I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH PHNG
TĂNG CƯờNG TRáCH NHIệM CÔNG Tố TRONG HOạT ĐộNG
ĐIềU TRA ở VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN TỉNH BắC GIANG Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN XUN TON H NI - 2014
Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN 7
1.1. Một số khái niệm có liên quan 7
1.1.1. Quyền công tố 7
1.1.2. Thực hành quyền công tố 14
1.2. Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hoạt động
điều tra 20
1.2.1. Nhiệm vụ và đặc điểm cơ bản của hoạt động điều tra 20
1.2.2. Phạm vi, nội dung và đặc điểm của thực hành quyền công tố trong
hoạt động điều tra 23
1.2.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động điều tra 27
1.3. Chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc về tăng cƣờng trách nhiệm
công tố trong hoạt động điều tra; pháp luật về thực quyền công
tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân 28
1.3.1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường trách nhiệm công
tố trong hoạt động điều tra 28
1.3.2. Pháp luật về thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra 32
Kết luận Chương 1 47
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012 48
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang và ảnh
hƣởng đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện
kiểm sát nhân dân trên địa bàn 48
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 48
2.1.2. Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự
KSV: Kiểm sát viên
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, thực hiện đúng và đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố
có ý nghĩa rất quan trọng; là một trong những yếu tố cơ bản để giải quyết các
vụ án hình sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp
nhất việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, góp phần đấu tranh
phòng chống tội phạm đạt kết quả, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an
toàn xã hội.
Như vậy, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng
một nền công tố mạnh. Khi thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân
có trách nhiệm lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Phải bảo
đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời, đầy đủ,
2
xử lý nghiêm minh, có căn cứ pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, đồng thời không để làm oan người vô tội. Đây là hai mặt của vấn đề
trong công tác công tố và để góp phần làm tốt nhiệm vụ này, Viện kiểm sát
nhân dân phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra. Vì
vậy, có thể nói rằng đây là nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn hiện nay.
Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra và
các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý
kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô
tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị giam giữ, tạm giam, bị hạn chế
các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và
nhân phẩm một cách trái pháp luật. Đồng thời, bảo đảm việc điều tra được
khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; kịp thời phát hiện,
khắc phục và xử lý những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra.
Chức năng thực hành quyền công tố cùng với chức năng kiểm sát các
- “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra theo cải
cách tư pháp”, Chuyên đề tập huấn, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra án hình sự về trật tự xã hội – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao;
- “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta
hiện nay”, Đỗ Văn Đương, Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội, 2006;
- “Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện
chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Phạm
Hồng Hải, Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội, 2006.
4
Ngoài ra, còn có một số bài viết khác của các tác giả đăng trên tạp chí
Kiểm sát, tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Tòa án.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống,
nghiên cứu sâu về thực tiễn tăng cường trách nhiệm công tố gắn với hoạt
động điều tra tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Do vậy, việc đi sâu
nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và
thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn tăng
cường trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra tại Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Bắc Giang. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng
cao trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra của hai cấp Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bắc Giang hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, phải triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và nhận thức chung về thực
hành quyền công tố trong hoạt động điều tra;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố trong hoạt
động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm 2008 đến
năm 2012;
thời gian qua; đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
6
Chương 1. Nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong hoạt
động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2. Thực trạng thực hành quyền công tố trong hoạt động điều
tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm
2008 đến năm 2012.
Chương 3. Một số giải pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc
Giang thời gian tới. 7
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1. Quyền công tố
1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố
"Công tố" là từ ghép Hán - Việt, được hình thành bởi hai từ đơn "công"
và "tố". Theo Đại từ điển tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước,
tập thể, trái với tư" [51, tr.453], còn "tố" có nghĩa là "nói về những sai phạm,
tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc
1980, sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002
Hiện nay, vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố. Có
thể khái quát lại một số quan điểm về quyền công tố như sau:
Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm
sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đều là thực hành quyền công tố.
“Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với
hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân. Theo họ,
công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là một
quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật
của Viện kiểm sát” [18, tr. 85-87].
Theo tác giả, quan điểm này đã đánh đồng quyền công tố với quyền
kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát và như vậy là không chính xác
9
bởi vì thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức
năng hoàn toàn độc lập của Viện kiểm sát nhân dân. Mặc dù trong quá trình
thực hiện hai chức năng này, có thể có những nội dung đan xen nhau, có quan
hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau nhưng không phải trong mọi
công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, trong mọi hoạt động thực
hiện chức năng của Kiểm sát viên đều bao hàm cả hai chức năng đó, có hoạt
động chỉ nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và có hoạt động
chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật. Vì vậy, không thể
phủ nhận tính độc lập của hai chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp
dụng và vì vậy không thể đồng nhất chúng.
Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước
đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; Ở Việt Nam, quyền này
Quan điểm thứ tư:
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm
sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan
công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu,
chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó
quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên tòa [1, tr.40].
Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật
hình sự coi là tội phạm; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong
tố tụng hình sự; ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất
Viện kiểm sát nhân dân, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan
11
điểm khác nhau. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý
của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập. Hoặc là đánh đồng quyền công
tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của
Viện kiểm sát trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của
quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự; hoặc là quá thu
hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…
Từ những phân tích ở trên, để xây dựng được khái niệm quyền công tố
chính xác, khoa học thì phải dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà
nước, các quy định hiện hành của pháp luật và thực tiễn hoạt động của các cơ
quan tư pháp Việt Nam. Theo tác giả, việc xây dựng khái niệm quyền công tố
cần phải dựa trên những nguyên tắc sau:
- Quyền công tố phải là quyền của Nhà nước, xuất hiện cùng với sự ra
đời của Nhà nước và thay đổi theo bản chất của Nhà nước. Được Nhà nước
giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát nhân dân), nhằm
phạm pháp luật; quan điểm này xuất phát từ nhận thức coi quyền công tố là
quyền của Nhà nước cáo buộc cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật và đưa ra
các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa.
- Quan điểm coi quyền công tố là quyền Nhà nước nhân danh xã hội truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi
vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích chung, lợi ích Nhà nước thì lại cho rằng
đối tượng của quyền công tố là tội phạm, người phạm tội và những vụ việc xâm
hại đến lợi ích chung trong lĩnh vực dân sự, hành chính, lao động.
Từ quan điểm nhận thức về quyền công tố đã trình bày ở trên, tác giả
luận văn cho rằng đối tượng của quyền công tố chỉ có thể là: tội phạm và
người phạm tội.
13
* Nội dung của quyền công tố
Về nội dung của quyền công tố, cũng còn tồn tại những quan điểm khác
nhau song xuất phát từ quan điểm về bản chất của quyền công tố là sự buộc
tội nhân danh Nhà nước, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và
người phạm tội, tác giả thống nhất với quan điểm nội dung của quyền công tố
là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người đã thực hiện tội phạm.
* Phạm vi quyền công tố
Do hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về quyền công tố nên
cũng có các cách lý giải khác nhau về phạm vi của quyền công tố (phạm vi về
không gian, phạm vi về thời gian).
- Phạm vi về thời gian: Phần lớn các quan điểm cho rằng quyền công tố
không chỉ bị giới hạn bó hẹp trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn bao trùm cả
trong các lĩnh vực tư pháp khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng
kinh tế, tố tụng lao động. Bên cạnh đó có quan điểm cho rằng phạm vi của
quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự và không thể có trong các
lĩnh vực tố tụng khác. Do đó tác giả cho rằng quyền công tố là quyền nhân
danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội; do đó quyền
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát như sau:
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát
nhân dân là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý
thuộc nội dung của quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội và được thực hiện từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi Viện
kiểm sát quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án
được đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật.
15
1.1.2.2. Phạm vi thực hành quyền công tố
Xét về nguyên tắc thì phạm vi thực hành quyền công tố đồng nhất với
phạm vi của quyền công tố; tức là bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc
khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc vụ án
được đình chỉ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Như vậy cũng có nghĩa là khi tội phạm xảy ra đòi hỏi quyền công tố
phải được phát động để đảm bảo mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện
xử lý theo pháp luật.
Để có cơ sở phát động quyền công tố đòi hỏi phải trải qua một giai
đoạn chuẩn bị nhằm thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm xảy ra, như: Tiếp
nhận, xác minh tin báo, tố giác tội phạm; tiến hành một số hoạt động điều tra
trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người làm
chứng, lấy lời khai người bị tạm giữ… và mục đích của giai đoạn này là nhằm
xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để làm cơ sở khởi tố hay không
kết thúc vụ án hình sự và thực hành quyền công tố chỉ thực sự phát sinh khi
có quyết định kết thúc vụ án. Nhưng trên thực tế việc kết thúc vụ án không
thể bao trùm hết được số vụ tội phạm xảy ra (thậm chí số vụ tội phạm xảy ra
không được phát hiện khởi tố còn chiếm một tỷ lệ không nhỏ so với số vụ tội
phạm được khởi tố). Do đó, trong khi thực hành quyền công tố chỉ phát sinh
khi có quyết định khởi tố vụ án thì quyền công tố luôn “treo trên đầu” đối với
tất cả những người thực hiện tội phạm nhưng chưa bị phát hiện khởi tố điều
tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Việc khởi tố
vụ án hình sự được thực hiện khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm. Theo quy
định tại Điều 104 của BLTTHS năm 2003 thì, các cơ quan có thẩm quyền
khởi tố vụ án, bị can bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các
cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ
17
đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển Trên thực tế,
việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can chủ yếu do Cơ quan điều tra các cấp tiến
hành, Viện kiểm sát chỉ ra quyết định khởi tố vụ án trong một số trường hợp
nhất định. Tuy vậy, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được quyền khởi tố vụ
án hình sự một cách độc lập, không chịu sự ràng buộc về mặt cơ chế tố tụng
của bất kỳ một cơ quan nhà nước nào.
Viện kiểm sát cũng có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố, thay
đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can nếu có căn cứ xác
định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn
có tội phạm khác; có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc quyết định
không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đồng thời, Viện kiểm sát
cũng có quyền kháng nghị đối với những quyết định khởi tố vụ án không có
căn cứ của Hội đồng xét xử.
Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi ngay
cho Viện kiểm sát để xem xét phê chuẩn trong thời hạn 24 giờ, kể từ thời
điểm ra quyết định khởi tố. Viện kiểm sát sẽ xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ
quyết định khởi tố nếu quyết định khởi tố đó không có căn cứ và trái pháp
luật trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can và
các tài liệu liên quan đến việc khởi tố của Cơ quan điều tra.
+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra;
khi cần thiết có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định
trong quá trình điều tra vụ án, nếu các quyết định đó được ban hành mà không
có căn cứ pháp lý, không đúng trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra truy
nã bị can khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu.