LUẬN VĂN: Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hà Nội
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một trong những nguyên tắc cơ bản làm nền

hoạt động tư pháp trong giai đoạn hiện nay là:
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ
sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp, bảo đảm mọi vi
phạm pháp luật đều bị xử lý, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
Củng cố kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm
quyền xét xử của Tòa án nhân dân, từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ
thẩm cho Tòa án nhân dân huyện. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân, các cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan tổ chức bổ
trợ tư pháp.
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng xác định:
Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư
pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công
tác bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử, thi hành án, không được để xảy ra những
trường hợp oan sai. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống Tòa án nhân dân, tổ chức lại
Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án theo nguyên tắc gọn đầu mối.
Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa
X tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi một số điều của Hiến pháp
năm 1992. Theo đó, chức năng của VKSND là: "thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp". Để thực hiện chức năng theo Hiến pháp quy định, hệ thống VKSND
phải đổi mới cả về tổ chức và phương pháp hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh mới.
Trong hoàn cảnh đó, việc tăng cường pháp chế XHCN không chỉ là một nhiệm vụ
mà còn là một quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tiếp tục cải cách bộ máy

nhà nước nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
nhằm đảm bảo thắng lợi cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Để tăng cường pháp
chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, không chỉ xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp
luật, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực
hành thường xuyên và nghiêm chỉnh, đấu tranh kiên quyết với những hành vi vi phạm

pháp chế XHCN đã trở thành quan điểm chính thống và nhất quán được thể hiện trong các
văn kiện của Đảng ta qua nhiều kỳ Đại hội; quan điểm đó cũng đã được thể hiện trong
nhiều tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, vấn
đề pháp chế XHCN và tăng cường pháp chế XHCN đã trở thành một nội dung khoa học có
vị trí không thể thiếu trong giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của các
trung tâm đào tạo Chính trị - Pháp lý như: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại
học Quốc gia Hà Nội (khoa Luật), Đại học Luật Hà Nội v.v
Hiện nay vấn đề "tăng cường pháp chế XHCN"đã trở thành một nguyên tắc hiến
định, chính vì vậy nó đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
pháp lý; có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về pháp chế và tăng cường pháp chế
XHCN gần đây đã được công bố như:
- Luận án TS Luật học của Nguyễn Phùng Hồng về "Tăng cường pháp chế XHCN
trong hoạt động của lực lượng công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1994.
- Luận án TS học Luật học của Quách Sỹ Hùng về "Tăng cường pháp chế về kinh
tế trong quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1996.
- Luận án TS Luật học của Nguyễn Nhật Hùng về "Tăng cường pháp chế XHCN
trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe nhân dân ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, năm 1996.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng về "Tăng cường pháp chế
XHCN trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 2001.

Và nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả khác.
Như vậy, vấn đề pháp chế và tăng cường pháp chế XHCN trong một số lĩnh vực
cụ thể đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và làm sáng tỏ. Tuy nhiên, về pháp chế và
tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp của VKSND thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách
toàn diện.

Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác
- Lênin như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp phân tích và tổng
hợp; phương pháp nghiên cứu lịch sử, cụ thể và toàn diện. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như: phương pháp lôgic, các phương
pháp so sánh, đối chiếu, thống kê, mô hình hóa
6. Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về pháp chế XHCN trong hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
-
Lần đầu tiên đánh giá có hệ thống về pháp chế XHCN trong hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp VKSND thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết.

Chương 1
cơ sở lý luận về pháp chế và pháp chế
trong hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp

1.1. Cơ sở lý luận chung về pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.1. Khái niệm pháp chế XHCN
Pháp chế XHCN là một khái niệm khoa học được hình thành trong nền khoa học
pháp lý XHCN. ở nước ta đã từ lâu, pháp chế XHCN không chỉ được quan tâm về khái
niệm mà đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam đối với Nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng như hoạt
động của công dân trong đời sống xã hội. Hiện nay chúng ta đang xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; chính vì vậy, pháp chế XHCN càng phải là

lý do tồn tại và cơ sở của sự tiến triển sau này của nó không phải xuất phát từ
những điều kiện kinh tế mà từ chính những nguyên nhân sâu sắc của bản thân
nó hay có thể nói ra từ khái niệm về ý chí [38, tr. 752].
Phát triển tư tưởng pháp chế của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đã đề cập rõ nét
tư tưởng pháp chế XHCN ở nhiều bài nói, bài viết trong đó có thể kể đến những tác phẩm
tiêu biểu như: "Sơ thảo đề cương nghị quyết về tuân thủ pháp luật", "Bàn về chế độ song
trùng trực thuộc và pháp chế’, "Thư gửi công dân và nông dân về việc đánh thắng Côn-
tsắc" Và chúng ta có thể nói rằng, V.I. Lênin chính là người đầu tiên đã đưa ra các luận
điểm cơ bản về pháp chế XHCN.
Trong các tác phẩm của mình, Lênin đã đưa ra nhưng luận điểm cơ bản về pháp
chế. Không những thế, Người còn cho rằng, việc thực hiện pháp luật là một chế độ trong đời
sống xã hội. Nó là vấn đề thường xuyên phải chăm lo. Pháp chế phải là một chế độ tuân
thủ pháp luật của nhà nước cách mạng. Lênin yêu cầu phải thiết lập một nền pháp chế
thống nhất trong toàn nước cộng hòa. Người cũng quan tâm đến cơ chế bảo đảm pháp chế

được tôn trọng trong đó có nhấn mạnh "nhà nước và mọi công dân phải chịu kiểm sát" mà
sự kiểm sát này được giao cho một cơ quan không tổ chức theo mô hình "song trùng trực
thuộc".
V.I. Lênin là người đầu tiên đưa ra các luận điểm cơ bản về pháp chế XHCN.
Ngay từ năm thứ hai của nhà nước Xô viết, Lênin đã viết "Sơ thảo đề cương quyết định về
việc tuân thủ đúng pháp luật" - Đề cương này đã trở thành cơ sở đề ra nghị quyết về việc tôn
trọng nghiêm chỉnh pháp chế. Năm 1922, trong bức thư "Bàn về chế độ trực thuộc song
trùng và pháp chế", Lênin đã đưa ra những luận điểm cơ bản làm cơ sở cho pháp chế
XHCN. ở đây, Người đã nêu lên những nội dung cơ bản về pháp chế XHCN.
Trong bối cảnh cách mạng Nga mới thành công, một chính sách kinh tế, một đạo
luật, sắc lệnh được ban hành và thực hiện là một cuộc đấu tranh giai cấp hết sức gian khổ.
Bên cạnh sự thù địch của các thế lực phản cách mạng còn là sự cản trở của bệnh hành
chính quan liêu trong bộ máy nhà nước và hiện tượng không tuân thủ các đạo luật của
chính quyền Xô viết trong đời sống xã hội. Một sự thật mà Lênin đã nói là: "Chúng ta
đang sống trong tình trạng mà đâu đâu cũng có những hiện tượng không tôn trọng pháp

ý tưởng về việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và
tăng cường pháp chế không phải gần đây mới được đề cập tới, mà từ lâu đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm và chú trọng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con
đường của cách mạng Việt Nam, từ năm 1919, Nguyễn ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã nói lên
tiếng nói của các dân tộc thuộc địa trong đó có Việt Nam về khao khát một xã hội thực sự
có luật pháp và những thiết chế cần thiết cho sự duy trì và thi hành pháp luật:
"Bẩy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
Đây là một trong 8 yêu sách mà Nguyễn ái Quốc gửi cho các nước đồng minh tại
Hội nghị Vessailles năm 1919. Và trên cơ sở nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng
của Hiến pháp trong việc xây dựng và củng cố một Nhà nước kiểu mới, nhằm phát huy các

quyền tự do, dân chủ của nhân dân và bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân
dân, trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam độc lập - Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ
thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân
dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp
dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau một thời gian ngắn, ngày
09-11-1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được Quốc
hội khóa I thông qua.
Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và bản Hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam độc lập ra đời cho đến nay, trong suốt hơn 50 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta trong mọi thời kỳ phát triển khác nhau của đất nước
không chỉ chú trọng tới việc ban hành Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác mà còn
luôn đòi hỏi sự chấp hành và thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật.
Trên cơ sở lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, sự kế thừa và phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã sớm hình thành và từng bước hoàn thiện

của Đảng phải được xác định bằng Hiến pháp và pháp luật. Sức mạnh và nội
dung cơ bản của pháp chế XHCN chính là quyền làm chủ tập thể của nhân dân.
Cần tăng cường pháp chế XHCN, làm cho mọi hoạt động của các cơ quan Nhà
nước đi vào khuôn phép và quy chế nghiêm chỉnh, thật sự tôn trọng quyền làm
chủ tập thể và đảm bảo quyền lợi của công dân.
Pháp luật phải quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, đòi
hỏi công dân phải làm tròn nghĩa vụ, phải tuân theo pháp luật. Đối với những
người không tự giác thì phải cưỡng chế và bất cứ ai vi phạm pháp luật đều phải
xử phạt thích đáng [6, tr. 146- 147].

Rõ ràng là trong giai đoạn này, tư tưởng pháp chế XHCN của Đảng ta không
những được xác định rõ hơn về vai trò, nội dung mà còn được quan tâm đến cả cơ chế đảm
bảo. Một mặt nhằm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; mặt khác là thực hiện sự
cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm pháp luật.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V thì vấn đề tăng cường pháp chế XHCN
đã được đề cập một cách trực diện. Đó là: "Tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu
cấp thiết để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của
nhân dân lao động" [7, tr. 114]. Không những thế trong văn kiện của Đại hội còn nêu lên
vấn đề "khắc phục cho được tình hình không bình thường là nhiều luật và pháp lệnh được
ban hành không được thi hành nghiêm chỉnh, thậm chí không được thi hành" [7, tr. 115].
Nhiều biện pháp nhằm tăng cường pháp chế XHCN đã được đưa ra trong đó đáng chú ý là
"đưa việc giáo dục về pháp luật vào các trường học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có
pháp luật và tôn trọng pháp luật" [7, tr. 115]. Bên cạnh đó là việc tăng cường công tác
kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu tố và yêu cầu cán bộ, đảng viên gương mẫu thi hành
pháp luật, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, tăng cường
pháp chế XHCN.
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI thì trong Nghị quyết đã chỉ rõ: "Trong
điều kiện Đảng cầm quyền, mọi cán bộ, bất cứ ở cương vị nào, đều phải sống và làm việc
theo pháp luật. Mọi vi phạm đều phải xử lý" [8, tr. 121]. Do vậy, Nghị quyết cũng đặt ra yêu
cầu đối với các cấp ủy Đảng từ Trung ương tới địa phương phải thường xuyên quan tâm

viên của các tổ chức chính trị - xã hội và mọi công dân.
Cùng với sự ra đời của khái niệm pháp chế XHCN, ngày nay với sự phát triển của
khoa học pháp lý các khái niệm, phạm trù pháp lý nói chung và pháp chế nói riêng đã được
xây dựng hoàn thiện hơn; phản ánh thực tế khách quan của đời sống nhà nước và xã hội.
Trong sự hoàn thiện khái niệm pháp chế, nội dung chủ yếu đã được làm rõ là "ranh giới"
của hiện tượng pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm pháp luật và hiện tượng của
hệ thống các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật. Trong thực tế định nghĩa về
pháp chế có tính khoa học được nhiều người thừa nhận và ghi vào sách giáo trình môn Lý
luận chung về Nhà nước và pháp luật là: "Pháp chế XHCN là chế độ của đời sống chính trị

xã hội trong đó Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; các cơ quan nhà nước; các tổ
chức chính trị; các tổ chức chính trị - xã hội; các đơn vị kinh tế và mọi công dân đều phải
tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật; mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý".
Trong nền khoa học pháp lý Xô viết, các khái niệm, phạm trù pháp lý khác cũng
hình thành và phát triển. Trong đó phải kể đến các khái niệm gần gũi với khái niệm pháp
chế như: Thực hiện pháp luật và trật tự pháp luật. Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt
động có chủ định của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nhằm làm cho pháp luật được
thực hiện trong cuộc sống. Quá trình hoạt động đó bao hàm các dạng hành vi thực hiện
pháp luật như: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp
luật. Như thế hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước thông qua chế độ thực hiện pháp
luật đã được chuyển hóa thành pháp chế.
Như vậy, quan điểm cơ bản từ trước tới nay vẫn coi: "Pháp chế chính là sự đòi hỏi
mọi cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức
chính trị - xã hội và các tổ chức kinh tế cũng như mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh
thực hiện pháp luật trong hoạt động của mình". Theo đó, định nghĩa này tập trung nhấn
mạnh nội dung cơ bản đó là sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của mọi chủ thể pháp luật.
Đặc trưng lớn nhất của pháp luật là tính qui phạm phổ biến, pháp luật mang tính
bắt buộc chung đối với mọi đối tượng tham gia các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, điều
này được nhà nước thừa nhận và được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế mang tính
nhà nước. Mọi chủ thể pháp luật đều phải xử sự phù hợp với pháp luật. Bản thân nhà nước

quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không được đảm bảo. Do đó, vấn đề mấu chốt là:
pháp luật chỉ thực sự có hiệu lực khi nó dựa trên nền tảng vững chắc của pháp chế, bên
cạnh đó pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường trong điều kiện một hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ.
Trước sự vận động không ngừng của đời sống xã hội, quan điểm trên đây về pháp
chế XHCN dường như đã không còn mang tính chính xác khoa học cao. Quan điểm đó vẫn
đúng nhưng chưa thực sự đủ. Hiện nay đang phổ biến một quan điểm khoa học cho rằng:
"Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ
xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện

đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ
chức và đối với công dân" [49, tr. 680].
Trong định nghĩa này có mấy nội dung chính yếu sau đây:
- Sự hiện diện của một hệ thống pháp luật; và hệ thống pháp luật này là điều kiện
cần và đủ cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật.
- Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ chức và mọi công
dân phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh pháp luật.
Cách tiếp cận thứ nhất cho ta thấy một cách nhìn cận cảnh về pháp chế, nói một cách
khác, định nghĩa thứ nhất về pháp chế là một định nghĩa hẹp về pháp chế. Cách tiếp cận
thứ hai hàm chứa định nghĩa hẹp về pháp chế đồng thời có bổ sung hai nội dung mới cho ta
một cái nhìn bao quát hơn về pháp chế XHCN. Cách tiếp cận này đáp ứng được những đòi
hỏi hiện nay của lý luận cũng như thực tiễn là phải trả lời câu hỏi: pháp chế dựa trên cơ sở
nào, để làm gì và duy trì nó như thế nào. Nó cho chúng ta một định nghĩa rộng về pháp chế.
Định nghĩa này trước hết đã trực tiếp xác định vai trò vô cùng quan trọng của một
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh trong vai trò là nền tảng của việc thiết lập pháp chế XHCN.
Như chúng ta đã biết, bất cứ một xã hội nào cũng đều cần có sự quản lý nhằm ổn
định trật tự xã hội và phục vụ cho nhu cầu phát triển xã hội. Kể từ khi xã hội có giai cấp
dẫn đến xuất hiện nhà nước, giai cấp cầm quyền luôn mong muốn một trật tự xã hội phù
hợp với ý chí giai cấp mình. Giai cấp cầm quyền tìm thấy ở pháp luật công cụ hữu hiệu
nhất trong quản lý xã hội. Chính sự nhập cuộc của pháp luật vào đời sống xã hội đã tạo ra

đời, tồn tại của pháp luật và pháp chế tương ứng. Thấu suốt trong dòng lịch sử đấu tranh
chống lạm dụng quyền lực, độc đoán chuyên quyền từ phía nhà nước và chống tư tưởng
còng như hoạt động vô chính phủ, coi thường pháp luật của công dân nhằm đảm bảo cho
pháp luật thực sự ngự trị trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội; thành lập nên một
trật tự pháp luật theo ý chí và mục đích của giai cấp thống trị xã hội.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra định nghĩa pháp chế XHCN như sau: Pháp chế
XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội

và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để
và chính xác.
1.1.2. Những nguyên tắc của pháp chế XHCN
Ngày nay Đảng ta đang chủ trương xây dựng một Nhà nước pháp quyền Việt Nam
XHCN của dân, do dân, và vì dân. Trong quan niệm về nhà nước pháp quyền có nhiều
điểm trùng hợp với quan niệm về pháp chế. Thí dụ, các yêu cầu về một hệ thống pháp luật
tương đối hoàn chỉnh; về tính tối cao của Hiến pháp và các đạo luật; về sự tuân thủ nghiêm
chỉnh pháp luật của các chủ thể; về sự tôn trọng và bảo đảm các quyền công dân. Tuy
nhiên, quan niệm về Nhà nước pháp quyền có nội dung rộng hơn. Nó bao hàm cả vấn đề
trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân, công dân và nhà nước, vấn đề trách nhiệm
của quốc gia trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, v.v… Đặt vấn đề từng bước xây
dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là đáp ứng được các đòi hỏi của một xã hội đang
chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng đáp ứng
được đòi hỏi của một quốc gia đổi mới muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới theo
nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Những nguyên tắc của pháp chế XHCN là những tư tưởng chủ đạo thể hiện bản
chất và các đặc điểm của pháp chế trong xã hội ta. Các nguyên tắc cơ bản đó là:
1.1.2.1. Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế
Nội dung của nguyên tắc này là: pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống
nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và ở tất cả các ngành, không thể đem lợi ích của địa
phương, lợi ích ngành đối lập với lợi ích chung của nhà nước. Văn bản của cơ quan nhà

pháp năm 2000 và năm 2001 của Quốc hội để rồi nội dung này được thông qua theo qui
trình lập pháp (chỉ cần quá 1/2 số đại biểu Quốc hội tán thành) thay vì lẽ ra phải được
thông qua theo một qui trình lập hiến (yêu cầu phải được 2/3 số đại biểu Quốc hội biểu
quyết tán thành theo đúng qui định tại Điều 147 Hiến pháp 1992).
1.1.2.2. Mọi chủ thể đều có nghĩa vụ phải chấp hành pháp luật
Nguyên tắc này đòi hỏi phải đưa những yêu cầu của pháp luật vào thực tế đời
sống; mọi chủ thể cần phải xử sự phù hợp với pháp luật. Mọi người đều bình đẳng trước

pháp luật, bất cứ chủ thể nào có hành vi vi phạm pháp luật đều bị truy cứu trách nhiệm
pháp lý. Pháp chế XHCN xa lạ với những biểu hiện phân biệt đối xử và đặc quyền, đặc lợi,
không cho phép lạm dụng chức vụ, quyền hạn lẩn tránh hoặc cố tình làm trái pháp luật.
Để tránh tình trạng hệ thống pháp luật của Nhà nước đã được ban hành đáng kể
nhưng chấp hành không nghiêm, trước hết Nhà nước mà cụ thể trong đó là các cơ quan
trong bộ máy nhà nước, các cán bộ công chức phải nghiêm chỉnh thi hành và chấp hành
pháp luật. Nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép nhằm hạn chế tối đa sự lạm
quyền trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước. Đối với các chủ thể pháp
luật khác ngoài nhà nước thì được làm tất cả trừ những gì luật cấm. Đó là cơ sở pháp lý
vững chắc đảm bảo cho các quyền tự do dân chủ của công dân được thực hiện.
1.1.2.3. Bảo đảm tính tối cao của hiến pháp và các đạo luật
Điều 146 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản
pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp". Những đạo luật có hiệu lực thấp hơn Hiến
pháp nhưng cao hơn những văn bản dưới luật. Những văn bản dưới luật phải được ban
hành trên cơ sở và để thi hành Hiến pháp và các đạo luật, không được trái với Hiến pháp
và các đạo luật đó.
1.1.2.4. Bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền và tự do của công dân đã được
pháp luật quy định
Trong xã hội ta, công dân có những quyền tự do, dân chủ rộng rãi. Một trong
những yêu cầu quan trọng nhất của pháp chế là phải bảo đảm và bảo vệ những quyền dân
chủ đó. Công dân khi sử dụng các quyền tự do được pháp luật ghi nhận, không được gây

quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyền sửa đổi các quy phạm đó.
1.1.2.7. Tuân thủ nghiêm chỉnh kỷ luật nhà nước và xã hội
Trong xã hội ta, những yêu cầu cơ bản của kỷ luật nhà nước, kỷ luật xã hội và
cách thức bảo đảm nó được xác định trong những văn bản pháp luật. Mặt khác, sự tuân thủ
pháp luật là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của kỷ luật nhà nước và kỷ luật xã

hội. Để đảm bảo tính tổ chức của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cần phải chấp
hành nghiêm chỉnh kỷ luật nhà nước.
1.2. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp ở nước ta
Pháp chế XHCN là một khái niệm pháp lý sâu rộng. Xét về hình thức, hiện tượng,
pháp chế XHCN là trạng thái hành vi pháp lý (hành vi hành động và không hành động)
phù hợp với quy định của pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật.
Xét về bản chất, pháp luật của một nhà nước quy định bản chất của chế độ pháp chế mà
nhà nước đó thiết lập và duy trì. Tính đa dạng của pháp chế thể hiện trong các loại hành vi
pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nói một cách khác,
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội pháp chế được thiết lập và mang những đặc điểm
riêng. Bởi vì các lĩnh vực của đời sống xã hội khác nhau có các loại quan hệ xã hội khác
nhau; phản ánh và điều chỉnh nó là các ngành luật tương ứng.
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng; Vì vậy "nhà lập pháp không
sáng tạo ra các quan hệ xã hội, mà chỉ ghi chép phản ánh nó trong pháp luật". Nhưng nhà
nước ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự pháp luật.
Vì thế, pháp luật phải được tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Theo lôgíc đó
pháp luật phải là cơ sở, xuất phát điểm của việc đề ra các giải pháp tăng cường pháp chế
trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo hướng đã cần làm rõ khái niệm "pháp chế
XHCN trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của
Viện kiểm sát nhân dân" ở nước ta là gì? và xem xét những đặc trưng của pháp chế trong
hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND với
mục đích tìm kiếm các giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trên lĩnh vực quan trọng này
theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay ở nước ta.

vi phạm pháp luật đó là: vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm
kỷ luật nhà nước và vi phạm pháp luật hình sự. Do đó, nhiệm vụ của Nhà nước phải bảo vệ
pháp luật nhằm loại bỏ các hành vi vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống xã hội. Quyền tư

Trích đoạn Nguyên nhân dẫn đến những thành tích và ưu điểm đã đạt được Những vấn đề pháp lý đặt ra Quán triệt các quan điểm cải cách tư pháp trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ củaViện kiểm sát nhân dân và các cơ quan tư pháp nói riêng, cũng như cho nhân dân và cán bộ nó Nhận thức và thực hiện đúng các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn thực hành quyền công tố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status