LUẬN VĂN: Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư
pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi thành lập cho đến nay công tác đào tạo các chức danh tư pháp nói chung
và công tác đào tạo chức danh Thẩm phán nói riêng của Học viện Tư pháp đã có những
bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Học viên Tư pháp đã không ngừng
nâng cao trình độ của các giảng viên, hoàn thiện chương trình, đổi mới phương pháp, tăng
cường cơ sở vất chất…để đào tạo và cung cấp cho ngành tòa án những cán bộ có trình độ
chuyên môn, có năng lực trong hoạt động xét xử. Tuy vậy, trong quá trình nước ta hội
nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, với chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhiều vấn đề, nhiều yêu cầu mới đang được đặt ra
trước mắt cũng như lâu dài. Trong quá trình hoạt động của mình các Thẩm phán được đào

pháp, cũng như cách thức để đạt được các tiêu chí đó. Việc này đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm
hiểu cả về lý luận và thực tiễn. Nhất là nghiên cứu quy trình đào tạo thẩm phán của Học
viên Tư pháp, tìm ra cách thức khắc phục những khiếm khuyết của quy trình đó. Dựa vào
các tiêu chí, đề xuất những giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đào tạo đội ngũ thẩm phán
đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Trên quan điểm
quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp quyền về cải cách hệ thống cơ quan tư
pháp, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống giáo
dục. Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu đề tài: “Đào tạo thẩm phán của Học
viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ lâu công tác đào tạo thẩm phán đã được quan tâm và coi trọng nhằm đảm bảo
xây dựng được một đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có
phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp. Đào tạo thẩm phán đã được nghiên cứu trong
đào tạo các chức danh tư pháp nói chung của Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp, Tòa án nhân
dân tối cao và một số nhà khoa học khác, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:
* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Trường:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: - Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, (2004)
- Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng môn đạo đức nghề nghiệp tư pháp cho các
chức danh tư pháp, (2004).
- Đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của
Việt Nam, (2006).
- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương,
(2007).
- Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng tập hệ thống hóa các vụ án điển hình dùng làm
tài liệu cho công tác đào tạo các chức danh tư pháp, (2008).
- Hoàn thiện phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp, (2009).

chỉ ra những hạn chế bất cập cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân của những của
hạn chế đó.
- Đề xuất các giải pháp đổi mới công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp
theo yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và nhà nước về đào tạo
chức danh tư pháp trong đó có đào tạo thẩm phán, về cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác – Lê nin, trong đó các phương pháp sử dụng chủ yếu là: phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn …Tuy nhiên do tính chất của từng chương, từng
phần của luận văn mà có thể sử dụng một trong các phương pháp trên làm chủ đạo.
Trong chương 1, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp;
chương 2 và chương 3, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp kết hợp lý luận và
thực tiễn, phương pháp thống kê, so sánh…
6. Những điểm mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đào tạo thẩm phán.
- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo thẩm phán ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thẩm phán theo yêu cầu
công cuộc cải cách tư pháp, ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài tham khảo và phụ lục, luận văn được kết
cấu gồm 3 chương, 10 tiết.

MỤC LỤC
Trang

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang
Bảng 2.1: Về số lượng thẩm phán tham gia giảng dạy các lớp đào tạo
nghiệp vụ xét xử 45
Bảng 2.2: Về học hàm, học vị của giảng viên 46
Bảng 2.3: Về tỷ lệ giảng dạy 46
Bảng 2.4: Thống kê số lượng đào tạo thẩm phán từ 2004-2008 48

Biểu đồ 2.1: Đào tạo thẩm phán 1998-2008 47

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO YÊU CẦU
CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP
ĐÀO TẠO THẨM PHÁN
1.1.1. Khái niệm đào tạo và đào tạo thẩm phán
1.1.1.1. Khái niệm đào tạo
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học “Giáo dục là
hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối
tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như
yêu cầu đề ra [34, tr.739].
Từ định nghĩa giáo dục trên cho thấy về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp
thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Về hoạt động, giáo dục là quá

làm việc thực tế của người được đào tạo; giúp cho họ luôn phát triển để họ có thể đáp
ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức; giảm thời gian học tập, làm
quen với công việc mới, do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho
họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm.
1.1.1.2. Khái niệm đào tạo Thẩm phán
Ở Việt Nam thẩm phán là ngạch công chức thuộc cơ quan tòa án, đồng thời thẩm
phán cũng là một Chức danh nhà nước, trong hệ thống cơ quan tư pháp. Theo từ điển
tiếng việt Chức danh của cán bộ công chức là tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền hạn, nhiệm
vụ, của mỗi công chức. Trong khoa học pháp lý thường sử dụng thuật ngữ chức danh tư
pháp để chỉ những người có chức vụ quyền hạn trong hoạt động tố tụng. Theo đó “chức
danh tư pháp” là “tên gọi thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, chức năng đặc thù công
việc của những người thường xuyên và trực tiếp tiến hành hoạt động tư pháp” [22, tr.18].
Thẩm phán là chức danh tư pháp thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, quyền hạn nhiệm
vụ trong hệ thống tòa án nhân dân các cấp. Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm
nhân dân 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm
quyền Tòa án”. Như vậy khái niệm thẩm phán “dùng để chỉ những người làm công việc
xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ, làm việc thường
xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước” [22, tr.22].
Xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật. Các Mác đã khẳng định:
Đối với thẩm phán thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp. Thẩm
phán có trách nhiệm giải thích luật pháp trong việc vận dụng vào từng trường
hợp cá biệt, đúng như ông ta hiểu luật pháp khi xem xét nó một cách có lương
tri…Thẩm phán độc lập không thuộc về tôi cũng không thuộc về chính phủ.
Thẩm phán xem xét hành động của tôi, trên cơ sở một đạo luật nhất định [17,
tr.137].
Áp dụng pháp luật là hoạt động phức tạp, ở đây không phải là cứng nhắc mà là một
quá trình tư duy sáng tạo, phải huy động tổng thể những hiểu biết cả về pháp luật và những

quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe bảo đảm
hoàn thành nhiệm vụ được giao [24, tr.49].
Từ việc phân tích khái niệm thẩm phán và quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm
phán như trên, đã phản ánh mục đích của việc đào tạo thẩm phán. Đào tạo thẩm phán,
là một mô hình đào tạo mới ở Việt Nam. Đây có thể được xem là mô hình đào nghề
đặc thù – nghề luật. Một nghề đòi hỏi người đó phải có trình độ chuyên môn pháp lý
cao, có kiến thức xã hội sâu rộng, có năng lực xét xử, có đạo đức trong sáng, có lập
trường chính trị và bản lĩnh vững vàng. Với tính chất nghề “là một lĩnh vực hoạt động
lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ
năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những
nhu cầu của xã hội” [35] thì mục tiêu xuyên suốt của đào tạo thẩm phán là một quá
trình trang bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghề nghiệp cơ bản nhất, để học viên hội
đủ các tiêu chuẩn không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà cả về phẩm chất, nhân cách
có thể đảm đương được nhiệm vụ xét xử các vụ án, và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền Tòa án sau khi được bổ nhiệm. Quá trình đó không những phát
triển có hệ thống, có phương pháp, các tri thức khoa học pháp lý, học viên đã được đào tạo và rèn luyện trước đó, mà còn tạo nền móng để tiếp tục tiếp thu, vận dụng
những kiến thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của công cuộc cải cách tư pháp
ở nước ta hiện nay. Từ các phân tích trên có thể định nghĩa: đào tạo thẩm phán là một
quá trình trang bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghiệp vụ xét xử và rèn luyện đạo
đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nguồn để bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán của
ngành tòa án.
Tóm lại: với tư cách là một mô hình đào tạo nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn lực
cho thực tiễn, nên ngoài sự kế thừa các vấn đề cơ bản của quá trình đào tạo chung như:
mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện, đội ngũ giảng viên, thì
trong quá trình đào tạo thẩm phán còn phải cụ thể hóa mục đích chung vào điều kiện riêng
và gắn việc đào tạo của nhà trường phù hợp với đặc điểm của hoạt động xét xử, phục vụ có
hiệu quả cho sự phát triển của ngành tòa án và xã hội.

Mang tính nghề nghiệp cụ thể: không chỉ cung cấp các kiến thức kỹ năng về nghiệp
vụ xét xử mà còn bao gồm các kiến thức, pháp luật chuyên ngành, đạo đức nghề nghiệp
bản lĩnh chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Mang tính toàn diện: Cơ cấu hợp lý giữa lý luận và thực tiễn, gắn lý thuyết và thực
hành, giữa bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ với nâng cao nhận thức trách nhiệm
đạo đức nghề nghiệp, kiến thức bổ trợ về tin học và kiến thức pháp luật chuyên ngành, hội
nhập kinh tế quốc tế
Cơ cấu chương trình và bố trí thời lượng phù hợp với đối tượng và từng nội dung đào
tạo để đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả của việc đào tạo, phù hợp với yêu cầu người học là
những người đang đảm nhận công tác chỉ có thể tham gia một thời gian nhất định cho việc
học tập nâng cao trình độ, bổ sung kiến thức.
Tóm lại nội dung chương trình đào tạo thẩm phán theo hướng đào tạo nghề, đảm
bảo người học sau khi tốt nghiệp khóa học có thể đảm nhiệm được nhiệm vụ xét xử của
người thẩm phán, đạt mục tiêu của đào tạo đã được xác định.
Thứ ba: Trong đào tạo chức danh tư pháp nói chung và đào tạo thẩm phán nói riêng,
xuất phát từ yêu cầu của công tác tư pháp đặc biệt là công tác xét xử luôn đòi hỏi công chức phải tuân theo trình tự thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và sự chủ động sáng tạo
trong việc triển khai nhiệm vụ, áp dụng chính xác pháp luật vào thực tiễn sinh động. Do đó
phương pháp đào tạo thẩm phán là những những phương pháp đào tạo hiện đại, rèn luyện,
tạo được sự chủ động cho người học không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn có khả năng áp
dụng kiến thức và nâng cao năng lực tư duy đánh giá độc lập trong công vụ đặc biệt là
giải quyết các tình huống cụ thể. Các phương pháp đào tạo được ưu tiên lựa chọn trong
đào tạo thẩm phán là phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm. Đặc
điểm này một mặt phản ánh tính đặc thù của đối tượng đào tạo thẩm phán là những cử
nhân luật đã được trang bị đầy đủ hệ thống tri thức cơ bản, cơ sở và chuyên ngành. Được
tuyển dụng công chức theo ngạch công chức của hệ thống cơ quan tòa án, có thời gian
trải nghiệm qua thực tiễn công tác. Mặt khác phản ánh yêu cầu của mục đích, nội dung,
cũng như tính chất phong phú phức tạp của quá trình đào tạo thẩm phán là đào tạo nghề

hiện đào tạo xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo phù hợp.
1.1.3 Nội dung, chương trình đào tạo thẩm phán
Nội dung đào tạo là những kiến thức, kỹ năng được truyền tải đến cho đối tượng đào
tạo. Nội dung đào tạo thẩm phán quy định hệ thống tri thức pháp lý chuyên nghành; quy
định hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của
thẩm phán.Về nguyên tắc khi xây dựng nội dung đào tạo nói chung, hay nội dung đào tạo
thẩm phán nói riêng đều phải phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, đảm bảo lôgíc
khoa học chặt chẽ, cũng như sự cân đối giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, sự
thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục.
Với tính chất đặc thù của đối tượng đào tạo, và mục tiêu của đào tạo nên cấu trúc nội
dung đào tạo thẩm phán gồm: hệ thống tri thức chuyên nghành, hệ thống tri thức có liên
quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp. Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp: Kỹ
năng được hiểu “là năng lực tự giác hoàn thành một hoạt động nhất định dựa trên sự hiểu
biết và vận dụng những tri thức tương ứng. Kỹ xảo là năng lực thực hiện một cách tự động
hóa một thao tác hay một công việc nhất định nó thể hiện sự thành thạo trong hoạt động
của con người” [30, tr.36]. Cũng từ tính chất của hoạt động nghề nghiệp mà hệ thống kỹ năng được xác định
gồm các kỹ năng chuyên biệt về nghiệp vụ xét xử như: kỹ năng phân tích và áp dụng pháp
luật, kỹ năng điều khiển phiên tòa, kỹ năng soạn thảo văn bản tố tụng
Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo: Đó là quá trình làm tăng khả năng độc lập,
mang kiến thức đã biết vào một tình huống mới; phát hiện những vấn đề mới trong tình
huống đã biết, phát hiện cách thức giải quyết tối ưu trong hàng loạt cách thức giải quyết
cho học viên. Gắn chặt hoạt động học tập với thực tế nghề nghiệp, không truyền nghề một
cách máy móc, áp đặt.
Những chuẩn mực về thái độ đối với xã hội và nghề nghiệp: đây là một nội dung đào
tạo đang được đặt ra với yêu cầu trong điều kiện hiện nay trên cơ sở quán triệt quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về: “xây dựng đội ngũ thẩm phán thư ký tòa án, điều tra viên,
kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất

sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động.
Phần 3: chương trình thực tập và thi tốt nghiệp
Phần này chiếm 30% tổng số đơn vị học trình. Địa điểm thực tập sẽ tiến hành tại các
Toà án địa phương. Do đối tượng đào tạo là nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán cấp huyện nên
phần lớn thời gian thực tập sẽ được tiến hành ở Toà án cấp huyện. Các nội dung thực tập
chủ yếu liên quan đến án hình sự, hành chính và dân sự sơ thẩm. Hoạt động thực tập được
thiết kế nhằm tạo môi trường để học viên có điều kiện thực hành trong thực tế những thao
tác nghiệp vụ đã được học tập. Qua đó sẽ giúp cho học viên khái quát hóa các kinh nghiệm
từ thực tiễn nghề nghiêp.
Bằng việc xác định hướng tiếp cận theo sự phát triển trong xây dựng chương trình
đào tạo. Đặt mối quan tâm hàng đầu là phát triển sự hiểu biết ở học viên. Dạy học viên
“cách học” hơn là việc truyền thụ kiến thức đơn thuần. Vì vậy chương trình đào tạo thẩm
phán khi xây dựng đã rất chú ý đến việc đáp ứng tối đa nhu cầu và hứng thú học tập của
học viên. Cũng từ cách tiếp cận này, chương trình đào tạo thẩm phán đã lựa chọn hình thức
thiết kế theo mô đun (Module). Đây là cách thiết kế hiện đại và phổ biến hiện nay, nhất là
trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp. Thuật ngữ modunle “được dùng để chỉ một đơn vị
kiến thức hoặc một hệ thống kỹ năng vừa tương đối độc lập, vừa có thể kết hợp với kiến
thức hoặc kỹ năng khác tạo thành hệ thống trọn vẹn có quy mô lớn hơn. Những kiến thức hoặc kỹ năng này thường được thể hiện dưới dạng việc làm của học viên” [29, tr.115].
Chương trình đào tạo thiết kế theo modunle là hệ thống các modunle được kết nối với nhau
theo các hình thức nhất định, Với cách thiết kế này khi hoàn thành các modunle đó, học
viên đạt được mục tiêu học tập của mình.
Trong chương trình đào tạo thẩm phán phần đào tạo kỹ năng tập trung ở ba môn học:
Kỹ năng giải quyết vụ án hình sự; kỹ năng giải quyết vụ án dân sự; kỹ năng giải quyết vụ
án hành chính. Đây là ba môn học trang bị các tri thức và kỹ năng cần thiết như: kỹ năng thụ
lý, điều tra thu thập chứng cứ nghiên cứu hồ sơ, xét xử phiên tòa sơ thẩm, ra bản án hoặc
quyết định giải quyết vụ án của ba loại án hình sự, dân sư, hành chính. Trong từng môn học có
các bài học: “Bài học là đơn vị cơ bản tạo thành hệ thống môn học” [29, tr.124]. Các bài học

đối với cả học viên và giảng viên trong quá trình đào tạo thẩm phán, với mục tiêu chỉ cập
nhật kiến lý thuyết cho học viên, nên hồ sơ tình huống là tài liệu học tập quan trọng để học
viên rèn luyện kỹ năng giải quyết các vụ án trong thực tế.
Nội dung, chương trình là phần tri thức và kỹ năng cần truyền thụ cho học viên trong
quá trình đào tạo. Đó là yếu tố trọng tâm của quá trình đào tạo, là sự thể hiện mục tiêu của
nhiêm vụ đào tạo thẩm phán. Có thể nói chất lượng hoạt động nghề nghiệp của học viên
sau quá trình đào tạo được quyết định bởi “dạy cái gì”. Vì vậy, nội dung chương trình đào
tạo luôn là vấn đề đặt ra cho quá trình cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo, là trung tâm
chú ý của những người làm công tác quản lý giáo dục và cả những người đón nhận sản
phẩm của quá trình đào tạo đó.
1.1.4. Hình thức đào tạo thẩm phán
Hiện vẫn có quan điểm đồng nhất khái niệm hình thức đào tạo với khái niệm phương
pháp đào tạo. Tuy nhiên nhìn chung người ta quan niệm rằng hình thức đào tạo được hiểu
là hình thức hoạt động giảng dạy được tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực
hiện các nhiệm vụ đào tạo đã quy định. Hình thức đào tạo là cách thức tổ chức tiến hành
đào tạo, có nhiều hình thức đào tạo khác nhau tùy theo mối quan hệ giữa việc dạy học có
tính chất tập thể hay cá nhân, tùy theo phương thức tổ chức điều khiển của giáo viên cũng
như tùy theo địa điểm thời gian học tập. Đào tạo có thể diễn ra dưới hình thức tập trung,
chính quy, tại chức, từ xa. Cũng cần phân biệt giữa hình thức đào tạo với hình thức tổ chức
một khóa học (khóa đào tạo; khóa bồi dưỡng; khóa huấn luyện).
Với cơ sở lý luận về hình thức của đào tạo nói chung, thì hình thức đào tạo thẩm phán
hiện nay là đào tạo tập trung thời gian 12 tháng. Đào tạo tập trung có ưu điểm là quá trình
đào tạo được thực hiện một cách bài bản, tích cực và được chuẩn hóa. Học viên có điều
kiện tập trung mọi khả năng, sức lực và thời gian vào việc học tập không bị phân tán bởi
những công việc khác nên có điều kiện nghiên cứu hồ sơ tình huống, đọc sách, tài liệu, giải bài tập về nhà, nhớ nhanh, nhớ lâu các kiến thức lý luận và thực tiễn được giảng viên
truyền thụ. Cách thức tổ chức đào tạo thẩm phán như sau:
Hệ thống giờ lên lớp, đây là hình thức đào tạo cơ bản gồm nhiều bài học lý thuyết và tình

đường, cách thức vận động để đạt tới mục đích nhất định. “Phương pháp là hình thức tự
vận động bên trong của nội dung” [33, tr.103], nó gắn liền với hoạt động của con người
giúp cho con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với với mục đích đã đề
ra. Bởi vậy phương pháp bao giờ cũng mang tính mục đích, tính cấu trúc và luôn gắn
liền với nội dung. Hay có thể định nghĩa phương pháp đào tạo: “là những con đường,
cách thức tiến hành đào tạo” [29, tr.145]. Phương pháp đào tạo là hệ thống gồm một
hay nhiều quy tắc được áp dụng có tác dụng hướng dẫn một loại hình hoạt động cụ thể
nào đó để đạt được mục tiêu đào tạo. Với định nghĩa đó, có thể hiểu phương pháp đào
tạo ở hai cấp độ khác nhau. Ở cấp độ thứ nhất là cách thức hình thành mục đích, soạn
thảo và triển khai nội dung đào tạo, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học
nhằm hiện thực hóa mục đích, nội dung dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả
của quá trình đào tạo. Ở cấp độ thứ hai phương pháp đào tạo là cách thức tiến hành các
hoạt động của người dạy và người học nhằm hiện thực một nội dung dạy học đã được
xác định.
Phương pháp đào tạo hiện đại theo quan niệm của các nhà khoa học sư phạm trên thế
giới hiện nay có các đặc điểm cơ bản sau: (i), gắn liền với ngành nghề đào tạo; (ii), có tác
dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học ; (iii), gắn liền với
thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống; (iv) tính đa dạng và phù hợp với loại hình, quy mô,
điều kiện đào tạo; (v) ngày càng gắn liền với các phương tiện và thiết bị dạy học hiện đại.
Phương pháp đào tạo hiện đại sẽ khắc phục được các khiếm khuyết của hệ thống các
phương pháp đào tạo truyền thống là đào tạo nặng về truyền thụ và thông báo, chú trọng
định hướng giảng dạy hơn là kết quả giảng dạy.
Với tư cách là một hình thức đào tạo nghề, về bản chất phương pháp đào tạo thẩm
phán không tách rời phương pháp đào tạo nói chung. Xuất phát từ tính đặc thù trong mục
đích đào tạo, đối tượng đào tạo và vận dụng linh hoạt các phương pháp đào tạo hiện đại,
đồng thời quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới phương pháp
đào tạo, đào tạo thẩm phán đã áp dụng các phương pháp tích cực, các phương pháp lấy người học làm trung tâm. Các phương pháp được áp dụng trong đào tạo thẩm phán của

là một phương pháp đánh giá kết quả học tập có hiệu quả dùng thực tiễn để kiểm nghiệm
lý thuyết của phương pháp đào tạo thẩm phán.
Vì phương pháp đào tạo không phải là phạm trù mục đích, mà là phạm trù
phương tiện. Do vậy, yêu cầu khi sử dụng chúng vào thực tiễn như nào cho hiệu quả,
hoàn toàn phụ thuộc khả năng của các chủ thể. Đồng thời trong thực tiễn không có
phương pháp nào tồn tại độc lập, không có kiểu phương pháp nào, nhóm phương pháp
nào vạn năng. Khi vận dụng cần phải linh hoạt trên cơ sở phối hợp, hợp lý theo chức
năng của mỗi phương pháp, tùy theo mục đích, nội dung tài liệu, đặc điểm tâm lý học
viên của một quá trình dạy học cụ thể. Việc sử dụng đơn điệu một phương pháp dạy
học, dù đó là phương pháp dạy học tốt nhất cũng mang lại hiệu quả không cao.
Qua phân tích các nội dung cơ bản của phương pháp đào tạo thẩm phán cho thấy
phương pháp đào tạo thẩm phán thể hiện rõ nét tính mục đích của đào tạo thẩm phán là
đào tạo nghề. Thể hiện tính đa dạng khoa học, hiện đại và gắn liền với xu hướng phát
triển của đời sống thực tiễn. Phù hợp nội dung, điều kiện phương tiện và đặc điểm đội
ngũ giảng viên, nên đã có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, tính sáng
tạo, và khả năng nghiên cứu khoa học của học viên. Phương pháp đào tạo thẩm phán là
một phạm trù phương tiện do vậy trong quá trình sử dụng cần đổi mới và sáng tạo, bởi
đó là một trong yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo.
Như vậy đào tạo nói chung và đào tạo thẩm phán nói riêng tồn tại với tư cách là một
hệ thống. Qua nghiên cứu đào tạo thẩm phán chúng ta đã xác định được các thành tố cơ
bản của nó bao gồm: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức, phương
tiện Các thành tố này có vị trí, vai trò chức năng khác nhau, tuy nhiên chúng có mối quan
hệ biện chứng lẫn nhau trong cùng hệ thống. Do đó khi đánh giá thực trạng công tác đào
tạo thẩm phán, cần thiết phải xem xét đầy đủ đến các yếu tố này, trong đó đối tượng đào
tạo đóng vai trò trung tâm và hướng tới mục tiêu đào tạo.
1.2. YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
THẨM PHÁN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1. Nội dung cải cách tư pháp về đào tạo thẩm phán

quyết 08-NQ/TW, tiếp tục được Nghị quyết 49-NQ/ TW xác định phương hướng: “xây
dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo
hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý. Nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về
chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội
đối với từng loại cán bộ, tiến tới thi tuyển một số chức danh”. Để thực hiện phương
hướng này Nghị quyết đã đề ra nhiệm vụ cụ thể là:
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo
nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ
trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh
tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức
trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [2,
tr.06].
Nghị quyết số 49-NQ/TW tiếp tục khẳng định: “Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp
có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế và khu vực”. Các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp ở nước ta cũng đã
từng bước được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật được quốc hội thông qua trong
thời gian gần đây như Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001; Luật tổ chức tòa
án nhân dân năm 2002; Pháp lệnh Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân năm 2002 Đây là cơ sở
pháp lý để xây dựng đội ngũ thẩm phán trong sạch vững mạnh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
cải cách tư pháp.
Để xác định các yêu cầu đối với đào tạo thẩm phán, cần phải xuất phát từ mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ của cải cách tư pháp trong thời gian tới và tiêu chuẩn hóa, Chức
danh thẩm phán theo Pháp lệnh Thẩm phán Hội thẩm nhân dân. Cụ thể đó là những phẩm
chất cần phải có đối với một người khi được tuyển chọn để bổ nhiệm vào chức danh thẩm
phán, là những đòi hỏi của nhà nước, xã hội đối với người thẩm phán trong giai đoạn cải
cách tư pháp hiện nay. Đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp trong thời tới cần đáp
ứng một số yêu cầu căn bản sau đây:
1.2.2. Những yêu cầu của cải cách tư pháp đối với công tác đào tạo thẩm phán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status