Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25


1

đại học quốc gia hà nội
khoa luật

bùi mạnh c-ờng

gắn công tố với hoạt động điều tra
trong tố tụng hình sự theo tinh thần
nghị quyết đại hội đảng lần thứ x -
một số vấn đề lý luận và thực tiễn

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2012

Hà nội - 2012
3
MỤC LỤC
Trang

Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1:

5
1.1.
Khái niệm về điều tra và công tố
5
1.1.1.

31
1.3.3.

34

Chương 2:
40

4
NAY (SỐ LIỆU 5 NĂM: TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010)
2.1.
Mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra theo quy
định của luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
40
2.2.
Những kết quả đạt được trong việc giải quyết mối quan hệ
giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra vụ
án hình sự và nguyên nhân của những kết quả đạt được
51
2.2.1.
giữa công tố
án hình sự
51
2.2.2.
Nguyên nhân của những kết quả đạt được
58
2.3.
Một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết
mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn
điều tra vụ án hình sự và nguyên nhân của những hạn chế,

3.4.
Nâng cao ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức; tăng cường
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên
90
3.5.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho
các đơn vị làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố; đổi mới
cơ chế tiền lương, chính sách đối với cán bộ, Kiểm sát viên
95
3.6.
Tăng cường mối quan hệ phối hợp, chế ước giữa Viện kiểm
sát và cơ quan điều tra trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm; tăng cường quan hệ phối hợp giữa các đơn vị thực
hành quyền công tố với các đơn vị thực hiện các khâu công
tác khác trong ngành
99
3.7.
Nâng cao chất lượng hoạt động tương trợ tư pháp hình sự;
tăng cường quan hệ với với các nước có nền công tố mạnh
để trao đổi, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm thực hành
quyền công tố
102
3.8.
Những giải pháp cụ thể trong hoạt động nghiệp vụ
103
3.9.
Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003 để cụ thể hóa chủ trương gắn công tố với hoạt
động điều tra
110

: Điều tra viên
KSV
: Kiểm sát viên
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao 7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của
Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện kiểm sát (VKS) đã đạt được nhiều thành
tích đáng kể, chất lượng điều tra, truy tố tội phạm đã có những chuyển biến rõ
rệt và tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn để xảy ra hiện tượng oan, sai hoặc bỏ lọt
tội phạm; vẫn còn những trường hợp khởi tố, bắt, giam giữ không đúng pháp
luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
vẫn còn những hiện tượng vi phạm pháp luật tố tụng hình sự của CQĐT, VKS.
Một trong những nguyên nhân đó là tình trạng "cắt khúc" trong tố tụng hình sự,
cơ chế gắn trách nhiệm công tố với hoạt động điều tra còn chưa được xác định
một cách rõ ràng; nhiều quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)
chưa hợp lý gây ra khó khăn, vướng mắc, bất cập cho VKS trong quá trình
thực hiện chức năng công tố ở giai đoạn điều tra, chưa đảm bảo "thực quyền"
công tố, hiệu lực các quyết định công tố của VKS trên thực tế.
Nhận thức của một số Kiểm sát viên (KSV) ngành Kiểm sát nhân dân
về chức năng công tố, về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKS khi thực hành

số sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, đề cập như cuốn "Thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" do TS. Lê
Hữu Thể chủ biên; Chuyên đề "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt
động điều tra" do Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự
xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) thực hiện; GS.TSKH Lê
Cảm có bài "Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố (nhìn nhận từ
góc độ Nhà nước pháp quyền)"; TS. Trần Văn Độ có bài "Một số vấn đề về
quyền công tố"; TS. Trần Đình Nhã đề cập đến "Chức năng công tố của Viện
kiểm sát nhân dân, mối quan hệ giữa việc thực hiện quyền công tố với các
hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử" Ngoài ra, còn một số bài viết

9
khác của các tác giả đăng tải trên Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, cũng đề
cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến mối quan hệ giữa công tố và điều tra.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ
thống, nghiên cứu sâu về chủ trương gắn công tố với hoạt động điều tra để
nâng cao chất lượng điều tra, truy tố theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này
có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và
thực tiễn mối quan hệ giữa công và hoạt động điều tra; so sánh, đối chiếu với
luật pháp một số quốc gia trên thế giới; nghiên cứu lịch sử mối quan hệ giữa
công tố với điều tra từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; phân
tích những kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn vướng mắc trong mối
quan hệ giữa công tố và điều tra hiện nay và nguyên nhân của kết quả, hạn
chế; tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường việc gắn công tố với
hoạt động điều tra, kiến nghị sửa đổi một số quy định của BLTTHS năm
2003, góp phần đảm bảo hoạt động điều tra, truy tố được khách quan, toàn
diện, đúng pháp luật.

Chương 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều
tra tại Việt Nam (số liệu 5 năm: từ năm 2006 đến năm 2010).
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực
hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra.

11
Chương 1

HOẠT ĐỘNG

1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐIỀU TRA VÀ CÔNG TỐ
1.1.1 đ u tra
Trong các văn bản luật hiện nay của Việt Nam chưa có khái niệm
pháp lý về "điều tra", đồng thời cũng chưa được giải thích chính thức bởi các
cơ quan có thẩm quyền. Trong BLTTHS cũng như các văn bản hướng dẫn thi
hành chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về điều tra.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng tồn tại các quan điểm khác
nhau về điều tra, theo Từ điển Luật học: "Điều tra là công tác trong tố tụng
hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ" [30].
Theo cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay, điều tra là hoạt động
của CQĐT trong điều tra vụ án hình sự, là tổng hợp tất cả các hành vi thực
hiện trong giai đoạn điều tra do CQĐT thực hiện.
"Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự,
trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng
hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi
phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy
tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án" [3].
hoặc: "Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong
giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình

phải áp dụng mọi biện pháp của BLTTHS quy định. Thực tiễn cho thấy,
không có BLTTHS nào có thể liệt kê tất cả các biện pháp và những phương
tiện có thể áp dụng trong quá trình điều tra để khám phá thủ phạm mà chỉ quy

13
định phạm vi chung nhất những biện pháp và phương tiện đó. Do đó, quá
trình điều tra, CQĐT ngoài áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật
còn phải áp dụng các biện pháp khác phù hợp với pháp luật.
Đặc biệt lưu ý, pháp luật yêu cầu CQĐT phải áp dụng mọi biện pháp
do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi tội
phạm. Điều này có nghĩa là, trong quá trình điều tra, nếu có cơ sở, CQĐT cần
phải áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội. Thực tiễn cho thấy, không hiếm trường hợp
VKS trả lại hồ sơ vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung do CQĐT chưa áp dụng hết
các biện pháp theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người thực
hiện hành vi phạm tội. Như vậy, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ đảm bảo tính
đầy đủ, tính toàn diện của hoạt động điều tra, giúp cho CQĐT tranh được
những sai lầm, thiếu sót. Đồng thời, trong quá trình điều tra, CQĐT cũng cần
áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
CQĐT không chỉ tiến hành điều tra tất cả những tội phạm xảy ra mà
còn phải xác định được tội phạm người thực hiện hành vi phạm tội là nhiệm
vụ của giai đoạn điều tra. Như vậy, xác định tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội vừa là nhiệm vụ của CQĐT vừa là tiêu chí để đánh giá hiệu
quả của hoạt động điều tra. Bởi vì, chỉ sau khi xác định được tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội. CQĐT mới lập hồ sơ để đề nghị truy tố
người thực hiện hành vi phạm tội. Xác định được tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội cũng có nghĩa là đã khám phá tội phạm, chứng minh làm rõ
sự thật của vụ án đã xảy ra.
Sau khi điều tra xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi
phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội đáng phải truy cứu trách nhiệm

của cuộc điều tra, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân
biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật

15
cả về nội dung, phương pháp để nắm bắt tin tức về hoạt động của các ổ nhóm
tội phạm, theo dõi và truy bắt các đối tượng phạm tội lẩn trốn, nhằm phòng
ngừa tội phạm.
Thứ hai, tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà CQĐT áp dụng các
biện pháp điều tra cho phù hợp, nhưng các vụ án điều phải trải qua những thủ
tục chung như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lập hồ sơ vụ án hình sự, đề nghị
truy tố người phạm tội hoặc đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật.
Thứ ba, phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm
vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định. Để xác
định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì CQĐT phải làm
rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan. Chẳng hạn, để xác định ai là
người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có
mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật
chứng, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng…).
Thứ tư, hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các biện
pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng ác biện pháp cưỡng
chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể; do đó
thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.
Thứ năm, trong tố tụng hình sự nước ta, hoạt động điều tra của CQĐT
phải chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của cơ quan VKS. Điều này được
thể hiện thông qua việc luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để
bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp (xét phê
chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT, yêu cầu điều tra; quyết định áp
dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của CQĐT…). Điều này khác với nhiều nước theo truyền

17
, ngay cả khi VKS kiến nghị
các cơ quan nhà nước khắc phục vi phạm pháp luật trên lĩnh vực hành chính -
kinh tế - xã hội cũng là thực hành quyền công tố , "
VKS
" [15]
K
hi VKS
3
; công t
.
Hiến pháp và các luật. Theo quy định của pháp luật nước ta trước khi Hiến
pháp năm 1992 được sửa đổi thì VKS
theo
.
Quan điểm thứ hai cho rằng, "quyền công tố là quyền của Nhà nước
giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại

18
phiên tòa (thực hiện quyền công tố)" [24]
VKS
.
Quan điểm này đã quá thu hẹp nội dung, phạm vi quyền công tố, không phản
ánh được đầy đủ bản chất của quyền này. Hoạt động truy tố và buộc tội của
VKS tại phiên tòa chỉ là một số quyền hạn của VKS
VKS
VKS
.
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố
tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự. Đó là

đồng xã hội trừng trị kẻ gian manh qua các đại diện của xã hội. Và
các Thẩm phán được giao phó nhiệm vụ xử hành công tố quyền là
những Thẩm phán công tố [27].
. Tố quyền này được gọi
là công tố quyền, có đối tượng là sự áp dụng các biện pháp hình sự (hình phạt

20
và các chế tài khác). Theo các luật gia miền Nam, về bản chất, quyền công tố
thuộc về xã hội vì chỉ có xã hội mới có quyền quyền trừng phạt. Do đó, phạm
vi quyền công tố chỉ giới hạn trong tố tụng hình sự và trước Tòa án.
Trên đây là một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố.
Mỗi quan điểm đều có những cách lý giải khác nhau, có hạt nhân hợp lý
riêng. Tuy nhiên, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật,
thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và
hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm trên đã bộc lộ một
số bất cập như hoặc là đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của VKS, dẫn đ
,
coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố người phạm tội
coi quyền công tố là
một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền
công tố là một hoạt động độc lập của VKS nhân danh quyền lực công.
Có thể thấy rằng, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình
nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ được khái niệm, bản chất,
nội dung, phạm vi của quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Đa số các tác giả đều cho rằng
hai chức năng của VKS (chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật) như pháp luật trước đây quy định vừa có tính độc lập tương
đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có

tội phạm, ngay từ giai đoạn điều tra. Những nhiệm vụ, quyền hạn có tính chất
quyết định này là quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Đây cũng là luận
điểm được thừa nhận chủ yếu hiện nay và được thể hiện trong luật thực định
của Việt Nam hiện hành.

22
Từ những nội dung được trình bày trên, chúng tôi cho rằng: Quyền
công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội do một cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện (ở nước ta là VKS)
để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu,
chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó truy tố người
phạm tội trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa.
, có thể thấy
:
.
.
.
VKS
.
công
VKS
VKS
.
1992, , BLTTHS), VKS
VKS

23
CQĐT
. Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn

ứng với từng cấp Tòa án (trừ Tòa sơ cấp). Sự phát triển của ngành Công tố từ
năm 1945 đến trước năm 1958 (trước khi thành lập Viện Công tố độc lập) chủ
yếu gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Tòa án. Các
Thẩm phán của Công tố Viện (Thẩm phán buộc tội) do Chưởng lý đứng đầu.
Các Thẩm phán buộc tội hợp thành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm
phán xử án và duy nhất đặt dưới quyền quản lý của Chưởng lý. Chưởng lý giữ
toàn quyền công tố tức là các thẩm phán buộc tội thực hiện sự ủy quyền của
Chưởng lý. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền ra lệnh cho Chưởng lý nhưng
không được phép hành động thay Chưởng lý (các điều 49,51 Sắc lệnh 13).
Các Thẩm phán buộc tội tại Tòa án đệ nhị cấp được gọi là Biện lý,
Biện lý có các quyền: Nhận đơn khởi tố của tư nhân, biên bản về những việc
vi phạm do Ban tư pháp cảnh sát lập; điều khiển hoạt động và giám sát hoạt
động của Ban tư pháp cảnh sát trong quản hạt của mình, đình cứu, tạm đình
cứu hoặc miễn tố theo thẩm quyền; đưa vụ việc ra phiên tòa để xét xử hoặc
đưa vụ việc sang phòng dự thẩm để thẩm cứu (điều tra) (Điều 21 Sắc lệnh
51/SL); thực hành quyền công tố, truy tố bị can ra trước Tòa và buộc tội bị
can tại phiên tòa (đưa ra tất cả các bằng chứng, triệu tập nhân chứng và đương
sự đôi bên ra Tòa - Điều 23 Sắc lệnh 51/SL); Kháng cáo mệnh lệnh của Dự
thẩm (Điều 24 Sắc lệnh 51/SL); Tổ chức thi hành cấp tốc những mệnh lệnh
của Chánh án tại phiên tòa. Thi hành những bản án đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án (Điều 29 Sắc lệnh 51/SL).
Như vậy, trong thời kỳ này mặc dù cơ quan Công tố được tổ chức
trong hệ thống Tòa án, nhưng hoạt động của cơ quan Công tố hoàn toàn độc
lập với hoạt động xử án của Tòa án. Việc giải quyết truy tố hay không truy tố
cũng như việc quản lý các Thẩm phán buộc tội hoàn toàn thuộc thẩm quyền

25
của người đứng đầu Công tố viện (Chưởng lý). Mối quan hệ độc lập này càng
được khẳng định rõ tại Điều 17 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946:
"Ông Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status