LUẬN văn THẠC sĩ LUẬT học cơ sở lý LUẬN và THỰC TIẾN đổi mới tổ CHỨC VIỆN KIỂM sát NHÂN NHÂN dân đáp ỨNG yêu cầu cải CÁCH tư PHÁP ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ
chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là một nội dung quan trọng
được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: Viện kiểm sát các cấp
thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện
ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội... Nâng cao
chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với
luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
Thực hiện các nghị quyết của Đảng, các cơ quan tư pháp, trong đó có
Viện kiểm sát nhân dân đã nhanh chóng tổng kết lý luận và thực tiễn hoạt
động, triển khai các biện pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của mình. Bên
cạnh những kết quả đã đạt được, cải cách tư pháp còn chậm và kết quả chưa
đầy đủ so với yêu cầu và thực tiễn đặt ra. Mặt khác, trong các nghị quyết trên
của Đảng tuy đã đề ra khá nhiều giải pháp cải cách tư pháp nhưng vẫn chưa
đề cập đầy đủ, chưa toàn diện những vấn đề cơ bản về cải cách tư pháp, so
với yêu cầu và trước tình hình mới, nhiều vấn đề đang đặt ra trong cải cách tư
pháp, trong đó có nội dung đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.




3

định Viện kiểm sát nhân dân phải tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động để
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân phải chủ
động chuẩn bị tất cả các điều kiện để thực hiện thành công việc đổi mới tổ
chức và hoạt động phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp. Đến đây, hàng loạt
vấn đề về lý luận và thực tiễn được đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân đòi hỏi cần phải được quan tâm nghiên cứu.
Với lý do nêu trên, học viên đã chọn đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn
đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
ở Việt Nam" để viết luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà
nước và pháp luật là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa
học, các bài viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân. Có thể phân loại thành hai nhóm sau:
- Nhóm thứ nhất: Những công trình là các đề tài khoa học cấp Nhà
nước, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo nghiên
cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân
như: Đề tài khoa học cấp Nhà nước: "Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam";
Đề tài khoa học cấp bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý
luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam
hiện nay"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động
tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu
trong các công tác kiểm sát hình sự"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Những giải
pháp xây dựng đội ngũ kiểm sát viên cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp hiện nay"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Nâng cao chất lượng tranh tụng tại
phiên tòa hình sự"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Viện kiểm sát nhân dân trong

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề có liên quan đến
các tư tưởng, quan điểm, những qui định của pháp luật liên quan đến quá


6

trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam
từ năm 1945 đến nay; luận văn này chỉ nghiên cứu về tổ chức của Viện
kiểm sát nhân dân, không nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm
sát quân sự.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, về đổi mới
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp; những thành
tựu của khoa học pháp lý trên thế giới.
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp được sử dụng là các phương pháp
nghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội, phương pháp kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể; đồng
thời cũng sử dụng kết hợp các phương pháp luật học so sánh, phương pháp lý
thuyết hệ thống, phương pháp thống kê....
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới là:
Phân tích và làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện
nay; làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát và Viện công tố của một số nước trên thế giới.
Đề xuất phương hướng cơ bản về đổi mới và hoàn thiện tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đặc biệt là luận

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc
lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập là một
văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng, là cơ sở để hàng loạt các thiết chế của
một Nhà nước mới được tạo lập. Ngay sau khi giành được độc lập, việc xây
dựng và củng cố chính quyền là một trong những công việc quan trọng, trong
đó có việc xây dựng các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ thành quả của cách
mạng. Hệ thống cơ quan tư pháp ngay trong những năm đầu thành lập được
định hướng xây dựng thể hiện là một nền tư pháp cách mạng. Trong bối cảnh
của những ngày đầu thành lập nước, hệ thống cơ quan tư pháp được tổ chức
rất đa dạng, linh hoạt phục vụ nhiệm vụ cách mạng. Chức năng công tố nhà
nước được giao cho nhiều cơ quan đảm nhiệm như cơ quan Tòa án, Chính
phủ, Ủy ban kháng chiến, Ban thanh tra của Chính phủ.
Tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp lần đầu tiên được quy định
tại Sắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 9 năm 1945, đây cũng là cơ sở pháp lý đầu
tiên đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án trong bộ máy nhà nước ta, là vũ
khí tư pháp sắc bén bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân. Theo qui định của Sắc
lệnh này, Tòa án quân sự ra đời có chức năng: Xét xử tất cả những người nào
phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân


9

chủ cộng hòa, trừ những người phạm tội là những binh sĩ thì thuộc thẩm
quyền xét xử của nhà binh theo quân luật. Về chức năng công tố được quy
định rõ tại Điều 5 Sắc lệnh 33c như sau: Đứng buộc là một ủy viên quân sự
hay một ủy viên của Ban trinh sát. Như vậy, lần đầu tiên, chức năng công tố
nhà nước được quy định trong một văn bản pháp lý. Lúc này, Tòa án quân sự
được thành lập ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam là Tòa án đầu tiên có sự hiện
diện của tổ chức Công tố và hoạt động thực hành quyền công tố. Nội dung
của quyền thực hành quyền công tố theo quy định của Sắc lệnh này là đưa

viên trực tiếp đặt dưới quyền giám sát của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hay Bộ
trưởng Bộ Nội vụ. Ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì do Chưởng lý Tòa thượng
thẩm và Chủ tịch ủy ban hành chính giám sát.
Trong bối cảnh vừa giành được độc lập, việc thiết lập các cơ quan
trong bộ máy nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách mạng
dân chủ nhân dân, đặc biệt là các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo
đảm trật tự xã hội. Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án
binh để xét xử những tội phạm phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự
quân đội, vi phạm kỷ luật của nhà binh, cần thiết phải thiết lập hệ thống Tòa
án thường để xét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ nhà nước và
bảo vệ nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ
tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án
và các ngạch Thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buộc tội). Theo quy định
của Sắc lệnh này thì Tòa án thường được tổ chức ở ba cấp là Tòa án sơ cấp,
Tòa án đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm. Tổ chức và hoạt động của cơ quan
Công tố chỉ được thành lập ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm, không tổ
chức thành phần Công tố trong Tòa án sơ cấp vì thẩm quyền của cấp Tòa án
này rất hạn chế. Chủ thể thực hiện quyền công tố trong hệ thống Tòa án
thường được quy định là các Thẩm phán buộc tội thuộc Tòa án.
Mặc dù, tổ chức của cơ quan Công tố được đặt trong hệ thống Tòa án,
cả Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử và Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ
công tố đều gọi chung là Thẩm phán, đều chịu sự quản lý về mặt nhân sự của


11

Bộ Tư pháp, nhưng trong hoạt động của mình, Thẩm phán buộc tội (công tố
viên) độc lập với Thẩm phán xét xử. Ở Tòa đệ nhị cấp, Thẩm phán buộc tội
do ông Chưởng lý đứng đầu. Ở Tòa thượng thẩm, tất cả các Thẩm phán buộc
tội họp thành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm phán xét xử và duy nhất

này thấp hơn quyền công tố của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp
và Chưởng lý.
Như vậy, trong thời kỳ này, tổ chức của cơ quan Công tố chủ yếu gắn
với tổ chức của cơ quan Tòa án, nằm trong tổ chức của cơ quan Tòa án, song
vị trí và hoạt động của cơ quan Công tố độc lập so với tổ chức và hoạt động
của Tòa án.
Vào những năm 1950, kết quả của cuộc cải cải tư pháp lúc bấy giờ có
ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động cơ quan Công tố. Về vị trí của cơ quan
Công tố và những chủ thể được giao thực hiện quyền công tố nhà nước so với
các quy định được ban hành trước cuộc cải cách tư pháp năm 1950 về cơ bản
không thay đổi, quyền công tố nhà nước vẫn được giao cho nhiều cơ quan
trong bộ máy nhà nước thực hiện. Tuy nhiên, kết quả cuộc cải cách tư pháp
năm 1950 đã ảnh hưởng tới việc quy định thẩm quyền của cơ quan Công tố
trong các văn bản pháp luật của nhà nước.
Sau cuộc cải cách tư pháp năm 1950, tổ chức và hoạt động của các cơ
quan tư pháp được đổi mới và chấn chỉnh một bước, những kết quả cải cách
đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này.
Song tổ chức các cơ quan tư pháp trên thực tế còn chưa phù hợp, chất lượng
hoạt động của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, sự
chỉ đạo của ủy ban hành chính đối với các cơ quan tư pháp còn lỏng lẻo. Nhận
thức rõ tình hình đó, Chính phủ tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật để
kiện toàn các cơ quan tư pháp, tăng cường chỉ đạo công tác tư pháp như các
Thông tư số 772/TTg ngày 15 tháng 5 năm 1956, Thông tư số 314/TTg ngày
19 tháng 7 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, ngày 5 tháng 12
năm 1957, Bộ Tư pháp ra Thông tư số 141/HCTP quy định về phân công nội
bộ trong các Tòa án. Theo quy định của Thông tư thì Tòa án có Chánh án và


13


14

tối cao và hệ thống Tòa án; thành lập Viện công tố trung ương và hệ thống
Viện công tố, cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ Tư pháp. Theo đó, Viện công
tố trung ương có quyền hạn và trách nhiệm ngang một bộ và trực thuộc Hội
đồng Chính phủ. Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử phát triển của nền tư
pháp cách mạng Việt Nam, là cơ sở cho việc tiến hành cải cách tư pháp một
cách sâu rộng cho những năm tiếp theo.
Ngày 1 tháng 7 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định
số 256-TTg quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tố. Đây là căn cứ
pháp lý quan trọng cho việc thiết lập hệ thống Viện công tố độc lập. Chấm
dứt sự phân công cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước cùng thực hiện
quyền công tố nhà nước, tập trung việc thực hiện quyền công tố nhà nước vào
một cơ quan duy nhất đó là Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công
tố. Sự ra đời của hệ thống Viện công tố độc lập, trực thuộc Hội đồng Chính
phủ trong thời kỳ này đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử cải cách nền
tư pháp của nước nhà. Đây là cơ sở quan trọng, đặt nền móng cho sự ra đời hệ
thống Viện kiểm sát nhân dân sau này.
Mặc dù đã tồn tại với tư cách là một hệ thống cơ quan độc lập, tổ chức
và hoạt động của các Viện công tố địa phương do Viện công tố trung ương
quản lý và chỉ đạo nhưng trên thực tế, các Viện công tố địa phương vẫn phải
chịu sự lãnh đạo và có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác với Ủy ban
hành chính cùng cấp. Cơ chế lãnh đạo "song trùng trực thuộc"này là cần thiết
trong hoàn cảnh kháng chiến trước đây, nhưng trong tình hình mới đã tỏ ra
không còn phù hợp nữa. Thực tiễn lúc đó cho thấy Ủy ban hành chính thường
có ảnh hưởng rất lớn và nhiều khi có ý kiến quyết định đối với việc truy tố,
xét xử của các cơ quan tư pháp cùng cấp. Kinh nghiệm từ các vụ án xét xử
oan, sai trong thời gian này cho thấy nguyên nhân phổ biến bắt nguồn từ ý
kiến lệch lạc một chiều giữa Ủy ban hành chính đối với các cơ quan Công an,
Công tố và Tòa án. Trong cơ chế đó, rất khó cho Viện công tố duy trì sự độc

một quyền hành chính nào cả.


16

Đáp ứng những đòi hỏi khách quan của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa và dựa trên cơ sở lý luận của Lênin và vận dụng kinh nghiệm quốc tế,
hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân đã được chính thức ra đời. Ngày 31
tháng 12 năm 1959, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua
Hiến pháp năm 1959, với 10 chương, 112 điều, trong đó Chương VIII, từ
Điều 105 đến Điều 109 qui định các nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập hệ
thống Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam. Theo Hiến pháp năm 1959, Viện
kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ
quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân
viên cơ quan nhà nước và công dân (Điều 105). Viện kiểm sát nhân dân các
cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo
thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 107). Viện kiểm sát
nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong
thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 108).
Trên cơ sở các qui định của Hiến pháp năm 1959, ngày 26 tháng 7
năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành.
Luật có 6 chương, 25 điều, đã cụ thể hóa các qui định của Hiến pháp về chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó,
hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được thành lập và triển khai tổ chức
hoạt động trên thực tế.
1.1.2. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình
cải cách tư pháp
Tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp.
Trên thế giới, mỗi quốc gia có cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực riêng

Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời
gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy


18

ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu
cầu của đại biểu Quốc hội.
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Chính phủ: Chính phủ
là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, Chính phủ và Viện kiểm sát
nhân dân đều là những cơ quan do Quốc hội thành lập, nhưng đây là hai hệ
thống cơ quan độc lập về tổ chức bộ máy, biên chế và chức năng, nhiệm vụ.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Chính phủ và
Viện kiểm sát nhân dân phải có cơ chế phối hợp tốt để thực hiện các mục tiêu
chung của đất nước.
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân: Viện
kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân là các cơ quan tư pháp do Quốc hội
thành lập và được Quốc hội giao cho các chức năng khác nhau. Viện kiểm sát
nhân dân độc lập với Tòa án nhân dân về tổ chức bộ máy và biên chế. Viện
kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật quá trình xét xử, thi hành
án hình sự của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong
việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động, các vụ án hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật.
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân địa phương với các cơ quan
chính quyền địa phương và Hội đồng nhân dân cùng cấp: Viện kiểm sát nhân
dân là hệ thống cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc
hội, không thừa hành quyền lực từ chính quyền địa phương. Viện kiểm sát

cơ quan Nhà nước ở địa phương. Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng,
xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân
dân trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khi xác định vị trí
của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước cần có nhận thức đúng về
những vấn đề sau:


20

Tuy Viện kiểm sát nhân dân địa phương không chịu sự chỉ đạo của
chính quyền sở tại, nhưng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương không
phải là một bộ phận tách rời mọi hoạt động của địa phương. Viện kiểm sát
nhân dân địa phương còn phải chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương
và sự giám sát của nhân dân địa phương. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân cũng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương. Do đó, tổ chức và
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải kết hợp chặt chẽ và
đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống
nhất trong ngành.
Đồng thời, cần làm rõ và thống nhất về nhận thức đối với vị trí, vai trò
của mỗi cấp kiểm sát trong mối quan hệ thống nhất trong cùng một hệ thống
cơ quan Viện kiểm sát nhân dân để đảm bảo phát huy hiệu quả công tác. Đối
với Viện kiểm sát nhân dân tối cao với vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo
toàn ngành, ngoài việc thực hiện các hoạt động kiểm sát cùng cấp và giải
quyết các vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao phải tập trung vào các công việc lớn, quan trọng như xác định phương
hướng hoạt động, mục tiêu công tác trong từng giai đoạn và chỉ đạo, hướng
dẫn, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch, chỉ thị công tác trong toàn ngành;
sơ kết, tổng kết, hướng dẫn, xây dựng lý luận nghiệp vụ, xây dựng các quy
chế, chế độ công tác; đề xuất và tham gia xây dựng pháp luật; giải quyết
những vấn đề lớn trong quan hệ phối hợp với các ngành hữu quan.

nước của dân, do dân và vì dân, là tổ chức để nhân dân lao động thực hiện
quyền làm chủ của mình. Đó là bản chất, là nguồn gốc sức mạnh và hiệu lực
quản lý của nhà nước kiểu mới. Vì vậy, việc phát huy và bảo đảm quyền lực
nhà nước xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính quy luật, ảnh hưởng trực tiếp tới
sự tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nguyên tắc
tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức hoạt động
của bộ máy nhà nước thực chất là bảo đảm quyền lực của nhân dân trong
quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Các nguyên tắc cơ bản khác như nguyên


22

tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc thống nhất quyền lực, nhưng có sự phân
công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp đã định hướng trực tiếp đến tổ chức, hoạt động đối với
hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
Mục tiêu chung của cải cách bộ máy nhà nước chỉ thực sự đạt được trên cơ
sở hoàn thiện tổ chức hoạt động của từng cơ quan, bộ phận trong bộ máy
nhà nước cùng với hoàn thiện cơ chế phối hợp của tổ chức cơ quan thực hiện
chức năng chung của nhà nước.
Trong hệ thống cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm
vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và
quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ
tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Thực hiện
nhiệm vụ này, Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thể hiện
trực tiếp bản chất của nhà nước ta, là bộ phận không thể thiếu trong bộ máy
nhà nước.
Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các cơ

chọn, những thay đổi, từ cơ chế chính sách đến vấn đề pháp lý để có thể định
hình từng bước phát triển của nền kinh tế thị trường. Đó là quá trình trăn trở,
tháo gỡ dần những vướng mắc trên mọi phương diện để có thể xây dựng được
một thể chế hoàn chỉnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Những vấn đề đó đã ảnh hưởng không nhỏ khi xác định vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung và Viện
kiểm sát nhân dân nói riêng.
Trong giai đoạn trước đây, vai trò giám sát bảo đảm sự tuân thủ pháp
luật, tuân thủ cơ chế, chính sách, loại trừ yếu tố tự phát, sai lệch, vi phạm
trong quá trình phát triển là vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Với


24

chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh
tế, xã hội (chức năng kiểm sát chung), Viện kiểm sát nhân dân các cấp có vai
trò, trách nhiệm trong hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong suốt thời kỳ đổi mới cho đến khi ban hành Hiến pháp 1992
(sửa đổi). Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả đóng góp to lớn của Viện kiểm
sát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất và sự tuân thủ pháp luật
trong hoạt động của tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế. Công tác
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt thời kỳ này đã tuân thủ định
hướng được chỉ đạo thống nhất toàn ngành trong nhiệm vụ công tác năm tập
trung hoạt động vào một lĩnh vực cụ thể có ảnh hưởng tới nền kinh tế. Mục
đích của các cuộc kiểm sát không chỉ xác định vi phạm, thu hồi tài sản bị
chiếm đoạt, khắc phục hậu quả về kinh tế - xã hội, mà vấn đề mang ý nghĩa
lớn đó là phát hiện ra những yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã
hội của các bộ, ngành, địa phương. Từ đó đưa ra những kiến nghị với Chính
phủ nhằm nâng cao hiệu quả về hoạt động quản lý nhà nước và đưa ra những
giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập về cơ chế, chính sách, pháp

quan đến chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đã
được đề cập, thảo luận trên nhiều diễn đàn về lý luận cũng như thực tiễn.
Không chỉ đề cập đến sự chồng chéo chức năng thanh tra của cơ quan Thanh
tra với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát mà vấn
đề có tính trực diện hơn đối với sự tồn tại của chức năng này trong điều kiện
đổi mới. Trong mối tương quan chung giữa các cơ quan trong bộ máy nhà
nước với những chức năng mà Viện kiểm sát đang thực hiện dường như Viện
kiểm sát đang nắm giữ quá nhiều quyền lực chi phối trên nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội từ tư pháp đến thể chế quản lý kinh tế, quản lý hành chính
nhà nước. Hệ quả của sự đánh giá này đã dẫn tới việc có người đặt ra câu hỏi
phải chăng Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan siêu quyền lực và như thế
là trái với tổ chức và hoạt động của một nhà nước được xây dựng trên
nguyên tắc dân chủ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status