®èi tîng chøng minh
trong tè tông h×nh sù
Hµ néi – 2010
®èi tîng chøng minh
trong tè tông h×nh sù
Hµ néi – 2010
mục lục
Trang
mở đầu 1
Chơng 1: một số vấn đề lý luận chung về đối tợng
chứng minh trong tố tụng hình sự
6
1.1. Chứng minh trong tố tụng hình sự 6
1.2. Đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự 19
1.3. Phạm vi - giới hạn chứng minh trong vụ án hình sự. Vấn đề
xác định đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể
47
Chơng 2: luật tố tụng hình sự về đối tợng chứng minh
ở việt nam và một số nớc
56
2.1. Những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối t-
ợng chứng minh
56
2.2. Những quy định của luật tố tụng hình sự một số nớc trên thế
giới về đối tợng chứng minh
65
2.3. So sánh những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam
với những quy định của luật tố tụng hình sự một số nớc trên
thế giới về đối tợng chứng minh
75
thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến
đối tợng chứng minh để từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện về mặt lập pháp và
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong giải quyết vụ án hình sự là
vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao
chất lợng giải quyết vụ án hình sự. Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài
i tng chng minh trong t tng hỡnh s cho luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Về Đối tợng chứng minh trong TTHS trong một số giáo trình luật
TTHS của một số trờng đại học cũng nh một số khoá luận cử nhân luật đề
cập đến dới góc độ là một vấn đề của quá trình chứng minh, hoặc do yêu
cầu, mục đích của việc nghiên cứu không tập trung chính vào đối tợng
chứng minh hay việc đề cập đến đối tợng chứng minh mới chỉ dừng ở việc
phục vụ cho học tập cơ bản để hiểu về vấn đề nên việc nghiên cứu mới
dừng lại ở mức độ nhất định, mang tính khái quát sơ bộ về vấn đề. Chẳng
hặn nh: trong Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà
Nội năm 2000, ở Chơng III - Chứng cứ có đề cập đến: khái niệm đối tợng
chứng minh và phân loại đối tợng chứng minh. Trong khoá luận tốt nghiệp
Cử nhân luật học về đề tài: Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt
Namcủa tác giả Phạm Thế Lực - K41B - Khoa Luật - Đại học QGHN, có
đề cập đến: những vấn đề cần phải chứng minh trong TTHS Việt Nam.
Trong khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật học về đề tài: Đối tợng chứng
minh và phơng tiện chứng minh trong vụ án giết ngờicủa tác giả Nguyễn
Văn Hoan - K41C - Khoa luật - ĐHQG Hà Nội, có đề cập đến: đối tợng
chứng minh trong vụ án hình sự - trong đó gồm các vấn đề: khái niệm, nội
dung và phân loại đối tợng chứng minh - Nhng việc nghiên cứu cha thật sâu
sắc và toàn diện. Trong luận án Tiến sỹ Luật học về đề tài Thu thập, đánh
giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
của tác giả Đỗ Văn Đơng - bảo vệ năm 2000, có đề cập đến: đối tợng chứng
minh - nhng đây không phải là đối tợng nghiên cứu chính của luận án, nên
tác giả cũng chỉ giải quyết vấn đề một cách khái quát chung và làm rõ mối
THTT hình sự ở Việt Nam.
- Đối tợng: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về đối
tợng chứng minh trong TTHS. Nghiên cứu, so sánh những quy định của luật
TTHS Việt Nam và luật TTHS một số nớc trên thế giới về đối tợng chứng
minh. Đánh giá thực trạng hoạt động của các cơ quan THTT hình sự ở Việt
Nam liên quan đến đối tợng chứng minh.
- Phạm vi: Luận văn nghiên cứu về đối tợng chứng minh trong
TTHS một cách tổng thể trong phạm vi chung của tất cả các giai đoạn tố
tụng: điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam từ năm 1998 đến
nay, chủ yếu tập trung trong phạm vi khoa học và thực tiễn luật TTHS.
Ngoài ra ở chừng mực nhất định có liên quan đến khoa học luật hình sự, tội
phạm học và khoa học điều tra hình sự. Nghiên cứu quy định của BLTTHS
Việt Nam, BLTTHS Liên bang Nga, BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa, BLTTHS Cộng hoà Pháp về đối tợng chứng minh. Đánh giá thực trạng
hoạt động của các Cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến đối tợng
chứng minh trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê
Nin, quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về đấu tranh phòng chống tội phạm
nói chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các
khoa học: triết học, luật hình sự, luật TTHS, lôgic học, tội phạm học, điều
tra hình sự và các học thuyết chính trị pháp lý.
- Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật
TTHS thực định và hoạt động chứng minh, giải quyết vụ án hình sự của các
cơ quan THTT cũng nh các văn bản của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án
hớng dẫn về hoạt động, điều tra, xử lý vụ án hình sự.
- Phơng pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Kết hợp với một số
phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh phơng pháp: hệ thống, lôgic, phân tích,
tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh
sống xã hội, trong mỗi lĩnh vực khác nhau, thì hoạt động chứng minh có
những nét khác nhau. Tuy nhiên, hoạt động chứng minh có đặc điểm chung
là việc chủ thể sử dụng những phơng tiện để làm sáng tỏ sự thật khách
quan, khẳng định tính đúng đắn của một vấn đề nào đó để tìm ra chân lý.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn nh: giai
đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra và truy tố; giai đoạn xét xửở mỗi giai
đoạn có nhiệm vụ và định hớng khác nhau nhng đều hớng tới mục đích giải
quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng quy định của pháp luật và do các
cơ quan THTT thực hiện. Quá trình này đợc bắt đầu từ việc cơ quan có
thẩm quyền nhận đợc tin báo, tố giác về các sự kiện phạm tội (hoặc sự kiện
có dấu hiệu của tội phạm) đã xảy ra trong đời sống xã hội, chính vì vậy, để
giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề mang tính tất yếu và đợc pháp luật TTHS
quy định là: các cơ quan THTT phải tiến hành chứng minh để làm rõ và
khôi phục lại toàn bộ sự thật khách quan của vụ án và làm sáng tỏ những
vấn đề khác có liên quan đến vụ án.
Quá trình chứng minh khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án
chính là quá trình nhận thức chân lý khách quan về vụ án. Cơ sở lý luận của
hoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác -
Lênin. Lý luận nhận thức Mác - Lênin khẳng định rằng: nhận thức là sự
phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và
phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ
hiện tợng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm đợc bản
chất quy luật của sự việc và hiện tợng. Trong thế giới khách quan, không có
cái gì là con ngời không thể nhận thức đợc, mà chỉ có những cái con ngời
cha nhận thức đợc nhng dần dần cũng sẽ nhận thức đợc.
Nh vậy, theo nguyên lý của lý luận nhận thức thì không có sự vật,
hiện tợng gì mà con ngời không nhận thức đợc, vì thế không thể có tội
phạm không bị phát hiện, chỉ có điều chúng ta có vận dụng một cách khách
quan quy luật nhận thức trong quá trình chứng minh làm rõ vụ án hay
không. Trong thực tế tuy rằng không phải mọi tội phạm đều đợc phát hiện
dụng chứng cứ từ những nguồn này làm phơng tiện chứng minh làm rõ các
vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án. Những vấn đề về chủ thể chứng
minh, chứng cứ, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, cũng
nh trình tự thủ tục trong quá trình chứng minh đều đợc pháp luật quy định.
Tuy nhiên, trong lịch sử hoạt động t pháp, ở những giai đoạn lịch sử nhất
định tuỳ thuộc vào trình tự tố tụng đợc tiến hành theo các kiểu khác nhau
hoặc do quan điểm, cơ sở phơng pháp luận dựa trên cơ sở các học thuyết
khác nhau nên pháp luật ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các nớc
khác nhau quy định về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, chứng cứ, những
vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự có sự khác nhau.
1.1.1. Chủ thể chứng minh trong tố tụng hình sự
Chứng minh là hoạt động nhận thức chân lý khách quan của con ng-
ời nên ở phơng diện chung nhất con ngời là chủ thể của hoạt động chứng
minh. Nhng hoạt động chứng minh đợc tiến hành trong nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội, mà trong từng lĩnh vực chứng minh khác nhau có một
phạm vi những cá nhân con ngời cụ thể nhất định tham gia vào hoạt động
chứng minh đó - tức là hoạt động chứng minh trong mỗi lĩnh vực khác nhau
thì có những chủ thể cụ thể khác nhau tiến hành hoạt động chứng minh đó.
Hoạt động chứng minh trong TTHS là hoạt động có mục đích làm
sáng tỏ nội dung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến vụ án, nên
những những ngời tham gia vào hoạt động này là những chủ thể chứng
minh trong TTHS. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ hoặc tuỳ
thuộc vào quyền và lợi ích v.v của các chủ thể có sự khác nhau nên mức
độ tham gia cũng nh giai đoạn tham gia vào hoạt động chứng minh của từng
chủ thể có sự khác nhau.
Thông thờng thì chủ thể chứng minh trong TTHS chủ yếu là các cơ
quan THTT và ngời THTT. Theo luật TTHS Việt Nam thì đó là các cơ quan
THTT và ngời THTT nh: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; Thủ tr-
ởng, Phó Thủ trởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trởng, Phó viện tr-
ởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm
chứng minh trong TTHS. Mục đích tham gia chứng minh của họ là để bảo
vệ quyền lợi của mình nên phạm vi tham gia và mức độ chứng minh của họ
chủ yếu nhằm chứng minh họ không có tội hoặc chứng minh các tình tiết
giảm nhẹ TNHS và giảm nhẹ mức bồi thờng thiệt hại do hành vi phạm tội
gây ra.
Ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, ngời có quyền lợi liên quan là chủ
thể tham gia chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Sự tham gia
của họ thờng tập trung vào những việc họ bị tội phạm gây thiệt hại, mức độ
thiệt hại để từ đó đa ra yêu cầu bồi thờng.
Bị đơn dân sự, ngời có nghĩa vụ liên quan cũng là chủ thể tham gia
chứng minh nhằm bác yêu cầu của nguyên đơn, ngời có quyền lợi liên quan
nhằm giảm trách nhiệm, nghĩa vụ của họ.
Ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự tham gia chứng
minh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc
liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho đơng sự tức là chứng minh những
tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo hoặc đơng sự.
Tuy ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi và nghĩ vụ liên quanlà
những chủ thể có quyền tham gia chứng minh nhng không phải là vụ án nào
cũng có tất cả những ngời tham gia mà tuỳ theo từng vụ án cụ thể có thể chỉ
có một số ngời tham gia, cũng có thể có vụ án không có ngời nào trong số
những ngời này tham gia chứng minh vì đó là quyền của họ. Mặt khác sự
chứng minh của họ đôi khi vì những lý do cá nhân mà không thể hiện tính
khách quan cao. Theo luật TTHS thờng thì kết quả chứng minh của những
ngời này cha có giá trị pháp lý chính thức mà vẫn phải thông qua sự đánh
giá, kết luận của các cơ quan THTT.
Ngoài ra, trong TTHS còn có sự tham gia của ngời làm chứng, ngời
phiên dịch và đôi khi còn có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức xã hội, cá
nhân khác. Sự tham gia của những ngời này nhằm cung cấp những tài liệu,
chứng cứ phục vụ cho quá trình chứng minh. Những ngời này không phải
thập những bằng chứng ngoại phạm, những chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho bị can và chuẩn bị thẩm tra nhân chứng trớc toà.
Trong hệ thống pháp luật XHCN, luật TTHS quy định nghĩa vụ
chứng minh thuộc về các cơ quan THTT, cụ thể, tại Điều 11 BLTTHS năm
1988 và Điều 10 BLTTHS năm 2003 của nớc ta quy định: Trách nhiệm
chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền
nhng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Việc quy định nghĩa vụ
chứng minh thuộc về các cơ quan THTT, bởi lẽ: quan hệ pháp luật hình sự
có nội dung là mối quan hệ giữa nhà nớc và ngời phạm tội, nhà nớc với t
cách là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự có quyền quy định hành vi
nào là tội phạm, đồng thời buộc ngời có hành vi phạm tội phải gánh chịu
những hậu quả pháp lý bất lợi bằng bản án, Quyết định của Toà án hoặc các
Quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Để truy cứu trách nhiệm hình sự
một ngời, nhà nớc phải có những chứng cứ chứng minh hành vi của họ là
phạm tội, nếu không đủ chứng cứ thì không thể buộc tội và truy cứu TNHS
họ. Vì vậy, để có chứng cứ chứng minh hành vi của ngời nào đó là tội
phạm, nhà nớc thành lập ra các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ chứng
minh tội phạm. ở nớc ta, các cơ quan đó là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Toà án. Bị can, bị cáo có quyền đa ra những chứng cứ chứng minh mình
vô tội hoặc có quyền đa ra các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với họ, nhng
đây không phải là nghĩa vụ của họ.
Để làm sáng tỏ vụ án hình sự, ngoài nghĩa vụ chứng minh của các
cơ quan THTT, thì đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những ngời tham gia
tố tụng và các chủ thể khác. Tuy nhiên sự tham gia của các chủ thể này
không phải là họ có trách nhiệm chứng minh vụ án mà là họ có trách nhiệm
cung cấp những tài liệu, thông tin liên quan đến vụ án và cơ quan THTT có
thể sử dụng những tài liệu, thông tin này làm chứng cứ chứng minh trong vụ
án hình sự.
1.1.3. Đối tợng chứng minh trong tố tụng hình sự
ở phơng diện chung nhất thì toàn bộ thực tiễn khách quan là đối t-
chứng minh nó.
Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình
tiết khác có liên quan đến vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải
chứng minh trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng ming trong bất
kỳ vụ án nào. Hoặc có những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát
sinh những hoạt động tố tụng có liên quan. Chẳng hạn nh: những tình tiết là
căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam chỉ phải chứng minh nó khi các cơ quan
THTT áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo.
Đối tợng chứng minh trong TTHS - là nội dung chính của Luận văn
nên những vấn đề liên quan đến nó sẽ tiếp tục đợc làm rõ ở một số mục tiếp
theo của Luận văn.
1.1.4. Qúa trình chứng minh
Trong TTHS, chứng minh đợc hiểu là việc sử dụng các chứng cứ để làm
sáng tỏ bản chất và các tình tiết của vụ án. Trong quá trình chứng minh vụ án
hình sự bao gồm các bớc sau: phát hiện, thu thập, kiểm tra, và đánh giá chứng
cứ.
Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện tợng, tài liệu có
mang dấu vết, thông tin liên quan đến vụ án hình sự. Việc phát hiện chứng
cứ đợc tiến hành bằng nhiều biện pháp do luật TTHS quy định nh: Khám
nghiệm hiện trờng, xác minh sự việc
Thu thập chứng cứ là việc ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ
của các cơ quan THTT làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh.
Việc thu thập chứng cứ do những chủ thể đợc luật TTHS quy định tiến hành
bằng những biện pháp cũng do luật TTHS quy định.
Kiểm tra chứng cứ là việc xem xét xác định tính xác thực, tính
khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của chứng cứ. Chỉ những tài
liệu đã đợc kiểm tra và có các đặc điểm của chứng cứ thì mới đợc coi là
chứng cứ để sử dụng chứng minh vụ án. Việc tiến hành kiểm tra chứng cứ
đợc tiến hành bằng các biện pháp nh: phân tích từng thuộc tính của chứng
cứ xem các thuộc tính đó có phù hợp với thực tế khách quan hay không, có
đầu vào đá nếu tay họ không bị bỏng hoặc đầu không bị chảy máu thì họ
đợc coi là vô tội, còn ngợc lại thì họ bị coi là thủ phạm. Hoặc quan toà tổ
chức cho ngời bị tố cáo và ngời tố cáo quyết đấu, chiến thắng đợc coi là
chứng cứ có giá trị nhất và ngời chiến thắng đợc Toà án tuyên không có tội
hoặc lời xám hối của các Con chiên về các hành vi tội lỗi của mình trớc bề
trên đợc coi là chứng cứ buộc tội. Từ những điều trên, cho thấy quan
điểm duy tâm, tôn giáo về chứng cứ là sự thể hiện t tởng thần quyền
của các nhà nớc thời trung cổ, nó không mang tính khoa học, trái với
quy luật khách quan.
Quan điểm về chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo coi lời tố
cáo của một ngời nào đó chính là chứng cứ buộc tội đối với ngời bị tố cáo.
Nếu ngời bị tố cáo không có chứng cứ hoặc không có khả năng bác bỏ lời
tố cáo thì họ sẽ bị coi là phạm tội. Lời nhận tội của ngời bị tố cáo đợc coi là
chứng cứ có giá trị nhất, nên quan toà thờng áp dụng cực hình đối với ngời
bị tố cáo để họ nhận tội. Vì vậy, chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo
thể hiện sự đơn giản hoá trong việc chứng minh vụ án hình sự, thờng dẫn
đến sự đánh giá sai lệch, không khách quan của quan toà khi giải quyết vụ
án hình sự.
Trong trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn lại có quan điểm hình thức về
chứng cứ. Theo đó, hệ thống chứng cứ là một loạt các quy tắc đợc quy định
trớc trong luật, có tính chất bắt buộc đối với các cơ quan THTT khi giải
quyết vụ án hình sự. Cụ thể, những gì là chứng cứ để chứng minh tội phạm
và đối với mỗi loại tội phạm thì cần chứng cứ gì, số lợng bao nhiêu đều đợc
quy định sẵn trong luật. Các cơ quan THTT chỉ cần tìm đủ số lợng và chủng
loại chứng cứ đợc quy định trong luật đối với loại tội phạm đó mà họ không
cần phải tìm thêm chứng cứ nào khác khi kết luật tội phạm, ngợc lại khi
không tìm đủ số lợng và chủng loại chứng cứ mà luật đã quy định thì không
có căn cứ kết luận tội phạm. Quan điểm hình thức về chứng cứ tuy hạn chế
đợc sự tuỳ tiện của các cơ quan tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự, nhng
nó cũng buộc lộ nhiều hạn chế nh: hạn chế khả năng thu thập, phân tích,
ánh. Với thuộc tính phản ánh của sự vật nên mọi hoạt động của con ngời
trong đó các hành vi phạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan.
Dấu vết của hành vi phạm tội có thể đợc thể hiện dới dạng vật chất nh: Dấu
vết trên công cụ, phơng tiện phạm tội, dấu trên để lại trên hiện trờng hoặc
đợc phản ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con ngời, có thể là nạn nhân hay
nhân chứng. Từ việc thu thập đầy đủ, có hệ thống các dấu vết này con ngời
có thể nhận thức đợc diễn biến của hành vi phạm tội đã xảy ra. Chính từ việc
dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, nên khoa học
luật TTHS của các nớc đi theo con đờng XHCN đã xác định chứng cứ là
những tài liệu thực tế, là những gì có thật để chứng minh tính chân lý của vụ
án.
Khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1988 cũng nh Khoản 1 Điều 64
BLTTHS năm 2003 của nớc ta quy định: Chứng cứ là những gì có thật, đợc
thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi
phạm tội, ngời thực hiện hành vi phạm tội cũng nh những tình tiết khác cần
thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Theo quy định trên cho thấy chứng cứ có các đặc điểm sau:
1/ Tính khách quan: Tức là những tài liệu, sự vật, hiện tợng là chứng
cứ phải có thật tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con ngời.
2/ Tính liên quan: Tức là những sự vật, hiện tợng có thật, tồn tại
khách quan chỉ đợc coi là chứng cứ khi có liên quan đến vụ án, khi nó
chứng minh cho vấn đề cần biết nhng cha biết trong vụ án hình sự.
3/ Tính hợp pháp: Tức là chứng cứ đợc chứa đựng ở những nguồn và
thu thập bằng biện pháp do luật TTHS quy định.
Theo quy định của luật TTHS Việt Nam thì chứng cứ đợc phản ánh
và chứa đựng trong các nguồn sau: vật chứng; lời khai của ngời làm chứng,
ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan đến vụ án, ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận
giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật
tất cả các tình tiết, các vấn đề của sự việc phạm tội xảy ra trên thực tế, cũng
nh không phải tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án mà chỉ cần chứng minh
những vấn đề có ý nghĩa để làm rõ nội dung, bản chất của vụ án. Những vấn
đề liên quan đến TNHS của ngời phạm tội và các vấn đề cần thiết khác liên
quan đến vụ án để trên cơ sở đó các cơ quan THTT ra đợc các quyết định
phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án và đề ra biện pháp thích hợp để
phòng ngừa tội phạm.
Vụ việc phạm tội xảy ra trên thực tế rất đa dạng, chúng có thể khác
nhau về tính chất, mức độ, hoàn cảnh Nhng mọi tội phạm đều có bản
chất chung và việc giải quyết vụ án cũng nh việc xử lý ngời phạm tội đều có
những nguyên tắc chung, nên chúng ta vẫn có thể rút ra đợc những vấn đề
chung nhất mà khi giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào cũng phải chứng
minh đó là những vấn đề thuộc về bản chất của vụ án và những vấn đề liên
quan đến việc xác định TNHS của ngời phạm tội và những vấn đề cần phải
chứng minh này đợc quy định trong luật TTHS. Ngoài ra luật TTHS còn
quy định phải chứng minh những vấn đề liên quan khác có ý nghĩa đối với
việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, tuy nhiên không phải vụ án hình sự
nào cũng đòi hỏi phải chứng minh đầy đủ các vấn đề này, mà tuỳ thuộc vào
từng vụ án cụ thể sẽ đặt ra yêu cầu phải chứng minh những vấn đề cụ thể gì
có liên quan và để giải quyết đúng đắn vụ án đó, theo đúng quy định của
luật hình sự và luật TTHS
ở đây, cũng cần lu ý rằng những vấn đề luật TTHS quy định bắt
buộc phải chứng minh là giống nhau chung cho các vụ án hình sự, nhng các
tình tiết trong vụ án cụ thể mà các tình tiết này cấu thành vấn đề chứng
minh là khác nhau. Chẳng hạn luật TTHS quy định bắt buộc phải chứng
minh: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không Nhng tình tiết trong hành vi
phạm tội ở mỗi vụ án cụ thể là khác nhau.
Trong TTHS, nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan THTT, ngời THTT
là không những nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
ngừa tội phạm.
Theo chúng tôi một khái niệm đầy đủ về đối tợng chứng minh trong
TTHS phải thể hiện đợc đầy đủ các đặc điểm trên. Nhng qua nghiên cứu nội