mục lục
mở đầu
Chơng 1:
một số vấn đề lý luận chung về đối tợng
Tra
ng
1
6
chứng minh trong tố tụng hình sự
1.
1.
1.
2.
1.
3.
Chứng minh trong tố tụng hình sự
Đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự
Phạm vi - giới hạn chứng minh trong vụ án hình sự. Vấn đề
xác định đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể
Chơng 2:
luật tố tụng hình sự về đối tợng chứng minh
6
19
3.
1.
3.
2.
Thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự Việt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam liên quan đến đối
1
85
100
tîng chøng minh
KÕt luËn
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o
2
109
112
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
cơ bản để hiểu về vấn đề nên việc nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ nhất
định, mang tính khái quát sơ bộ về vấn đề. Chẳng hặn nh: trong Giáo trình
luật TTHS Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà Nội năm 2000, ở Chơng III Chứng cứ có đề cập đến: khái niệm đối tợng chứng minh và phân loại đối tợng
chứng minh. Trong khoá luận tốt nghiệp Cử nhân luật học về đề tài: Chứng
minh trong tố tụng hình sự Việt Namcủa tác giả Phạm Thế Lực - K41B Khoa Luật - Đại học QGHN, có đề cập đến: những vấn đề cần phải chứng
minh trong TTHS Việt Nam. Trong khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật học về
đề tài: Đối tợng chứng minh và phơng tiện chứng minh trong vụ án giết ngờicủa tác giả Nguyễn Văn Hoan - K41C - Khoa luật - ĐHQG Hà Nội, có đề
cập đến: đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự - trong đó gồm các vấn đề:
khái niệm, nội dung và phân loại đối tợng chứng minh - Nhng việc nghiên cứu
cha thật sâu sắc và toàn diện. Trong luận án Tiến sỹ Luật học về đề tài Thu
thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam
hiện nay của tác giả Đỗ Văn Đơng - bảo vệ năm 2000, có đề cập đến: đối tợng chứng minh - nhng đây không phải là đối tợng nghiên cứu chính của luận
án, nên tác giả cũng chỉ giải quyết vấn đề một cách khái quát chung và làm rõ
mối quan hệ của nó với các vấn đề khác trong luận án để từ đó nhằm phục vụ
cho việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề chính của luận án Nh vậy, có thể
nói rằng cha có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về
đối tợng chứng minh trong TTHS với quy mô là một đề tài độc lập, chuyên
biệt về vấn đề. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về đối tợng chứng minh trong
TTHS là cần thiết.
3. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu
của luận văn
- Mục đích, yêu cầu: Làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn
4
đề lý luận và thực tiễn về đối tợng chứng minh trong tố tụng hình sự.
Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS nớc ta về
đối tợng chứng minh có so sánh với quy định của luật TTHS một số nớc trên
thế giới về vấn đề này, đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT
học điều tra hình sự. Nghiên cứu quy định của BLTTHS Việt Nam, BLTTHS
Liên bang Nga, BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, BLTTHS Cộng hoà
Pháp về đối tợng chứng minh. Đánh giá thực trạng hoạt động của các Cơ quan
THTT hình sự Việt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh trong khoảng thời
gian 5 năm trở lại đây.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,
quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các khoa
học: triết học, luật hình sự, luật TTHS, lôgic học, tội phạm học, điều tra hình
sự và các học thuyết chính trị pháp lý.
- Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật TTHS
thực định và hoạt động chứng minh, giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan
THTT cũng nh các văn bản của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án hớng dẫn
về hoạt động, điều tra, xử lý vụ án hình sự.
- Phơng pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Kết hợp với một số
phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh phơng pháp: hệ thống, lôgic, phân tích,
tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh
nghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong tố tụng
hình sự, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về đối tợng
chứng minh trong TTHS.
6
- Phát hiện những điểm còn bất cập trong luật TTHS Việt Nam về đối
tợng chứng minh. Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan
những nét khác nhau. Tuy nhiên, hoạt động chứng minh có đặc điểm chung là
việc chủ thể sử dụng những phơng tiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan,
khẳng định tính đúng đắn của một vấn đề nào đó để tìm ra chân lý.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn nh: giai
đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra và truy tố; giai đoạn xét xử ở mỗi giai đoạn
có nhiệm vụ và định hớng khác nhau nhng đều hớng tới mục đích giải quyết
vụ án khách quan, toàn diện đúng quy định của pháp luật và do các cơ quan
THTT thực hiện. Quá trình này đợc bắt đầu từ việc cơ quan có thẩm quyền
nhận đợc tin báo, tố giác về các sự kiện phạm tội (hoặc sự kiện có dấu hiệu
của tội phạm) đã xảy ra trong đời sống xã hội, chính vì vậy, để giải quyết vụ
án hình sự thì vấn đề mang tính tất yếu và đợc pháp luật TTHS quy định là:
các cơ quan THTT phải tiến hành chứng minh để làm rõ và khôi phục lại toàn
bộ sự thật khách quan của vụ án và làm sáng tỏ những vấn đề khác có liên
quan đến vụ án.
Quá trình chứng minh khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án
chính là quá trình nhận thức chân lý khách quan về vụ án. Cơ sở lý luận của
hoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin.
Lý luận nhận thức Mác - Lênin khẳng định rằng: nhận thức là sự phản ánh
biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển
không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tợng đến
bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm đợc bản chất quy luật của
8
sự việc và hiện tợng. Trong thế giới khách quan, không có cái gì là con ngời
không thể nhận thức đợc, mà chỉ có những cái con ngời cha nhận thức đợc nhng dần dần cũng sẽ nhận thức đợc.
Nh vậy, theo nguyên lý của lý luận nhận thức thì không có sự vật, hiện
tợng gì mà con ngời không nhận thức đợc, vì thế không thể có tội phạm không
bị phát hiện, chỉ có điều chúng ta có vận dụng một cách khách quan quy luật
nhận thức khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án - chính là quá trình
chứng minh trong TTHS.
Hoạt động chứng minh trong TTHS do những chủ thể nhất định tiến
hành bằng việc phát hiện, thu thập chứng cứ từ các nguồn khác nhau và sử
dụng chứng cứ từ những nguồn này làm phơng tiện chứng minh làm rõ các
vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án. Những vấn đề về chủ thể chứng
minh, chứng cứ, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, cũng
nh trình tự thủ tục trong quá trình chứng minh đều đợc pháp luật quy định.
Tuy nhiên, trong lịch sử hoạt động t pháp, ở những giai đoạn lịch sử nhất định
tuỳ thuộc vào trình tự tố tụng đợc tiến hành theo các kiểu khác nhau hoặc do
quan điểm, cơ sở phơng pháp luận dựa trên cơ sở các học thuyết khác nhau
nên pháp luật ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các nớc khác nhau quy định
về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, chứng cứ, những vấn đề cần phải chứng
minh trong vụ án hình sự có sự khác nhau.
1.1.1. Chủ thể chứng minh trong tố tụng hình sự
Chứng minh là hoạt động nhận thức chân lý khách quan của con ngời
nên ở phơng diện chung nhất con ngời là chủ thể của hoạt động chứng minh.
Nhng hoạt động chứng minh đợc tiến hành trong nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội, mà trong từng lĩnh vực chứng minh khác nhau có một phạm vi những
cá nhân con ngời cụ thể nhất định tham gia vào hoạt động chứng minh đó - tức
là hoạt động chứng minh trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì có những chủ thể
cụ thể khác nhau tiến hành hoạt động chứng minh đó.
Hoạt động chứng minh trong TTHS là hoạt động có mục đích làm
sáng tỏ nội dung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến vụ án, nên
những những ngời tham gia vào hoạt động này là những chủ thể chứng minh
10
trong TTHS. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ hoặc tuỳ thuộc vào
nhân dân, các cơ quan khác khi đợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra
trong khi làm nhiệm vụ của mình nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm
thì có quyền khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và
chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể
từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Nh vậy những cơ quan này cũng là chủ
thể chứng minh trong TTHS, nhng phạm vi tham gia cũng nh mức độ tham gia
chứng minh của các cơ quan này chỉ ở một giới hạn và chừng mực nhất định
mà không giống nh các cơ quan THTT.
Ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng là những chủ thể
chứng minh trong TTHS. Mục đích tham gia chứng minh của họ là để bảo vệ
quyền lợi của mình nên phạm vi tham gia và mức độ chứng minh của họ chủ
yếu nhằm chứng minh họ không có tội hoặc chứng minh các tình tiết giảm
nhẹ TNHS và giảm nhẹ mức bồi thờng thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, ngời có quyền lợi liên quan là chủ thể
tham gia chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Sự tham gia của họ
thờng tập trung vào những việc họ bị tội phạm gây thiệt hại, mức độ thiệt hại
để từ đó đa ra yêu cầu bồi thờng.
Bị đơn dân sự, ngời có nghĩa vụ liên quan cũng là chủ thể tham gia
chứng minh nhằm bác yêu cầu của nguyên đơn, ngời có quyền lợi liên quan
nhằm giảm trách nhiệm, nghĩa vụ của họ.
Ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự tham gia chứng
minh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc liên
quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho đơng sự tức là chứng minh những tình tiết
có lợi cho bị can, bị cáo hoặc đơng sự.
Tuy ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi và nghĩ vụ liên quanlà những
chủ thể có quyền tham gia chứng minh nhng không phải là vụ án nào cũng có
tất cả những ngời tham gia mà tuỳ theo từng vụ án cụ thể có thể chỉ có một số
13
đời thay thế hình thức tố tụng kiểu tố các thì Biện lý xuất hiện. Biện lý là ngời
đại diện cho quyền lực nhà Vua có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ và
duy trì sự buộc tội trớc toà án. Hình thức tố tụng kiểu thẩm vấn phát triển
mạnh ở Pháp vào thế kỷ XIV, ở Đức thế kỷ XVI. Khoảng đầu thế kỷ XVIII ở
nớc Nga xuất hiện Cơ quan công tố, cơ quan này chịu trách nhiệm chứng
minh hầu hết các vụ án hình sự, chỉ trừ một phạm vi rất nhỏ những vụ án t tố
mà ở đó ngời bị hại có nghĩa vụ chứng minh tính có căn cứ của sự việc mà họ
tố cáo. Ngày nay trong luật TTHS của các nớc t bản, nghĩa vụ chứng minh là
do Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố thực hiện, có nớc còn do Thẩm phán
thực hiện nh ở Italia. Tuy nhiên ở các nớc t bản Luật s cũng có quyền thu thập
chứng cứ, trách nhiệm của Luật s là tìm kiếm, thu thập những bằng chứng
ngoại phạm, những chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can và
chuẩn bị thẩm tra nhân chứng trớc toà.
Trong hệ thống pháp luật XHCN, luật TTHS quy định nghĩa vụ chứng
minh thuộc về các cơ quan THTT, cụ thể, tại Điều 11 BLTTHS năm 1988 và
Điều 10 BLTTHS năm 2003 của nớc ta quy định: Trách nhiệm chứng
minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhng
không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Việc quy định nghĩa vụ chứng
minh thuộc về các cơ quan THTT, bởi lẽ: quan hệ pháp luật hình sự có nội
dung là mối quan hệ giữa nhà nớc và ngời phạm tội, nhà nớc với t cách là chủ
thể của quan hệ pháp luật hình sự có quyền quy định hành vi nào là tội phạm,
đồng thời buộc ngời có hành vi phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp
lý bất lợi bằng bản án, Quyết định của Toà án hoặc các Quyết định của cơ
quan có thẩm quyền. Để truy cứu trách nhiệm hình sự một ngời, nhà nớc phải
có những chứng cứ chứng minh hành vi của họ là phạm tội, nếu không đủ
chứng cứ thì không thể buộc tội và truy cứu TNHS họ. Vì vậy, để có chứng cứ
Do tính chất, mức độ và hoàn cảnh của các tội phạm không giống
nhau nên đối tợng chứng minh ở mỗi vụ án có những phạm vi và yêu cầu khác
khác nhau. Tuy vậy, tội phạm đều có những đặc điểm, quy luật chung giống
nhau và đợc khái quát thành những vấn đề chung nhất mà những vấn đề này đơc luật TTHS quy định một cách trực tiếp cụ thể hoặc quy định một cách gián
15
tiếp và thờng phải chứng minh trong bất kỳ vụ án nào.Chẳng hạn luật TTHS
Việt Nam quy định phải chứng minh: có hành vi phạm tội xảy ra hay không,
thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hàng vi phạm tội; ai là ngời
thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng
lực TNHS hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tiết tăng nặng, giảm
nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm
tội gây ra. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào tính chất, hoàn cảnh của từng vụ án cụ thể
mà có thể có những vấn đề không cần phải chứng minh vì nó rõ ràng là đã
không xảy ra trong vụ án đó. Ví dụ: trong vụ án mà ngời phạm tội mới có
hành vi chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm
trọng thì bị phát hiện, xử lý. Nh vậy, trong vụ án này rõ ràng là hậu quả của
tội phạm cha xảy ra nên không phải chứng minh nó.
Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình tiết
khác có liên quan đến vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải chứng
minh trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng ming trong bất kỳ vụ án
nào. Hoặc có những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát sinh những
hoạt động tố tụng có liên quan. Chẳng hạn nh: những tình tiết là căn cứ áp
dụng biện pháp tạm giam chỉ phải chứng minh nó khi các cơ quan THTT áp
dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo.
Đối tợng chứng minh trong TTHS - là nội dung chính của Luận văn
nên những vấn đề liên quan đến nó sẽ tiếp tục đợc làm rõ ở một số mục tiếp
theo của Luận văn.
chứng cứ này có giá trị chứng minh vấn đề gì trong vụ án, và tổng hợp các
chứng cứ đã đủ cơ sở làm rõ và kết luận về vụ án cha, nếu cha đủ chứng cứ để kết
luận về vụ án thì cần phải tiếp tục thu thập thêm chứng cứ.
Nh vậy: Chứng minh trong TTHS là quá trình các cơ quan THTT, ngời
THTT trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát
hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng các chứng cứ này làm
phơng tiện, căn cứ để xác định, làm rõ tất cả những vấn đề liên quan đến vụ
17
án hình sự mà những vấn đề này luật quy định các cơ quan THTT cần phải
biết khi giải quyết vụ án hình sự.
1.1.5. Chứng cứ trong tố tụng hình sự
Trong TTHS chứng cứ đợc dùng làm căn cứ chứng minh. Bởi vậy, để
đảm bảo cho những vấn đề đợc chứng minh là đúng đắn phù hợp với sự thật
khách quan thì đòi hỏi không những hoạt động chứng minh phải dựa trên
những cở, phơng pháp luận khoa học mà còn đòi hỏi những quy định của pháp
luật về chứng cứ nh: chứng cứ là gì, cái gì đợc coi là chứng cứ cũng phải
bảo đảm tính khoa học.Nhng nghiên cứu trong lịch sử pháp lý cho thấy đã
từng có các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong TTHS nh:
Quan điểm thần học, tôn giáo xuất phát từ phơng pháp luận duy tâm
cho rằng Đấng tối cao, Thần linh, Chúa trời đã tạo ra thế giới, tạo ra
con ngời, tạo ra tội phạm thì cũng là ngời phán xét tội phạm. Theo quan điểm
này, ngời bị tình nghi phạm tội phải chịu những thử thách vô lý, dã man nh:
Nhúng tay vào nớc sôi trong khoảng thời gian nhất định hoặc đập đầu vào
đá... nếu tay họ không bị bỏng hoặc đầu không bị chảy máu thì họ đợc coi là
vô tội, còn ngợc lại thì họ bị coi là thủ phạm. Hoặc quan toà tổ chức cho ngời
bị tố cáo và ngời tố cáo quyết đấu, chiến thắng đợc coi là chứng cứ có giá trị
nhất và ngời chiến thắng đợc Toà án tuyên không có tội hoặc lời xám hối của
ngày nay nó vẫn còn đợc biểu hiện trong Luật TTHS của một số nớc trong hệ
thống pháp luật Anh - Mỹ.
Quan điểm nhân chủng học về chứng cứ cho rằng, quá trình thu thập
chứng cứ trong việc giải quyết vụ án hình sự là quá trình xác định cấu trúc,
đặc điểm cơ thể và tính cách con ngời. Tuy quá trình này đợc dựa chủ yếu
bằng phơng pháp nhận dạng và giám định pháp y nên về hình thức dờng nh nó
có căn cứ khoa học. Nhng trên thực tiễn cho thấy cấu trúc cơ thể con ngời
không phải là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và do vậy không thể lấy
cấu trúc cơ thể con ngời thông qua giám định pháp y làm chứng cứ để chứng
minhh tội phạm, mà quá trình hình thành hành vi phạm tội cuả con ngời chịu
19
sự tác động của các hiện tợng, hoàn cảnh, môi trờng của xã hội.
Đến giữa Thế kỷ XVIII quan điểm hình thức về chứng cứ bị phản bác,
thay vào đó là quan điểm niềm tin nội tâm tự do của Thẩm phán về chứng cứ.
Theo quan điểm này thì vai trò của Thẩm phán đợc đề cao trong hoạt động
chứng minh tội phạm, đợc toàn quyền quyết định về tội phạm một cách tuỳ
thuộc vào niềm tin nội tâm của mình, không phải đa ra bất kỳ căn cứ nào miễn
là khẳng định đợc sự tin tởng vào sự đúng đắn của các quyết định.
Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: Con ngời có khả
năng nhận thức các quy luật, hiện tợng của thế giới khách quan, tìm ra chân
lý. Quá trình nhận thức của con ngời từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, từ cha biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tợng đến bản chất.
Về nguyên tắc, không có sự vật, hiện tợng nào là không thể nhận thức đợc, mà
chỉ có sự vật, hiện tợng cha đợc nhận thức mà thôi. Bởi vậy, mọi tội phạm xảy
ra trên thực tế con ngời đều có thể phát hiện chứng minh đợc. Cũng theo lý
luận duy vật biện chứng thì mọi sự vật đều có thuộc tính phản ánh. Với thuộc
tính phản ánh của sự vật nên mọi hoạt động của con ngời trong đó các hành vi
phạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan. Dấu vết của hành vi
bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
1.2. Đối tợng chứng minh trong vụ án Hình sự
1.2.1. Khái niệm
Trong giải quyết vụ án hình sự, để ra đợc các quyết định hoặc bản án
đúng đắn, khách quan phù hợp với quy định của pháp luật thì về nguyên tắc,
đòi hỏi các cơ quan THTT phải làm sáng tỏ bản chất của vụ án và những vấn
đề có liên quan đến vụ án - Tức là phải làm rõ các vấn đề nh: sự việc phạm tội,
ngời thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình
sự đối với ngời phạm tội, nhân thân ngời phạm tội bởi lẽ, chính những vấn
đề này là cơ sở để xác định tội phạm, xác định trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng nh xác định trách nhiệm
21
bồi thờng thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra của ngời phạm tội Việc giải
quyết vụ án hình sự chỉ phát sinh sau khi có tội phạm xảy ra, vì vậy để xác định
đợc bản chất diễn biến của vụ án, các cơ quan THTT phải tiến hành thu thập
chứng cứ và sử dụng chứng cứ để chứng minh làm rõ các vấn đề trong vụ án,
mà các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự này đợc khoa học luật
TTHS gọi là đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự.
Nhng trong vụ việc phạm tội có rất nhiều tình tiết, có tình tiết có ý
nghĩa, giá trị làm cơ sở cho việc giải quyết, xử lý đúng đắn vụ án, có những
tình tiết lại hầu nh không có ý nghĩa gì trong việc giải quyết vụ án. Chẳng hạn
nh trong một vụ trộm cắp tài sản - Ngời phạm tội là A đã dùng kìm bẻ gẫy
khuy cửa nhà của gia đình hàng xóm rồi vào nhà lấy trộm chiếc tivi mang về
nhà mình cất giấu. ở đây, các tình tiết nh việc A dùng kìm bẻ gẫy khuy cửa, A
vào nhà hàng xóm lấy trộm ti vi là những tình tiết có ý nghĩa thể hiện hành vi
phạm tội trộm cắp tài sản của A. Còn tình tiết A cầm kìm bẻ khuy cửa bằng
tay phải hay tay trái, khi lấy ti vi A bê hay xách ti vi thì hầu nh không có ý
hành vi phạm tội xảy ra hay không...Nhng tình tiết trong hành vi phạm tội ở
mỗi vụ án cụ thể là khác nhau.
Trong TTHS, nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan THTT, ngời THTT là
không những nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp
thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội
mà còn nhằm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Một trong những
nguyên tắc cơ bản của luật TTHS Việt Nam là trong quá trình THTT hình sự,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ tìm ra những nguyên
nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng
các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Các cơ quan, tổ chức hữu quan phải
trả lời về việc thực hiện yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà
án. (Điều 27, BLTTHS Việt Nam năm 2003). Nh vậy, trong quá trình THTT
hình sự yêu cầu đặt ra cho các cơ quan THTT là phải tìm ra các nguyên nhân
và điều kiện phạm tội và đề ra các biện pháp, yêu cầu khắc phục. Chính vì
vậy, các cơ quan THTT, ngời THTT phải chứng minh làm rõ nguyên nhân và
23
điều kiện phạm tội - và đây là những vấn đề chứng minh không chỉ góp phần
để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự mà còn phục vụ chủ yếu cho công tác
phòng ngừa tội phạm. Nên theo chúng tôi đối tợng chứng minh trong vụ án
hình sự còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến vụ án và phục vụ cho việc
đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm.
Theo nguyên tắc pháp chế thì: mọi hoạt động TTHS của cơ quan
THTT, ngời THTT và ngời tham gia tố tụng cũng phải tuân thủ những quy
định của luật TTHS và đơng nhiên đối tợng chứng minh cũng phải đợc luật
TTHS quy định - tức là trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự cần phải
chứng minh những vấn đề gì đều đợc luật TTHS quy định. Song việc quy định
này có thể là trực tiếp, cụ thể hoặc có thể là quy định gián tiếp.
những vấn đề cần chứng minh không đợc luật TTHS quy định thì không tạo đợc căn cứ pháp lý cho các cơ quan THTT xác định về đối tợng chứng minh
một cách thống nhất và chính xác, thậm chí có thể dẫn đến tranh cãi giữa các
cơ quan THTT trong việc xác định những vấn đề gì là cần cho việc giải quyết
đúng đắn vụ án
- Đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những
tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và ngời
phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình
sự. [10]
Phân tích khái niệm trên cho thấy khái niệm mới chỉ mang tính liệt kê
những tình tiết là đối tợng chứng minh mà cha nêu đợc bản chất của đối tợng
chứng minh- đó là những vấn đề cha biết nhng cần phải biết. Nội hàm của khái
niệm cũng cha đầy đủ vì cha bao hàm những tình tiết phục vụ cho việc phòng
ngừa tội phạm. Mặt khác khái niệm cũng cha đề cập đến khía canh pháp lý của đối
tợng chứng minh tơng tự nh ở phần trên chúng tôi đã phân tích.
25