1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THỊ HẰNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO KHU VỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2013
3
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN THEO KHU VỰC TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH
TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
8
1.1. Khái quát về cải cách tư pháp 8
1.1.1.
Bối cảnh cải cách tư pháp 8
1.1.2.
Các quan điểm cải cách tư pháp 12
1.1.3.
Những nội dung của cải cách tư pháp 15
57
2.1.3.
Phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân 58
4
cấp huyện và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
2.1.4.
Tiếp thu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên
thế giới
59
2.2. Khó khăn, thách thức của việc xây dựng mô hình Viện kiểm
sát nhân dân khu vực
63
2.2.1.
Những bất cập trong việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự
giám sát của Hội đồng nhân dân
63
2.2.2.
Sự thiếu đồng bộ trong việc đổi mới hệ thống các cơ quan tư pháp
66
2.2.3.
Sự thiếu thống nhất trong việc xây dựng số lượng và địa hạt tư
pháp của Viện kiểm sát khu vực ở một số địa phương
68
Đảm bảo sự đồng bộ của các cơ quan tư pháp 81
3.2. Các giải pháp xây dựng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 83
3.2.1.
Về cơ sở pháp lý
83
3.2.2.
Về tổ chức bộ máy
86
3.2.3.
Về đội ngũ cán bộ
86
3.2.4.
Về cơ sở vật chất
88
KẾT LUẬN
91
5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
94
Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức
Tòa án. Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố,
tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [16].
Trên cơ sở chỉ đạo của Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020, ngày 28/7/2010 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng đã ban hành Kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt
động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra. Theo đó, Ban Chấp hành
Trung ương khẳng định:
Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay. Tổ chức hệ thống
Viện kiểm sát nhân dân thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức
của Tòa án nhân dân, gồm Viện kiểm sát nhân dân khu vực (số
lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp
của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực); Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao [18].
Sự cần thiết phải thành lập Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp đã được làm rõ
thông qua Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong đó, việc thành lập
Viện kiểm sát nhân dân khu vực là nội dung quan trọng nhất trong phương
hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát vì đây là cấp trực tiếp giải
quyết số lượng chủ yếu các vụ việc theo thủ tục tư pháp và đây cũng là vấn đề
phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải cách tư pháp trong thời gian tới.
Thành lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực sự là một chủ trương
lớn của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong
giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải được quan tâm, tập trung chỉ đạo, lãnh đạo
kịp thời. Vấn đề cấp thiết đặt ra là tổ chức Viện kiểm sát nhân dân khu vực
phải đáp ứng mục tiêu chung của việc đổi mới các cơ quan tư pháp, đó là đảm
8
bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp
cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động
của Viện Công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp" năm 2006, "Cải
cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao
hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân" năm 2006, "Tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải
đảo theo yêu cầu cải cách tư pháp" năm 2009; Luận văn Thạc sĩ luật học:
"Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp", của Phạm Thị
Đào, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011; sách chuyên khảo:
"Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam", của GS.TSKH. Đào Trí Úc, Nxb Tư pháp, 2006; "Một số vấn đề
về Hiến pháp và bộ máy nhà nước", của GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, Nxb Giao
thông vận tải, 2002; "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện
nay", của tập thể các tác giả do GS.TS. Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học
xã hội, 2002 Bên cạnh đó còn có các bài viết liên quan đến nội dung đổi
mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được đăng trên các tạp
chí như: "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước
pháp quyền", của TSKH Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, 2002;
"Yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đối với đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan tư pháp", của Nguyễn Mạnh Cường, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 10, 2002; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp", của Phạm Hồng Hải, Tạp chí Kiểm sát, số 14, 2007; "Một vài ý kiến về
việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo mô hình khu vực" của Hồ
Đức Anh, website
Các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề
lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư
10
pháp nước ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống. Tuy nhiên, vì
các lý do khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chưa giải quyết một
đưa ra một số phương hướng, giải pháp để xây dựng mô hình này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài mang tính chất lý luận và thực tiễn cao, có phạm vi
nghiên cứu tương đối rộng cả về không gian, thời gian cũng như đối tượng
nghiên cứu. Mô hình tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp theo yêu cầu cải
cách tư pháp bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
Viện kiểm sát nhân dân khu vực. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một đề tài
luận văn thạc sĩ, chúng tôi xác định phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu
giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân khu
vực bởi lẽ đây là cấp trực tiếp giải quyết số lượng chủ yếu các vụ việc theo thủ
tục tư pháp và cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải
cách tư pháp trong thời gian tới. Trong đó, luận văn sẽ tìm hiểu những vấn đề
chủ yếu của cải cách tư pháp và yêu cầu đặt ra đối với ngành kiểm sát; tổ chức
và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành; cơ sở thiết
lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực; những thuận lợi và khó khăn, thách thức
trong việc xây dựng mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực, trên cơ sở đó đề
xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng có hiệu quả mô hình này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng về từng
bước hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu
cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân. Luận văn cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu
12
Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên
qua các thời kỳ và các văn bản pháp luật khác quy định về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh và khảo sát thực tế
1.1.1. Bối cảnh cải cách tư pháp
Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là
quá trình đổi mới toàn diện hệ thống tư pháp với trung tâm là hoạt
động xét xử nhằm mục tiêu làm cho tổ chức và hoạt động của hệ
thống tư pháp ngày càng thể hiện đầy đủ, đúng đắn bản chất dân
chủ, của dân, do dân, vì dân của quyền tư pháp, phù hợp với các
nguyên tắc, yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, đáp ứng
ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn yêu cầu bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và nhà nước Việt Nam
trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế [24, tr. 182].
Trong hơn 60 năm qua, hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta đã
hình thành và từng bước kiện toàn, phát triển trên nền tảng của những nguyên
tắc dân chủ, tiến bộ, hiện đại, ngày càng phù hợp và đáp ứng tốt hơn các yêu
cầu của thực tiễn cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, góp phần quan
trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam. Bước vào thiên niên kỷ mới, công cuộc đổi mới toàn diện và
sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt đến bước phát
triển mới, tạo nên những tiền đề và cũng là thách thức lớn về kinh tế, chính
trị, xã hội đòi hỏi phải có những điều chỉnh lớn mang tính cải cách đối với
14
thiết kế tổng thể của hệ thống tư pháp, từ chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức,
con người và hoạt động của từng cơ quan tư pháp cũng như các mối quan hệ
giữa chúng.
Trên phương diện quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy
thoái toàn cầu vẫn còn tiếp tục tác động đến thế giới nói chung và nền kinh tế
nước ta nói riêng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng. Quá trình tái cấu trúc
các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh
kiến thức thương mại quốc tế hiện đại và kỹ năng nghiệp vụ liên quan tới hội
nhập vẫn đang trong tình trạng bị động, chắp vá, hình thức, kém hiệu quả [28].
Để có thể thúc đẩy quá trình hội nhập nhanh và bền vững, việc xây dựng một
nhà nước hiệu quả, có cơ cấu tổ chức phù hợp và một hệ thống pháp luật hoàn
thiện, phù hợp với thông lệ chung là yêu cầu rất lớn đang đặt ra đối với đất
nước ta.
Sau 25 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001-2010, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra sức
mạnh tổng hợp cho sự phát triển kinh tế đất nước. Sự ổn định về chính trị - xã
hội, dân trí được nâng cao, dân chủ hóa nhiều mặt đời sống xã hội, bảo đảm
nhân quyền, công bằng, tiến bộ xã hội đang đòi hỏi phải phát huy vai trò của
pháp luật và tư pháp. Mặt khác, nhiều vấn đề văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục
đặt ra nhiều thách thức lớn trong đó có vấn đề phát triển bền vững. Quốc
phòng và an ninh, nhất là chủ quyền và an ninh vùng biển đảo vẫn đang là
thách thức lớn trong bối cảnh quốc tế hiện tại. Bên cạnh đó, các thế lực thù
địch tiếp tục đẩy mạnh "diễn biến hòa bình", lợi dụng triệt để vấn đề tự do dân
chủ, tự do tôn giáo, các vấn đề về nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân, kích động bạo loạn, ly khai. Những tội phạm có vấn đề an ninh phi truyền
thống như buôn bán ma túy, cướp biển, tội phạm có tổ chức, khủng bố, nhập
cư và di cư trái phép đang ảnh hưởng đến tình hình trật tự - xã hội của đất nước.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật và tư pháp có
khả năng đối mặt với khó khăn, thách thức này càng cần phải được chú trọng.
16
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) được tổ chức thành
công có ý nghĩa trọng đại khi đất nước đang bước sang một giai đoạn phát
triển mới sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Đại hội Đảng đã thông
qua Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi) và Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. Đây là những văn kiện
quan trọng định hướng cho sự phát triển đất nước trong những năm tới, đặt ra
yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như một khâu quan
cố, tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường có thể xâm hại đến trật tự công
cộng [24, tr. 187]. Sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống tư pháp không tách
rời sự phát triển của kinh tế - xã hội và tác động ngược trở lại đối với kinh tế -
xã hội, tạo nên hệ thống công cụ pháp lý an toàn cho sự phát triển bền vững
của nền kinh tế, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Tổ chức và
hoạt động của các cơ quan tư pháp, các trình tự, thủ tục và phương thức, lề lối
làm việc của đội ngũ cán bộ, chức danh tư pháp phải được cải cách theo
hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa phù hợp với tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo ngăn ngừa có hiệu quả
và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội
xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức,
giải quyết nhanh chóng, hợp lý, hiệu quả các tranh chấp kinh tế, dân sự trong
nền kinh tế thị trường đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc
tế, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội, bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội và Nhà nước.
Thứ hai, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo giữ vững và phát huy bản chất dân chủ,
vì con người và bảo vệ quyền con người của các cơ quan thực hiện quyền tư
pháp. Nguyên tắc "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" thể hiện bản
chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của Nhà
nước pháp quyền là bảo đảm và phát triển quyền con người, quyền công dân.
18
Phương thức bảo đảm quyền con người của Nhà nước pháp quyền là công
nhận quyền con người, xác lập quyền công dân bằng hoạt động lập pháp, tổ
chức thực thi quyền con người, quyền công dân bằng hoạt động hành pháp và
bảo vệ các quyền đó bằng hoạt động tư pháp. Nguyên tắc xây dựng các cơ
quan tư pháp của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền đòi hỏi huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi và tích cực của nhân
dân vào công tác tư pháp, bắt đầu từ quá trình xây dựng và ban hành các văn
bản pháp luật về tổ chức và hoạt động tư pháp đến quá trình tổ chức thực thi
quyền phải đảm bảo tính tối cao của luật trong tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp, đảm bảo cải cách đồng bộ cả hệ thống tư pháp với Tòa án
và hoạt động xét xử là trung tâm. Đây là yêu cầu rất cơ bản của Nhà nước
pháp quyền đối với hoạt động tư pháp. Tòa án - cơ quan duy nhất có quyền
xét xử, quyền sử dụng và nhân danh quyền lực nhà nước để phán xét tính hợp
hiến, hợp pháp của những vi phạm pháp luật, những tranh chấp pháp lý.
Nguyên tắc Hiến định "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của
Tòa án có hiệu lực pháp luật" [35, Điều 72] khẳng định tính tối cao, quyết
định của hoạt động xét xử và vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư
pháp. Vì vậy, cải cách tư pháp phải đồng bộ ở tất cả các công đoạn của quy
trình tố tụng và với tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống tư pháp nhằm
giải quyết triệt để những bất cập hiện nay đang làm cho quy trình tố tụng bị
cắt khúc, các cơ quan tư pháp biệt lập với quyền ra những quyết định tiền xét
xử (bắt tạm giữ, tạm giam ) có nhiều nguy cơ gây oan sai, gây thiệt hại
nghiêm trọng đến quyền và lợi ích cơ bản của công dân, làm cho Tòa án
không thực sự giữ được vị trí là trung tâm của hệ thống tư pháp, là cơ quan
duy nhất có quyền ra các quyết định, phán quyết động chạm đến quyền cơ bản
của công dân trong quá trình tố tụng tư pháp.
Thứ năm, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp phải dựa trên việc
khai thác, phát huy các giá trị văn hóa pháp luật truyền thống của Việt Nam,
đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa pháp luật thế giới trong lĩnh
20
vực tư pháp nói riêng, trong tổ chức lao động quyền lực nói chung theo các
nguyên tắc pháp quyền. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, một nền kinh tế phát
triển, một nền chính trị dân chủ phải đi kèm với một nền văn hóa pháp luật ở
trình độ cao. Phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động xây dựng, thực hiện
pháp luật trở thành đòi hỏi có tính cấp bách, góp phần đảm bảo thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong giai đoạn hiện
định rõ, cụ thể quyền và nghĩa vụ về tài sản của Nhà nước, cá nhân, tổ chức;
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế định sở hữu, quyền tự do kinh doanh, hợp
đồng; xây dựng và hoàn thiện chế định bồi thường và bồi hoàn, nhất là việc
bồi thường của nhà nước cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do lỗi của nhân
viên trong các cơ quan nhà nước Hoàn thiện tố tụng tư pháp, trong đó hoàn
thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự theo hướng mở rộng quyền
hạn cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động thực thi nhiệm
vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi
và quyết định tố tụng của mình; hoàn thiện các quy định về pháp luật tố tụng
dân sự theo hướng đề cao trách nhiệm và quyền tự định đoạt, chứng minh của
các đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp và yêu cầu của họ trước
Tòa án; các quy định về tố tụng hành chính cần mở rộng thẩm quyền xét xử
của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính tạo thuận lợi cho người dân
tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân với cơ quan nhà nước
trước Tòa án.
Thứ hai, cải cách tổ chức và hoạt động của Tòa án, trong đó mở rộng
thẩm quyền xét xử chung của Tòa án; phân định lại thẩm quyền xét xử giữa
Tòa án các cấp theo hướng đảm bảo Tòa án mỗi cấp chủ yếu thực hiện một
thẩm quyền xét xử - sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hạn chế đi đến chấm dứt tình
trạng một Tòa án thực hiện cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám
22
đốc thẩm; tổ chức hệ thống Tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử, không phụ
thuộc vào địa giới hành chính; nâng cao tính độc lập nghiêm minh của hoạt
động xét xử.
Thứ ba, cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, theo hướng
Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp như hiện nay; Tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân
thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân, gồm Viện
kiểm sát nhân dân khu vực (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số
lượng và địa hạt tư pháp của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực); Viện kiểm
pháp cần được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực
pháp lý cao nhất, đó là các đạo luật. Đồng thời, nâng cao tính chuyên môn
hóa, chuyên nghiệp hóa, độc lập chịu trách nhiệm của đội ngũ chức danh bổ
trợ tư pháp (luật sư, công chứng viên, giám định viên) - yêu cầu có tính quyết
định đối với chất lượng hoạt động của các tổ chức bổ trợ tư pháp. Ngoài ra,
đổi mới nội dung và phương thức quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt
động bổ trợ tư pháp theo hướng kết hợp chặt chẽ quản lý nhà nước với tự
quản của các hiệp hội nghề nghiệp.
Thứ bảy, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh.
Theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với hệ thống
tư pháp, cần xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp trong sạch,
vững mạnh, tính chuyên nghiệp cao, có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng và
đạo đức nghề nghiệp chuẩn mực theo hướng tiêu chuẩn hóa cụ thể đối với
từng loại cán bộ về chính trị, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm
xã hội. Trên cơ sở các tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc đó, xây dựng chương
trình đào tạo chung về những kiến thức cơ bản, sau đó đào tạo chuyên sâu về
nghiệp vụ cụ thể của từng lĩnh vực. Chương trình đào tạo phải theo hướng
đào tạo nghề, tăng cường bồi dưỡng ngắn ngày bắt buộc theo định kỳ cho cán
bộ tư pháp trong quá trình làm việc. Xác định chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối
24
với đội ngũ cán bộ tư pháp, tôn vinh cán bộ tư pháp giỏi, lập nhiều thành tích
trong hoạt động tư pháp.
1.2. ĐỔI MỚI HỆ THỐNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua
ngày 31/12/1959 lần đầu tiên trong lịch sử Hiến pháp nước ta quy định chế
định về Viện kiểm sát nhân dân. Kể từ ngày đó, cơ quan Viện kiểm sát nhân
dân chính thức được thành lập trong bộ máy nhà nước.
Tuy nhiên, nói đến Viện kiểm sát nhân dân, không thể không đề cập
lệnh về các vụ việc cụ thể.
Hai là, Nhà nước ta mở rộng thẩm quyền cho công tố viên bằng cách
quy định công tố viên được quyền kháng cáo những vụ án dân sự. Về điểm
này, tờ trình Sắc lệnh số 85 ngày 25/05/1950 khẳng định đây là một sự thay
đổi căn bản so với quan niệm xưa cho rằng những việc hộ (dân sự) chỉ là việc
của tư nhân, xã hội không can thiệp, nay công tố viên thực hiện quyền công tố
có quyền thực hành can thiệp đó.
Năm 1958, cơ quan công tố lại được cải cách và đổi mới trên cơ sở
Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa I kỳ họp thứ
8 ngày 29/04/1958 và các Nghị định số 256 ngày 01/07/1959, Nghị định số
321 ngày 27/08/1959. Theo các văn bản này, bộ máy Viện công tố được hình
thành thành một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, được tổ chức từ trung
ương đến địa phương. Cơ quan cao nhất là Viện công tố trung ương trực
thuộc Thủ tướng Chính phủ; cấp thứ hai là Viện Công tố phúc thẩm được tổ
chức tại các khu vực Hà Nội, Hải Phòng, Việt Bắc, Tây Bắc Cấp tiếp theo là
Viện công tố tỉnh đến các huyện, thị. Hệ thống Viện công tố được mở rộng