Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN VIẾT KIÊN
C¥ QUAN §IÒU TRA CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N -
Mét sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Trần Viết Kiên MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU
TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 9
1.1. Những vấn đề chung về Viện kiểm sát nhân dân 9
1.1.1. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân 9

2.2. Thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
nhân dân 63
2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc 63
2.2.2. Những hạn chế, vƣớng mắc 73
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc 75
2.3.1. Những nguyên nhân khách quan 75
2.3.2. Những nguyên nhân chủ quan 78
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 80
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN 82
3.1. Sự cần thiết phải tiếp tục tổ chức Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân 82

3.2. Những giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Cơ
quan điều tra viện kiểm sát nhân dân 90
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật 90
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân 95
3.2.3. Đẩy mạnh công tác hƣớng dẫn và áp dụng pháp luật 98
3.2.4. Tăng cƣờng cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động cho Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân, các chế độ chính sách đãi ngộ
phù hợp đối với cán bộ, điều tra viên 99
3.2.5. Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng 99
3.2.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hoạt động của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát nhân dân 100
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

năm gần đây (2009 – 2014)
66
Bảng 2.3:
Bảng phân tích số liệu khởi tố, thụ lý, điều tra tội phạm
xâm phạm hoạt động tƣ pháp của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân trong 5 năm gần đây (2009 – 2014)
67
Bảng 2.4:
Bảng phân tích kết quả, điều tra, xử lý tội phạm xâm
phạm hoạt động tƣ pháp của Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát nhân dân trong 5 năm gần đây (2009 – 2014)
68 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử tƣ pháp hình sự của Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy
các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 (sửa đổi năm 2001) và Hiến pháp
năm 2013, đều khẳng định chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan
thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật. Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 và năm 2014 quy định về tổ
chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, trong đó Cơ quan
điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận không thể tách rời trong
cơ cấu tổ chức và trong chỉnh thể thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện
kiểm sát nhân dân.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ quy định tổ chức hai Cơ
quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, đó là ở Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và ở Viện kiểm sát Quân sự trung ƣơng. Về phạm vi thẩm quyền cũng có

chức năng công tố của Viện kiểm sát nhân dân. Tất cả những vấn đề này là
nguyên nhân làm giảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm nói chung và tội phạm xâm phạm hoạt động tƣ pháp nói riêng.
Trƣớc đòi hỏi đó, việc nghiên cứu về sự cần thiết của CQĐT Viện kiểm
sát cũng nhƣ địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động, thẩm quyền điều tra, nhất là
phạm vi thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra này là hết sức cần thiết. Vì
vậy, để góp phần thực hiện cải cách tƣ pháp, triển khai thi hành Hiến pháp
2013 học viên lựa chọn đề tài: “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân
dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, khoa học luật tố tụng hình sự là một trong những ngành

3
khoa học pháp lý phát triển so với các ngành khoa học pháp lý khác. Về Cơ
quan điều tra đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, nhiều luận văn thạc
sỹ hay luận án tiến sỹ nghiên cứu nhƣng mới tập trung nghiên cứu về Cơ quan
điều tra trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân hay các luận văn
nghiên cứu về khía cạnh nào đó đề cập đến Cơ quan điều tra của Viện kiểm
sát nhân dân. Nhƣng các công trình khoa học nghiên cứu tổng thể về Cơ quan
điều tra của Viện kiểm sát nhân dân còn rất hạn chế, hoặc đã không còn tính
lịch sử mà chủ yếu là các nghiên cứu dƣới một hay nhiều khía cạnh khác nhau
về vấn đề này nhƣ: “Quá trình hình thành và phát triển của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân tối cao qua các thời kỳ” – Lại Thị Loan, Tạp chí
Kiểm sát số 11 – tháng 6/2012; “Địa vị pháp lý và thẩm quyền của Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” – Lại Hồng Thanh, Tạp chí Kiểm sát
số 11 – tháng 6/2011; “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng két công
tác thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” – Nguyễn Tiến Sơn, Tạp chí kiểm sát số
11 – tháng 6/2012; “Quyền điều tra của Viện kiểm sát và sự cần thiết phải
giao trách nhiệm điều tra tội phạm về chức vụ, tham nhũng cho Cơ quan điều

kiểm sát nhân dân ở một khía cạnh rất hẹp. Vì vậy, các bài viết nghiên cứu
khoa học, các đề tài cấp độ thác sỹ về chế định Cơ quan điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân trong khuôn khổ phạm vi hẹp, thời gian nghiên cứu đến
nay đã có những thay đổi, phát sinh nên việc nghiên cứu và mở rộng đề tài là
điều cần thiết.
Nhƣ vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây một lần nữa cho
phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
nhân dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là đòi hỏi khách quan, cấp
thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.

5
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những
vấn đề lý luận và thực tiễn về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
nhằm đƣa ra khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển; khái quát các quy
định của pháp luật Việt nam cũng nhƣ pháp luật một số nƣớc trên thế giới
về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân (hay Viện Công tố). Từ đó
giải quyết vấn đề về tổ chức hoạt động, nhiệm vụ, thẩm quyền của Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt nam –
Đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/05/2005 của Bộ Chính trị.
3.2. Nhiệm vụ
Tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nƣớc về cơ
quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ
một số vấn đề chung về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
- Khái quát sự ra đời và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân trong
lịch sử tƣ pháp của nƣớc ta từ năm 1960 đến nay để rút ra những nhận xét,
đánh giá;
- Đánh giá một cách có hệ thống và tƣơng đối toàn diện về những vấn

của pháp luật hiện hành; kết quả hoạt động thực tiễn của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân trong đó tập trung từ năm 2009 đến nay.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của Pháp
luật từ năm 1960, sau khi ngành kiểm sát nhân dân đƣợc thành lập theo
Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960
của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay về Cơ quan điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân.

7
Đề tài nghiên cứu giải quyết những vấn đề xung quanh tổ chức, hoạt
động và thẩm quyền của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo
quy định của pháp luật Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá so
sánh với tổ chức, hoạt động, thẩm quyền của Cơ quan điều tra của Viện kiểm
sát nhân dân (hay Viện công tố) của một số quốc gia trên thế giới để rút ra
những tiến bộ trong lập pháp có thể vận dụng đối với Việt Nam.
Từ đó làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động,
phƣơng hƣớng hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân.
6. Những đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phƣơng diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở
cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
nhân dân, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực
tiễn liên quan tới tổ chức, hoạt động, thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Những điểm mới
cơ bản của luận văn là:
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống, tƣơng đối toàn diện về
lịch sử hình thành, cơ sở lý luận và thực tiễn về Cơ quan điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân.
- Luận văn phân tích và so sánh giữa Cơ quan điều tra của Viện kiểm

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Những vấn đề chung về Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân
Trong gần 55 năm qua, theo quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến
pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến
pháp năm 2014, trong Bộ máy của nhà nƣớc ta đã duy trì một hệ thống thống
nhất của Viện kiểm sát nhân dân. Về tô
̉
chƣ
́
c, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và Viện kiểm sát quân sự tạo thành
một hệ thống, theo đó Viện kiểm sát nhân dân cấp dƣới chịu sự lãnh đạo của
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và
Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trƣởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao. Viện trƣởng, các Phó Viện trƣởng và Kiê
̉
m sát viên Viện
kiểm sát nhân dân địa phƣơng và Viện kiểm sát các quân khu và khu vực do
Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bô
̉
nhiệm, miê
̃
n nhiệm, cách chức.
Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trƣớc Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trƣớc y ban Thƣờng vụ Quốc hội và Chủ tịch nƣớc.
Nhiệm kỳ của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của
Quốc hội. Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1992 có thêm trách nhiệm của Viện

̃
n nhiệm, cách chức.
Tính độc lâ
̣
p thê
̉
hiện: Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngƣời
đứng đầu hệ thống thống nhất đó chịu trách nhiệm và báo cáo trƣớc Quốc hội;
trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trƣớc y ban Thƣờng vụ Quốc hội và Chủ tịch nƣớc. Ở các địa phƣơng, Viện
trƣởng Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm báo cáo công tác trƣớc Hội
đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biê
̉
u Hội đồng nhân dân.
Vị trí và những chức năng của viện kiểm sát nhân dân là hoàn toàn phù
hợp cho việc phát huy vai trò và tính chất của cơ quan giám sát công quyền –
Là một thiết chế quyền lƣ
̣
c hoàn toàn đứng trên lập trƣờng vì lợi ích chung
của nhân dân, của Nhà nƣớc để duy trì pháp luật, bảo đảm cho pháp luật và
lợi ích của nhân dân, bảo đảm quyền con ngƣời, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân đƣợc tôn trọng và bảo vệ.
1.1.2. Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, hệ thống cơ quan Viện
kiểm sát đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng, bao gồm: a,Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi tắt là Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh); b,Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); c,Viện kiểm sát

12
Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố
thông qua chức năng và nhiệm vụ của mình.
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đƣợc quy định tại
Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013
và các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, 2014 đều quy định
Viện kiểm sát đƣợc giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tƣ pháp.
Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện
kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng những công
tác sau đây: a) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan
khác đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; b) Điều tra một
số loại tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ thuộc
các cơ quan tƣ pháp; c) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; d) Kiểm sát việc giải quyết các
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những
việc khác theo quy định của pháp luật; e) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; f) Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục ngƣời
chấp hành án phạt tù [22].
Điều 3, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì, thực hành
quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
để thực hiện việc buộc tội của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội, đƣợc thực
hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [26].
Theo đó, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm

13

hình sự; điều tra một số loại tội phạm; thực hành quyền công tố trong hoạt
động tƣơng trợ tƣ pháp về hình sự.
Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát hoạt
động tƣ pháp bằng các công tác sau đây: kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; kiểm sát việc khởi tố, điều tra
vụ án hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp của ngƣời tham gia tố tụng trong
giai đoạn truy tố; kiểm sát xét xử vụ án hình sự; kiểm sát việc tạm giữ, tạm
giam, thi hành án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ
việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động và
những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc thi hành án dân
sự, thi hành án hành chính; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
hoạt động tƣ pháp của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tƣ pháp thuộc thẩm quyền;
và cuối cùng là kiểm sat hoạt động tƣơng trợ tƣ pháp.
Thứ ba, các công tác khác của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: công
tác thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; đào
tạo, bồi dƣỡng; nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc tế và các công tác khác để
xây dựng Viện kiểm sát nhân dân.
Nhƣ vậy, so với luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, thì
chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đƣợc quy định tại Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 không có sự thay đổi, điểm mới của
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 là đã làm rõ nội hàm và phân
biệt cụ thể khái niệm chức năng thực hành quyền công tố, chức năng kiểm sát
hoạt động tƣ pháp và quy định cô đọng nhƣng đầy đủ hơn về các mặt công tác
của Viện kiểm sát nhân dân. Trong đó có điểm tiến bộ cần nhấn mạnh là tại
mục 5, chƣơng II, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, quy định
rõ về công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân [26].

15
1.2. Sự cần thiết và lịch sử hình hành Cơ quan điều tra của Viện

tƣ pháp. Do đó, việc tổ chức Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao
điều tra một số tội phạm là hoàn toàn cần thiết, nhất là các tội phạm xuất phát
từ hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ các cơ quan tƣ pháp.
Thứ hai, Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát điều tra những tội phạm
mà chủ thể là những ngƣời trong các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khách quan
hơn, tránh đƣợc những áp lực không cần thiết trong việc xử lý tội phạm ở
những cơ quan này, vì các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp, tội phạm về tham
nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ
công chức trong các cơ quan tƣ pháp thực hiện là tội phạm có chủ thể đặc
biệt, có kiến thức pháp lý và kinh nghiệm trong hoạt động tƣ pháp, có khả
năng che giấu hành vi phạm, phạm tội phạm trƣớc, trong và sau khi thực hiện
và chống đối quyết liệt khi bị phát hiện, xử lý. Nếu các cơ quan điều tra thuộc
lực lƣợng khác điều tra sẽ không khách quan bởi sự giàng buộc trong mối
quan hệ công tác giữa điều tra viên với ngƣời thực hiện hành vi phạm tội hay
tâm lý, áp lực "ngƣời nhà"
Thứ ba, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đƣợc giao thẩm
quyền điều tra những vụ án xâm phạm hoạt động tƣ pháp, đây là lĩnh vực
“nhạy cảm” trong hoạt động tƣ pháp với một số tội danh nhƣ: Tội dùng nhục
hình, Tội bức cung , là những tội danh xâm phạm quyền con ngƣời, xuất
phát từ nhóm quan hệ tố tụng hình sự dễ bị tổn thƣơng. Việc giao thẩm quyền
điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tƣ pháp cho Cơ quan điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân là sự bảo đảm về thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà
nƣớc, bảo đảm quyền con ngƣời trong hoạt động tố tụng.
Thứ tư, Tuy là Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân, nhƣng
nó độc lập với Viện kiểm sát nhân dân về chức năng: Cơ quan điều tra của

17
Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các Cơ quan
điều tra theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quy định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status