điều kiện sống cho nhân dân, nhưng
cũng đặt ra những vấn đề xã hội cần giải quyết. Đó là sự phân hóa giàu nghèo diễn ra
ngày càng sâu sắc, đó là sự gia tăng tệ nạn xã hội và tình hình tội phạm ngày càng phức
tạp, nghiêm trọng, đặc biệt các tội phạm về kinh tế, tham nhũng, ma túy, mại dâm… Tình
hình tội phạm trong những năm qua cho thấy số lượng, tính chất, mức độ, hậu quả của tội
phạm không chỉ phản ánh sự xuống cấp, băng hoại đạo đức xã hội mà điều quan tâm là

tư pháp. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã thể chế hóa quy định của
Hiến pháp, ghi nhận cụ thể, rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt
động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời phân định rõ
phạm vi hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Sự phân
định này không chỉ tác động tích cực trong thực tiễn công tác của Viện kiểm sát nhân dân
mà còn là cơ sở lý giải vướng mắc trong nhận thức các khiếu nại liên quan đến quyền
công tố, đến kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Bên cạnh việc ghi nhận và đề cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, sự tăng cường vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp xuất phát từ việc đánh giá
thực trạng trên các phương diện kinh tế xã hội, hoạt động tư pháp trong những năm qua,
có thể thấy đây là các điều kiện chi phối trực tiếp đến hoạt động tư pháp và yêu cầu, đòi
hỏi Viện kiểm sát nhân dân phải tiến hành công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trên các
phương diện khác nhau. Cụ thể là:
- Trình độ hiểu biết, ý thức pháp luật của bộ phận lớn nhân dân còn hạn chế.
- Hệ thống thiết chế bổ trợ tư pháp như luật sư, hỗ trợ pháp lý, công chứng, giám
định… còn thiếu, chưa hoàn thiện, đồng bộ.
- Vấn đề quản lý hành chính nhà nước còn nhiều tồn tại, thiếu sót, tổ chức hoạt
động của hệ thống đăng ký tài sản chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, thủ tục rườm rà, bất cập.
Các cơ quan quản lý nhà nước chưa xác định được trách nhiệm trước những vấn đề có
liên quan đến hoạt động tố tụng tư pháp.
- Hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế, lao động,
thi hành án chưa hoàn thiện.
- Đội ngũ cán bộ tư pháp còn hạn chế về trình độ kiến thức pháp lý, về chuyên
môn nghiệp vụ, đặc biệt là sự hạn chế về kỹ năng nhận thức áp dụng pháp luật.
Với các đặc điểm nêu trên, có thể thấy rằng, sự tăng cường vai trò của Viện kiểm
sát trong kiểm sát các hoạt động tư pháp xuất phát từ yếu tố truyền thống pháp luật, từ
nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, trước yêu cầu bảo đảm quyền dân chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status