TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP
Nhóm 2
Lớp DS38A1
MÔN HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THI HÀNH ÁN
HỒ SƠ SỐ 01: NGUYỄN THỊ THỊNH MUA BÁN TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY
A.
Tình tiết vụ án
I.
Hồi 17h45’ ngày 25/10/(x), Trần Văn Năm và Nguyễn Nhật Vũ là đối
tượng nghiện ma túy đã tới nhà Nguyễn Thị Thịnh mua heroin. Khi tới nhà
Thịnh chỉ có mình Thịnh ở nhà. Vũ đã đưa 50.000đ cho Thịnh để mua 2 gói
heroin, Năm cũng đưa cho Thịnh 25.000đ để mua 1 gói heroin. Số thuốc trên
trước khi bán cho Năm và Vũ đã được Thịnh cất giấu trên bờ tường vào nhà
mình. Sau đó, Năm và Vũ vào buồng ngủ nhà Thịnh định hút thì cảnh sát hình
sự công an quận Hoàn Kiếm ập tới bắt giữ cùng số heroin vừa mua của Thịnh
trong người Năm, Vũ.
Tại trụ sở công an điều tra, Năm và Vũ khai nhận số thuốc heroin trong
người là vừa mua của thị Thịnh để hút. Trước đó cả 2 đã nhiều lần tới nhà thị
Thịnh đặt đồ tài sản đổi lấy heroin hút. Còn Thịnh thì phủ nhận việc mình buôn
bán ma túy. Về sau Nguyễn Nhật Vũ có gửi thư cho Thịnh nói về việc Năm sắp
đặt hãm hại chị. Thư này đã được Thịnh gửi tới cơ quan điều tra để kháng cáo.
Những đối tượng cần chứng minh
khách thể và chủ thể của tội phạm. Xác định được đúng bốn yếu tố này sẽ giúp
xác định được hành vi của đối tượng Thịnh trong vụ án này có phạm tội hay
không.
a.
Mặt khách quan
Trong vụ án này, Thịnh đã có hai hành vi được cơ quan điều tra xác định
tương ứng với hai tội phạm được quy định trong BLHS: Hành vi mua bán trái
phép chất ma túy (Điều 194) và Hành vi tổ chức sử dụng ma túy (Điều 197).
Hành vi cụ thể của Thịnh trong vụ án này là tàng trữ ma túy (giấu trên bờ
tường nhà mình) và bán cho Năm và Vũ; đồng thời Thịnh còn cho Năm và Vũ
sử dụng phòng ngủ của mình để làm nơi sử dụng chất ma túy. Hành vi này của
Thịnh chỉ được mô tả theo lời khai của Năm và Vũ, cho nên cần chứng minh
được Thịnh có thực tế thực hiện các hành vi này hay không.
Các hành vi này được thực hiện tại nhà của Thịnh vào thời điểm Thịnh chỉ
có một mình ở nhà. Thời điểm thực hiện hành vi này có ảnh hưởng gì đối với
hành động phạm tội của Thịnh. Đây cũng là một vấn đề cần phải xem xét.
b.
Khách thể của tội phạm
Hành vi của Thịnh trong vụ án này đã xâm phạm đến chế độ quản lý các
chất ma túy của Nhà nước. Đối tượng phạm tội trong vụ án này là 0,1298 gam
heroin.
Trong vụ án trên, cơ quan điều tra cần phải chứng minh được 0,1298 gam
heroin ấy thuộc sở hữu của ai, nguồn gốc có được của nó. Từ đó mới có thể xác
định được tội phạm trong vụ án này.
c.
minh.
Theo như trong vụ án này, cơ quan tiến hành tố tụng không nêu bất kỳ tình
tiết tăng nặng cũng như tình tiết giảm nhẹ nào, cũng không hề đưa trường hợp
của Thịnh ra xem xét các tình tiết liệu có đảm bảo đúng quyền lợi của Thịnh.
Chị Thịnh là người có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự lại đang
nuôi con nhỏ 1 tuổi. Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc Tòa án định tội
cho chị. Đồng thời cũng cần xác định được các vấn đề khác như trình độ nhận
thức và hiểu biết pháp luật của Thịnh. Điều này cũng có thể ảnh hưởng không
nhỏ đến hành vi của Thịnh và quá trình truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố
tụng.
3
Nhóm 2
Lớp DS38A1
Đối tượng chứng minh có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng
đắn vụ án
3.
Xét trong mối quan hệ giữa chị Thịnh và Năm - Vũ thì Năm hiện đang có
mâu thuẫn với anh Hùng, là chồng chị Thịnh, vì anh không cho Năm mượn thêm
tiền. Vậy mâu thuẫn này có thể ảnh hưởng đến vụ án như thế nào?
Liệu mâu thuẫn ấy có dẫn đến việc Năm, Vũ tạo dựng hiện trường để đổ tội
cho Thịnh hay khai báo gian dối để hãm hại Thịnh. Đây cũng là một vấn đề rất
quan trọng cần chứng minh.
Khả năng làm sáng tỏ đối tượng chứng minh dựa trên chứng cứ được
thu thập trong vụ án
2015.
e.
Các tài liệu, đồ vật khác
Các đồ vật này do Thịnh mang đến giao nộp cho cơ quan điều tra, bao gồm:
03 tờ giấy bạc kích thước 5x10cm; 01 vỏ bút bi bằng nhựa màu trắng dài khoảng
10cm, có chữ AC QUY Đồng Nai, màu đỏ; 70.000đ (Bảy mươi ngàn đồng, gồm
1 tờ 10.000đ và 12 tờ 5.000đ); 01 bật lửa màu xanh.
Các chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được hoàn toàn không đủ
làm sáng tỏ đối tượng điều tra trong vụ án này.
Vì các vật chứng cũng như đồ vật khác đều là những vật nhỏ gọn, dễ che
dấu và vận chuyển, nên không thể xác định được là do Thịnh cất giấu hay Năm,
Vũ mang đến nhà Thịnh. Lời khai của các bên cũng không đồng nhất với nhau,
4
Nhóm 2
Lớp DS38A1
nên cũng không thể dựa vào lời khai để xác định tội phạm. Các biên bản giám
định, điều tra cũng không thể làm căn cứ xác định tội phạm.
Trong vụ án này, hoàn toàn không có bất kỳ chứng cứ đáng tin cậy nào
chứng minh hành vi phạm tội của Thịnh. Không cho thấy được hành vi phạm tội
của Thịnh. Như việc Thịnh dấu heroin ở vị trí nào trên tường? Tại sao không ai
phát hiện ra? Lúc mua bán Năm, Vũ đã đưa cho Thịnh những tờ tiền có mệnh
giá bao nhiêu? Vì sao tổng giá trị của 3 gói heroin là 75 ngàn đồng theo lời khai
của Năm và Vũ, nhưng hiện trường chỉ thu giữ được 70 ngàn đồng? Vì sao cảnh
sát biết được Thịnh có mua bán ma túy và tới đúng thời điểm Năm, Vũ sử dụng
vệ đang làm nhiệm vụ bắt giữ thu tang vật trong tay Giầu gồm 01 đèn pin và 01
thanh sắt. Trong quá trình điều tra thông qua lời khai của Trần Trung Hiếu, cơ
quan điều tra xác định được: Trước đó vào ngày 18-9-(x), Giàu mượn của anh
Trịnh Minh Toàn 1 kìm cộng lực nói dối để dùng việc gia đình, tuy nhiên
khoảng 21 giờ ngày 27/9/(x) Hiếu và Giầu đã vào nhà anh Trần Mậu Lân ở Học
viện Nguyễn Ái Quốc ở Từ Liêm – Hà Nội dùng kìm cộng lực cắt khoá cửa lấy
trộm được 01 chiếc xe đạp mini Nhật giá 1.490.000đ, hai tên đem bán cho người
không quen biết được 530.000đ ăn tiêu hết. Khoảng 24 giờ ngày 2/10/(x) Hiếu,
5
Nhóm 2
Lớp DS38A1
Giầu vào nhà anh Hoàng Minh Hùng ở 36c Vĩnh Phúc III, Ngọc Hà, Ba Đình cắt
khoá lấy được 1 xe đạp mini Nhật trị giá 1.500.000đ. Chúng đem bán cho người
không quen biết được 515.000đ. Như vậy, mặc dù hành vi trộm cắp tài sản chưa
hoàn thành tại thời điểm bắt giữ nhưng 2 người đã có hành vi trộm cắp tài sản
trước đó đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm theo hình thức phạm tội nhiều
lần.
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội thì Hiếu và Giầu đã sử dụng lực
đã cũ, 01 đoạn sắt dài khoảng 30 cm. Ngoài ra còn có 01 đèn pin (2 quả pin). Cả
hai người tiến hành trộm cắp theo phương pháp thủ đoạn phạm tội là xem ai có
sơ hở tài sản gì thì tìm mọi cách để trộm cắp.
b.
Khách thể của tội phạm
Hành vi trộm cắp tài sản của Hiếu và Giầu đã xâm phạm đến quan hệ sở
được thực hiện dưới dạng đồng phạm, cả 2 người có sự liên kết phối hợp chặt
chẽ cho nhau trong quá trình thực hiện tội phạm. Có sự lên kế hoạch trong việc
thực hiện bằng việc chuẩn bị các công cụ phương tiện phạm tôi như lực đã cũ,
01 đoạn sắt dài khoảng 30 cm… Mặt khác, hành vi trộm cắp tài sản được thực
hiện dưới dạng phạm tội nhiều lần, bởi trước đó cả 2 đã thực hiện tội trộm cắp
lấy đi 2 chiếc xe đạp (mỗi lần 1 chiếc), và tại thời điểm bị bắt là lần thứ 3 mà cả
Hiếu và Giầu thực hiện. Tuy nhiên, việc trộm cắp tài sản lần 3 này diễn ra ở giai
6
Nhóm 2
Lớp DS38A1
đoạn phạm tội chưa đạt do cả 2 chưa trộm được tài sản nào do nguyên nhân
ngoài ý muốn.
b.
Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Đối với bị can Giầu: có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g
khoản 1 Điều 52 BLHS về phạm tội 02 lần trở lên và điểm o khoản 1 Điều 52
BLHS 2015 về xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể là Giầu đã xúi giục
Hiếu đi trộm cắp mà Hiếu là người dưới 18 tuổi.
Đối với bị can Hiếu: có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s
khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 cụ thể là Hiếu đã thành khẩn khai báo tại cơ quan
chức năng trong khi Giầu cố tình không thừa nhận hành vi phạm tội.
c.
Thứ tư là về nguyên nhân và điều kiện phạm tội: do ba mẹ ly dị tâm lý chán
chường đã khiến Hiếu bỏ nhà đi, thoát khỏi sự quản lý của gia đình, bản thân là
7
Nhóm 2
Lớp DS38A1
người chưa thành niên lại chưa có việc làm nên Hiếu không có tiền, chính vì vậy
đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhằm để bán tài sản lấy tiền tiêu xài.
Dựa vào những phân tích ở trên về những vấn đề cần được chứng minh
trong vụ án hình sự cho ta thấy rằng những chứng cứ được thu thập trong vụ án
trên đã đủ để làm sáng tỏ những vấn đề thuộc đối tượng chứng minh. Vì căn cứ
theo tình tiết vụ án và phân tích trên cho ta thấy rằng đối tượng chứng minh
trong vụ án hình sự là một hệ thống các tình tiết có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Qua việc phân tích và làm rõ các vấn đề thông qua ba nhóm trên giúp ta
làm sáng tỏ đối tượng chứng minh và những chứng cứ thu thập được trong bản
án thoả mãn các thuộc tính của chứng cứ và được dùng như một phương tiện
chứng minh để làm rõ các vấn đề trong các nhóm trên. Do đó những chứng cứ
được thu thập đã đủ làm sáng tỏ những vấn đề thuộc đối tượng chứng minh.
HỒ SƠ SỐ 6: VỤ ÁN NGUYỄN THANH HOÀNG GIẾT NGƯỜI
C.
I.
Tóm tắt vụ án
Bị can Nguyễn Thanh Hoàng – sinh năm 1968 và Hồ Minh Lợi (tự Tràng)
sinh năm 1975 cùng ngụ: Ấp Chợ Cũ, TT Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh
Nhóm 2
1.
Lớp DS38A1
-
Nhóm những vấn đề thuộc về bản chất của vụ án (Yếu tố cấu thành tội
phạm);
-
Nhóm vấn đề ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt;
-
Nhóm vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án
Nhóm yếu tố cấu thành tội phạm:
a.
Mặt khách quan:
Trong vụ án trên, Nguyễn Thanh Hoàng đã có những hành vi dùng dao làm
cho Hồ Minh Lợi chết tại chỗ, cụ thể là sau khi giữa Hoàng và Lợi xảy ra xô xát
thì Hoàng đã chạy vào nhà lấy con dao chét ra chém nhiều nhát vào cơ thể Lợi
cho đến khi Lợi bất tỉnh, sau đó Hoàng dùng dao cắt đứt cổ họng của Lợi làm
Lợi chết ngay tại chỗ. Hành vi này cấu thành Tội giết người quy định tại Điều
93 BLHS, thời gian là vào lúc 13h50p ngày 01 tháng 9 năm x, địa điểm là sân
tới lớp 5
Hoàn cảnh phạm tội: Hành vi gây rối với vợ của Hoàng đã được Lợi thực
hiện nhiều lần trước đây, đối với cả vợ trước và vợ sau của Hoàng, thậm chí Lợi
còn có ý định giao cấu với con gái lớn của Hoàng. Hoàng đã nhiều lần nói với
Lợi nhưng Lợi vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đồi bại của mình, thậm chí còn
đánh Hoàng nhiều lần. Trong lần Lợi đến gây rối và xảy ra án mạng thì Hoàng
đã bị Lợi đánh và Hoàng bỏ chạy, tuy nhiên Lợi đã đánh cả vợ, mẹ của Hoàng
và những người xung quanh. Chủ đích ban đầu của Hoàng không có ý định giết
9
Nhóm 2
Lớp DS38A1
người nhưng do lúc quá căm phẫn vì hành vi của Lợi đã lặp lại nhiều lần, dồn
nén lâu ngày trong Hoàng nên đã bộc phát. Đây là tình tiết có ảnh hưởng nhiều
nhất đến vụ án và rất quan trọng.
Các yếu tố về các nhát chém của Hoàng, vị trí của nhát chém và tính chất,
hậu quả của nhát chém gây ra.
Nguyễn Thanh Hoàng đã đến công an để tự thú, thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cãi. Do đó, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ của vụ án.
Con dao mà Hoàng đã dùng để gây án: độ sắc bén, những hung khí còn lại
trong nhà và việc bị can lựa chon hung khí nào để gây án.
3.
Nhóm đối tượng chứng minh có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vụ
án:
Lời khai của các đương sự, người làm chứng, kết quả giám định pháp y
can và nhân chứng trùng khớp, kết quả giám định cũng thể hiện rõ hành vi phạm
tội của anh Hoàng.
10