Đổi mới Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
  

THẠCH THỊ HẰNG

Đổi mới toà án
trong tố tụng hình sự trước yêu cầu của công cuộc cảI cách tư pháp LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2012


3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, chưa
từng được công bố trong một công trình khoa học nào của người khác. Các
tài liệu tham khảo được trích dẫn một cách hợp pháp.

Học viên
THẠCH THỊ HẰNG

4

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến phó Giáo sư-Tiến sĩ
luật học Nguyễn Ngọc Chí - Giảng viên khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà
Nội - người đã hướng dẫn khoa học và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô
giảng viên của khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội và các thầy cô cộng tác
viên giảng dạy tại Khoa - những người đã tận tình dìu dắt và truyền đạt những kiến
thức khoa học pháp lý bổ ích cho tôi trong suốt khoá học.
Xin cảm ơn gia đình, người thân, các bạn đồng môn và đồng nghiệp đã
luôn ở bên cạnh động viên và cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này. THẠCH THỊ HẰNG

pháp đến năm 2020”

TAND
:
Tòa án nhân dân

TTHS
:
Tố tụng hình sự

UBND
:
Uỷ ban nhân dân

XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa 6
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 8
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀ ÁN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ 15
1.1. Vị trí, chức năng của Toà án 15
1.1.1. Vị trí của Toà án 15

3.1.2. Những nguyên tắc của việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà
án trong tố tụng hình sự 83
3.1.3. Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng
hình sự 88
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố
tụng hình sự 93
3.2.1. Nhóm giải pháp đổi mới mô hình tổ chức hệ thống Toà án và phân định
lại thẩm quyền của Toà án các cấp 93
3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật. 98
3.2.3. Nhóm giải pháp đổi mới tổ chức của TAND cấp huyện 104
3.2.4. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất, địa vị pháp lý của
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. 106
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 116 8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp
hoá và hiện đại hoá. Yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy
nhà nước, trong đó cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng bởi mục tiêu của cải
cách tư pháp là đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai
người vô tội. Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, ngày 02/1/2002, Bộ chính trị đã
ban hành Nghị quyết số 08 – NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác
tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết 08 – NQ/TW). Tiếp đó là Nghị quyết số 48
– NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị
quyết số 49 –NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư

cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra các luận giải khoa học, các kiến nghị lập pháp
thì chưa sâu. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về việc nên
hay không nên tổ chức lại mô hình Toà án, nếu có thì mô hình Toà án nên tổ chức,
hoạt động như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, các vấn đề
tranh tụng tại phiên toà, v.v,…đặc biệt là trong tố tụng hình sự (TTHS).
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Đổi mới Toà án trong tố tụng
hình sự trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp” làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ của mình. Nội dung của luận văn là cố gắng tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra
phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả
hoạt động của Toà án trong TTHS trên cơ sở có nghiên cứu thực tiễn, phân tích
đưa ra các luận giải khoa học, các kiến nghị lập pháp cho việc xây dựng, hoàn

10
thiện mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS đáp ứng yêu cầu của
công cuộc cải cách tư pháp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm: Toà án, Viện kiểm sát, Cơ
quan thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp thì Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt
quan trọng vì phán quyết của Toà án thể hiện kết quả cuối cùng của tiến trình tố
tụng, tuyên bố một người có tội hay không có tội, đúng hay sai. Toà án là nơi thể
hiện sâu sắc bản chất Nhà nước và nền công lý, thể hiện chất lượng hoạt động và
uy tín của hệ thống tư pháp trong hệ thống các cơ quan Nhà nước. Nhận thức được
vị trí và vai trò quan trọng của Toà án nên trong thời gian qua đã có nhiều bài viết,
công trình nghiên cứu về Toà án như: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án
nhân dân của Phạm Quý Tỵ đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 07, tháng
07/2005; Đổi mới hệ thống tổ chức Toà án nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
nguyên tắc 2 cấp xét xử của Vũ Gia Lâm đăng trên Tạp chí luật học số 06/2007;
Một số vấn đề về tổ chức hệ thống Toà án theo định hướng cải cách tư pháp của
Đinh Văn Quế đăng trên Tạp chí TAND số 23/2007; Cải cách hệ thống tư pháp
Việt Nam, Đề tài cấp Nhà nước, mã số 92-98-353, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn

nói riêng đặc biệt là khi đặt trong bối cảnh của cải cách tư pháp.
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu của
luận văn
a/ Mục đích nghiên cứu
Mục đích đặt ra của luận văn là: Nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý
luận cũng như thực tiễn vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS
Việt Nam, thấy được những điểm hợp lý và những điểm còn bất cập trong các quy

12
phạm về Toà án. Qua đó, đề xuất kiến giải lập pháp bằng việc đưa ra mô hình mới
về tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS. Đặc biệt trong tiến trình cải cách tư
pháp thì việc nghiên cứu trên càng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng bởi theo tinh
thần của cải cách tư pháp đã xác định trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và
hoạt động của Tòa án.
b/ Nhiệm vụ nghiên cứu
Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu đặt ra đối với luận văn là:
Về mặt lý luận:
Phải đưa ra được các luận giải khoa học và các kiến giải lập pháp cho việc
xây dựng mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam trên cơ sở
nghiên cứu lịch sử tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam qua các
thời kỳ lịch sử, so sánh với mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án một số nước
trên thế giới.
Về mặt thực tiễn:
Phải đánh giá thực trạng hoạt động của Toà án trong thực tiễn TTHS Việt
Nam, tìm ra nguyên nhân của tình trạng đó. Qua đó, đề xuất phương hướng và một
số giải pháp hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án trong
TTHS Việt Nam trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.
c/ Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về Toà án trong TTHS
Việt Nam như: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động


14
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận:
Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện các vấn đề tổ chức và hoạt
động của Toà án trong TTHS. Trên cơ sở đó bằng các luận giải khoa học về việc
xây dựng hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS đưa ra
kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy phạm về tổ chức và hoạt động của
Toà án ở khía cạnh lập pháp.
Về mặt thực tiễn:
Trên cơ sở tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt
động của Toà án trong TTHS Việt Nam, luận văn đưa ra một số phương hướng và
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án trong TTHS nhằm đáp ứng yêu
cầu thực tiễn đặt ra của công cuộc cải cách tư pháp.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục luận
văn gồm 3 chương với cơ cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Toà án trong tố tụng hình sự
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự ở
Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng
hình sự trước yêu cầu của cải cách tư pháp.

15
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀ ÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Vị trí, chức năng của Toà án
1.1.1. Vị trí của Toà án
a/ Ngày nay, ở tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới, Toà án nếu không

giúp việc chứ không phải là nơi để chia sẻ quyền lực. Bộ máy tư pháp cũng đã
được hình thành từ rất sớm. Ở Ai Cập cổ đại, một bộ máy tư pháp khá hoàn chỉnh
đã được các Pharaon hình thành ngay từ đầu để đáp ứng yêu cầu cai trị xã hội.
Pharaon – người truyền đạt ý nguyện của Chúa Trời cho con người chính là người
xét xử cao nhất. Giúp việc cho sự phán xét của thần thánh là một cơ quan chuyên
môn gồm 6 viện, đứng đầu là viện chưởng lý với rất nhiều nhân viên phục vụ [23].
Ở Babylonia cổ đại, cùng với việc ban hành bộ luật nổi tiếng, vua Hammurabi
cũng đã thành lập Toà án tối cao để giúp việc cho mình với một Hội đồng thẩm
phán gồm các bô lão có uy tín trong xã hội. Như vậy, mặc dù được hình thành từ
rất sớm và đóng vai trò là một bộ phận quan trọng của bộ máy cai trị nhưng bộ
máy tư pháp hoàn toàn không mang tính chất là một nhánh của quyền lực nhà nước
để chia sẻ với quyền lực tối cao của các hoàng đế. Vai trò của nó bị che lấp bởi các
hoàng đế. Nó có bổn phận là bộ máy giúp việc trung thành cho các hoàng đế để
thực hiện một cách triệt để quyền lực thiêng liêng là phán xét và phân xử. Trong
Kinh Cựu Ước, vị quan toà nổi tiếng nhất chính là vua Salomon mà với sự anh
minh của mình, ông đã phân xử việc tranh chấp con của hai người đàn bà bằng
cách vờ ra lệnh chặt đứa trẻ làm đôi để nhìn thấy tình thương của người mẹ đích

17
thực [49]. Trong suốt thời kỳ trung cổ, chỉ có một biệt lệ duy nhất về sự chia sẻ
quyền lực tư pháp của hoàng đế cho bộ máy tư pháp. Vào năm 1215, khi ký vào
bản Đại hiến chương Magna Carta, Hoàng đế của nước Anh đã nhường một số
quyền tư pháp cho các quan lại và nhân dân và lần đầu tiên trong lịch sử, một vị
hoàng đế đã chấp nhận rằng mình có thể phải tôn trọng các đạo luật [20].
Trong suốt thời kỳ cổ đại và trung cổ, quyền lực tư pháp cũng bị chi phối bởi
hai xu hướng chính trong cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, đó là: tập trung,
thống nhất và cát cứ, chia cắt. Những cuộc chiến tranh liên miên để tranh giành
quyền lực được thúc đẩy bởi những lợi ích từ đất đai, tài nguyên và nô lệ đã làm
hình thành những đế quốc to lớn nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chia rẽ một
đế quốc to lớn thành nhiều quốc gia nhỏ hơn. Điều đó đã diễn ra ở khắp các nhà

Quyền lực tư pháp là quyền lực xét xử dựa trên cơ sở của pháp luật đối với
các hành vi vi phạm pháp luật cũng như đối với những tranh tụng phát sinh trong
đời sống xã hội. Như vậy, việc thực hiện quyền lực tư pháp có bản chất là hoạt
động áp dụng pháp luật của nhà nước thông qua bộ máy tư pháp.
b/ Nếu như quyền lực tư pháp chính là quyền lực xét xử thì Toà án chính là
chủ thể trung tâm của quyền lực xét xử và gần như nó được hình thành cùng với
việc các nhà nước đầu tiên tổ chức nên bộ máy nhà nước để cai trị xã hội. Ngay từ
khi còn bị coi là bộ máy giúp việc cho các hoàng đế cổ đại và trung cổ, Toà án đã
là biểu tượng thiêng liêng của công lý, là sự hiện diện sống động của pháp luật với
đầy đủ tính chất nghiêm khắc vốn có của nó, là hình ảnh rất thực tế về nhà nước
với sức mạnh của một thứ quyền lực không thể vượt qua.
Trong tiếng La tinh, Toà án được gọi là Forum hay Comitia – có nghĩa “Nơi
công cộng”, “Công đường” hay “Nơi họp các hội nghị nhân dân”. Điều này đã

19
được ghi trong Luật 12 Bảng đồng (Duedecim Tabulae) vào khoảng giữa thế kỷ
thứ 3 TCN [9]. Tuy nhiên, các thuật ngữ như “Toà án”, “Quan toà” hay “Xét xử”
đã được quy định trong pháp luật từ sớm hơn thế rất nhiều trong Bộ luật
Hammurabi vào khoảng 1700 năm TCN [9]. Bộ luật này lại được xây dựng trên cơ
sở những pháp điển đã có từ trước của người Sumer đã chứng tỏ rằng không phải
chỉ đến thời vua Hammurabi, cư dân ở vùng Lưỡng Hà ngay từ thời kỳ cổ đại đã
rất quen thuộc với “Toà án” các “Quan toà” và hoạt động “Xét xử”. Toà án là cơ
quan duy nhất thực hiện quyền lực xét xử hay quyền lực tư pháp. Ở Trung Quốc,
bộ máy tư pháp ở trung ương thời cổ đại và trung cổ không gọi là Toà án mà được
gọi Bộ Hình. Trong kết cấu “Lục Bộ” điển hình của các triều đại phong kiến Trung
Quốc, Bộ Hình là thiết chế duy nhất có chức năng trông coi việc điều tra, xét xử,
thi hành các hình phạt và cai quản các nhà ngục. Ở địa phương, bộ máy tư pháp
mặc dù không được tổ chức một cách độc lập mà được đồng nhất với bộ máy hành
pháp nhưng chỉ do một cơ quan thực hiện. Các quan lại địa phương vừa thực hiện
chức năng của hành pháp là cai quản xã hội, vừa thực hiện quyền lực xét xử đối

Trong các thể chế tư pháp, Toà án luôn được xem là chủ thể trung tâm. Sự tham
gia của các cơ quan khác nếu có vào bộ máy tư pháp cũng chỉ nhằm để giúp cho
toà án thực hiện quyền lực xét xử.
Ở Việt Nam, hệ thống cơ quan tư pháp đầu tiên được thành lập sau cách
mạng tháng 8 cũng có tính chất như vậy. Điều 63 Hiến pháp năm 1946 đã khẳng
đinh: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà gồm có: Toà án tối
cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và các Toà án sơ cấp”. Như
vậy, trên phương diện luật thực định, khái niệm “Tư pháp” thực chất được đồng

21
nghĩa với hoạt động xét xử và hệ thống các cơ quan tư pháp chính là hệ thống các
Toà án. Mặc nhiên, bên cạnh hoạt động xét xử, hoạt động tư pháp còn bao gồm
một số hoạt động khác như công tố, điều tra tư pháp, giám sát tư pháp nhưng các
cơ quan thực hiện các hoạt động này đều là những bộ phận thuộc Toà án [41].
Tùy theo nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước được xác định
trong Hiến pháp mà cách thức tổ chức các cơ quan tư pháp ở mỗi quốc gia cũng có
sự khác biệt. Ở những nơi nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền thì
quyền tư pháp chỉ là hoạt động xét xử và cơ quan tư pháp chỉ là Tòa án, cơ quan
công tố và cơ quan điều tra là những cơ quan thuộc nhánh quyền hành pháp [15].
Ngược lại ở Việt Nam hoặc những nước tổ chức và hoạt động của nhà nước theo
nguyên tắc tập quyền thì hoạt động tư pháp có phạm vi rộng hơn, không chỉ có
hoạt động xét xử mà còn có cả hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và thi hành án.
Do đó, cơ quan tư pháp bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan
thi hành án. Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 khi quy định các tội xâm phạm hoạt
động tư pháp có đưa ra định nghĩa sau: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là
những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát,
xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân.” (Điều 292 BLHS 1999). Theo định nghĩa này thì
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án là hoạt động tư pháp và tương ứng
với nó là các cơ quan tư pháp, bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố (Viện

vậy, khác với hoạt động xét xử hình sự bao giờ cũng là thẩm quyền của Tòa án –
cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động truy tố chỉ là thẩm quyền của cơ quan nhà
nước khi thực hiện công tố, khi mà họ đại diện cho quyền lực công để truy cứu
trách nhiệm hình sự một người ra trước tòa án. Trong trường hợp tư tố thì việc truy

23
cứu trách nhiệm hình sự một người ra trước Tòa án không đại diện cho quyền lực
công mà mang tính chất tư, xuất phát từ lợi ích của cá nhân hoặc tổ chức. Vì vậy,
cá nhân, tổ chức khi tiến hành tư tố không phải là thực hiện quyền lực nhà nước
nên không được coi là cơ quan tiến hành tố tụng.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định, trong nhà nước pháp quyền Tòa
án đại điện cho quyền lực tư pháp có vị trí độc lập, kiểm soát với nhánh quyền lực
lập pháp và hành pháp. Vì vậy, Tòa án là một thiết chế độc lập trong bộ máy nhà
nước cũng như độc lập trong hoạt động xét xử của mình để bảo đảm tính khách
quan, công bằng, công lý trong các bản án và quyết định của mình.
1.1.2. Chức năng của Tòa án
Chức năng của nhà nước là những hoạt động nhà nước cơ bản nhất, mang
tính thường xuyên, liên tục, tương đối ổn định, xuất phát từ bản chất, cơ sở kinh tế
- xã hội, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu cơ bản của nhà nước, có ý nghĩa quyết định
tới sự tồn tại, phát triển của nhà nước và được thông qua hoạt động của bộ máy nhà
nước. Tất cả các cơ quan nhà nước đều tham gia thực hiện chức năng của nhà nước
ở mức độ, phạm vi nhất định xuất phát từ vị trí, vai trò, thẩm quyền của mình. Khi
thực hiện chức năng của nhà nước, bản thân mỗi cơ quan nhà nước lại có chức
năng của mình tùy theo vị trí và khuynh hướng hoạt động. Do đó, chức năng của
cơ quan nhà nước là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, có tính ổn định tương đối
của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của cả bộ máy nhà nước.
Cơ quan tiến hành TTHS là những cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện
chức năng tư pháp của nhà nước, trên cơ sở đó mỗi cơ quan lại có chức năng của
riêng mình trong hoạt động TTHS. Theo quan niệm chung được thừa nhận tương
đối rộng rãi thì TTHS có ba chức năng: Chức năng buộc tội; Chức năng gỡ tội;


25
xét xử một vụ án hình sự, tính chất này càng có ý nghĩa quan trọng vì mỗi một
quyết định hay bản án hình sự được ban hành đều có ảnh hưởng đến những lợi ích
thiết thân của các chủ thể pháp luật. Mỗi một bản án hay quyết định của Toà án chỉ
được phép dựa vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà - tức là được
xem xét trong quá trình xét xử.
Như vậy, hoạt động xét xử thực chất là một quá trình Toà án giải quyết
những vụ án cụ thể mà ở đó tồn tại những xung đột về lợi ích không thể tự điều
hoà của các bên liên quan cũng như đã vượt ra khỏi giới hạn cho phép của những
biện pháp giải quyết khác. Xét xử được xem là chức năng quan trọng nhất trong
quá trình giải quyết vụ án và gắn liền với Tòa án trong nhà nước pháp quyền.
1.2. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự
Tòa án là bộ phận cấu thành của Bộ máy nhà nước nên tổ chức và hoạt động
của Tòa án trong TTHS cũng phải tuân theo những nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Bộ máy nhà nước. Trên cở sở những tiêu chí của nhà nước pháp quyền,
những nguyên tắc căn bản sau đây được quán triệt trong tổ chức và hoạt động của
Tòa án, đó là:
1.2.1. Nguyên tắc độc lập
Sư độc lập của các cơ quan tiến hành TTHS trong quá trình giải quyết vụ án
là đòi hỏi tất yếu của nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, mức độ độc lập của Tòa án
ở mức độ cao hơn, bao gồm cả độc lập về tổ chức và hoạt động. “Việc xuất hiện
nhà nước pháp quyền với đặc trưng căn bản là quyền lực nhà nước phải được
phân chia rành mạch thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp thì
Tòa án mới có vị trí độc lập một cách đầy đủ cả trên hai phương diện: Độc lập về
tổ chức và độc lập trong hoạt động xét xử” [15]. Các cơ quan tiến hành tố tụng
khác mức độ độc lập ở mức độ kém hơn phụ thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ,

Trích đoạn Nguyên tắc độc lập Nguyên tắc xét xử công bằng Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Nhóm giải pháp đổi mới tổ chức của TAND cấp huyện Nhóm giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất, địa vị pháp lý của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status