KHÓA 2010 2014
GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
THS. N
BỘ MÔN: LUẬT THƢƠNG MẠI MSSV: 5105979
LỚP: LUẬT THƢƠNG MẠI 1
KHÓA 36
, tháng 11/2013
lý l
pháp
4
4
6
9
9
9
13
14
1.2.2.
14
15
1.2.2.3.
17
19
19
19
20
21
lý l
pháp
:
43
43
46
47
lý l
pháp
47
49
50
51
53
………………………………………………………………………………… 53
54
55
55
56
57
xuất hiện dƣới tên gọi “trọng tài kinh tế”. Tuy nhiên, ở nƣớc ta, khái niệm trọng tài thƣơng
mại vẫn là một khái niệm xa lạ. Số vụ tranh chấp đƣợc đƣa ra Trung tâm trọng tài thƣơng
mại khá ít. Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Phải thẳng thắn nhìn
nhận rằng, trọng tài thƣơng mại chƣa nhận đƣợc sự đánh giá cao từ giới doanh nhân Việt
Nam. Theo khảo sát của Bộ Tƣ pháp, phƣơng thức giải quyết tranh chấp mà họ ƣu tiên chọn
lựa là thƣơng lƣợng (57,8%), Toà án (46,8%), hoà giải (22,8%) và cuối cùng là trọng tài
(16,9%)
1
. Có một số nguyên nhân nhƣ: doanh nghiệp chƣa tin tƣởng trọng tài, hoặc chƣa
biết đến phƣơng thức này; hệ thống tổ chức trọng tài thƣơng mại hiện nay còn khá thƣa thớt
với chƣa đến mƣời trung tâm trọng tài (cụ thể là 9 trung tâm) và không phải trung tâm nào
cũng hoạt động hiệu quả; đội ngũ trọng tài viên với số lƣợng hạn chế và một số nguyên nhân
khác. Trong đó, không thể không kể đến nguyên nhân xuất phát từ bản chất của trọng tài.
Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong lĩnh vực kinh doanh thƣơng mại. Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nƣớc
nhƣ toà án. Do vậy, khi giải quyết tranh chấp, trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nƣớc
mà nhân danh công bằng, lẽ phải, nhân danh công lý để ra các phán quyết. Hoạt động trọng
tài mang tính “quyền lực tƣ” nhiều hơn. Chính vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, nhiều khi
trọng tài gặp khó khăn. Ví dụ, khi phán quyết trọng tài không đƣợc một bên tự nguyện thi
hành thì trung tâm trọng tài không có thẩm quyền cƣỡng chế thi hành phán quyết đó. Do đó,
sự hỗ trợ của các cơ quan tƣ pháp đối với hoạt động trọng tài là hết sức cần thiết. Giải quyết
tranh chấp bằng hình thức trọng tài thƣơng mại đang đƣợc khuyến khích. Bởi lẽ, đây là
phƣơng án vừa tiết kiệm thời gian (do thủ tục đơn giản hơn giải quyết tại tòa án) vừa hiệu
quả, lại bảo đảm đƣợc bí mật kinh doanh và giữ uy tín cho các doanh nghiệp (xuất phát từ
nguyên tắc xét xử không công khai của trọng tài thƣơng mại). 1
Theo trang thông tin điện tử: Trọng tài thƣơng mại: Quá trình hội nhập và phát triển
[ngày truy cập 02-8-2013]
Kết hợp với nghiên cứu và phân tích sách báo, tạp chí luật học, trang thông tin điện tử
để tìm hiểu những quy định của pháp luật về hỗ trợ tƣ pháp đối với hoạt động của trọng tài
thƣơng mại.
pháp
Trang 3
Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ tƣ pháp đối với hoạt động của trọng
tài thƣơng mại” ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì gồm
có 3 chƣơng:
-
. Chƣơng này đƣa ra cái
nhìn khái quát về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thƣơng mại và sự cần thiết của hỗ trợ
tƣ pháp đối với hoạt động của trọng tài thƣơng mại.
-
Chƣơng này nêu lên những quy định của pháp luật về hỗ trợ tƣ pháp của cơ
quan tƣ pháp (tòa án và cơ quan thi hành án) đối với hoạt động của trọng tài thƣơng mại.
- T
Chƣơng này nêu lên một số thực tiễn
trong viêc áp dụng Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010. Đồng thời, đƣa ra một số giải pháp
nâng cao vai trò của trọng tài thƣơng mại trong việc giải quyết tranh chấp.
pháp
Trang 4
C 1
I
pháp
Trang 5
bằng với tƣ cách là “ngƣời cầm cân nảy mực”, không bên vực hay nghiêng lý lẽ về bên
nào.
, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố tụng
chặt chẽ. Đối với trọng tài thƣờng trực, trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài
viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều
lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định. Còn đối với trọng tài vụ việc, các
bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng. Ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng
phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra.
, kết quả giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do trọng tài tuyên
bố với các bên đƣơng sự của vụ tranh chấp. Phán quyết của trọng tài mang tính chung
thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên đƣơng sự có thể thỏa thuận về trình tự thủ
tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với các cụ tranh chấp ), vừa kết hợp yếu tố tài
phán (có giá trị bắt buộc với các bên).
Với tƣ cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thƣơng mại, trọng tài có những đặc điểm sau:
, trọng tài là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp do các trọng tài viên tự
thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại.
Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nƣớc, không do Nhà nƣớc thành lập,
không hoạt động bằng ngân sách của Nhà nƣớc. Các trọng tài viên không phải là viên
chức Nhà nƣớc, không do Nhà nƣớc bổ nhiệm và cũng không hƣởng lƣơng từ ngân sách
Nhà nƣớc. Do đó, khi xét xử, trọng tài không nhân danh Nhà nƣớc để ra phán quyết, càng
không chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc không can thiệp sâu vào các
hoạt động của trọng tài, nhƣng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống
các quy định pháp luật, cũng nhƣ những tác động khác nhƣ tham gia điều ƣớc quốc tế,
đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất…
quyền lực của trọng tài xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên chủ thể
lựa chọn.
Kể cả khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài từ trƣớc hay khi tranh chấp đã phát sinh
và các bên quyết định sẽ đƣa tranh chấp giải quyết tại trọng tài, việc đầu tiên phải thống
nhất là hình thức trọng tài đƣợc lựa chọn. Các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận
sử dụng hình thức trọng tài vụ việc hoặc trọng tài thƣờng trực.
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài đƣơc lập ra theo yêu cầu của các đƣơng sự
để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể. Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động
trong thời gian giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên. Trọng tài sẽ tự giải thể khi giải
quyết xong vụ tranh chấp đó.
Trọng tài vụ việc chỉ tồn tại với tính chất lâm thời, không có trụ sở thƣờng trực,
không có bộ máy điều hành cố định và không có danh sách trọng tài viên riêng. Trọng tài
viên đƣợc các bên lựa chọn hoặc chỉ định có thể là ngƣời có tên trong danh sách trọng tài
viên hoặc không nằm trong danh sách trọng tài viên của bất kỳ trung tâm trọng tài nào.
Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng riêng cho mình mà quy tắc tố tụng để
giải quyết vụ tranh chấp đƣợc các bên thỏa thuận xây dựng. Tuy nhiên, nhằm tránh lãng
pháp
Trang 7
phí thời gian và công sức để xây dựng quy tắc tố tụng cho mình, các bên tranh chấp có
thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng nào. Thông thƣờng các doanh nghiệp
thƣờng lựa chọn các quy tắc tố tụng của các Trung tâm trọng tài có uy tín trong nƣớc
cũng nhƣ nƣớc ngoài.
Khi tiến hành xét xử, hội đồng trọng tài không bị lệ thuộc vào bất kì quy tắc tố tụng
nào. Tuy nhiên phải đảm bảo nguyên tắc xét xử khách quan, vô tƣ và đúng pháp luật.
Hoạt động của trọng tài vụ việc rất linh hoạt, phù hợp với những tranh chấp đơn giản.
Trọng tài viên do các đƣơng sự thỏa thuận lựa chọn không bị giới hạn bởi các trọng tài
viên sẵn có. Thông thƣờng trọng tài viên đƣợc chọn có thể là các thƣơng gia có tu nghiệp
pháp
Trang 8
, trung tâm trọng tài là các tổ chức phi Chính phủ, không nằm trong hệ
thống cơ quan Nhà nƣớc. Các trung tâm trọng tài đƣợc thành lập theo quyết định của các
trọng tài viên sau khi đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép chứ không phải
đƣợc thành lập bởi cơ quan Nhà nƣớc. Do đó, chúng không nằm trong hệ thống cơ quan
quản lí nhà nƣớc cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nƣớc. Hoạt động của
các trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không đƣợc cấp kinh phí từ ngân
sách Nhà nƣớc. Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền
lực nhà nƣớc mà nhân danh ngƣời thứ ba độc lập ra phán quyết. Đây chính là sự khác biệt
cơ bản giữa trung tâm trọng tài với tòa án và trọng tài kinh tế Nhà nƣớc trƣớc đây.
, các trung tâm trọng tài có tƣ cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau.
Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên cấp dƣới.
, tổ chức và quản lí ở trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ. Cơ cấu của
trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm. Cụ thể,
trung tâm trọng tài có ban điều hành bao gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch và
có thể có tổng thƣ kí do các chủ tịch trung tâm trọng tài cử ra. Các trọng tài viên trong
danh sách trung tâm trọng tài có thể tham gia vào việc giải quyết tranh chấp khi đƣợc
chọn hoặc chỉ định và hƣởng lƣơng theo vụ việc. Nguồn thu chủ yếu của trung tâm trọng
tài là từ lệ phí trọng tài khi đƣợc yêu cầu giải quyết tranh chấp.
, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và các quy tắc
tố tụng riêng trên cơ sở những quy định của pháp luật trọng tài. Việc xây dựng quy tắc tố
tụng của các trung tâm trọng tài thƣờng dựa trên cơ sở một bản quy tắc tố tụng trọng tài
hay một số công ƣớc quốc tế có liên quan cũng nhƣ bản quy tắc tố tụng của một số trung
tâm trọng tài quốc tế có uy tín.
, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài đƣợc tiến hành bởi các trọng tài
viên của trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp
chỉ đƣợc giới hạn trong danh sách trọng tài viên của trung tâm. Vì vậy, hoạt động xét xử
tài chƣa đƣợc biết đến một cách phổ biến ở Việt Nam
3
. Từ những năm đầu thập niên 60
của thế kỷ XX, trọng tài đƣợc biết đến dƣới tên gọi trọng tài kinh tế.
Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời của chế độ hợp đồng
kinh tế. Ngày 14/11/1960, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/TTg về Tổ
chức Trọng tài kinh tế Nhà nƣớc.
Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế cũng đã đƣợc ban
hành kèm theo Nghị định số 75-CP ngày 14/04/1975.
Tiếp theo đó, Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trƣởng,
Hội đồng Trọng tài kinh tế đƣợc thống nhất tên gọi là Trọng tài kinh tế, ngạch Trọng tài
viên đƣợc xác lập.
Ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trƣởng đã ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh,
huyện. 3
Đào Trí Úc – Những vấn đề cơ bản của Luật trọng tài thƣơng mại, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật Số 1/2010, trang
7
pháp
Trang 10
Ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nƣớc ban hành Pháp lệnh về Trọng tài kinh tế quy
định tổ chức, phân cấp thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế.
Nhƣ vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều
hành của Nhà nƣớc (Hội đồng Bộ trƣởng, Uỷ ban nhân dân các cấp), có chức năng quản
lý nhà nƣớc đối với công tác hợp đồng kinh tế. Nét đặc thù của Trọng tài kinh tế thể hiện
Ngoại thƣơng và Hội đồng trọng tài hàng hải) hoạt động theo Quyết định số 204/TTg.
pháp
Trang 11
Đồng thời cũng có 5 trung tâm trọng tài đƣợc thành lập theo Nghị định 116/CP. Các
trung tâm này chỉ chịu sự điều chỉnh của Nghị định 116/CP.
Các văn bản pháp luật nêu trên đều có hiệu lực pháp lý thấp, nội dung văn bản còn
có nhiều điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chƣa có cơ chế đảm bảo cần thiết để trọng tài
đƣợc vận hành có hiệu quả, khiến các doanh nghiệp không tin tƣởng lựa chọn trọng tài để
giải quyết tranh chấp.
Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003 có hiệu lực
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã có 6 Trung tâm trọng tài đƣợc
thành lập với hơn 130 trọng tài viên. Các trung tâm trọng tài đã thể hiện những vai trò
nhất định trong giải quyết các tranh chấp thƣơng mại. Tuy nhiên, đánh giá một cách
khách quan và khái quát thì trọng tài chƣa thể hiện đƣợc vai trò của mình với chức năng
là một cơ quan tài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Toà án trong việc giải quyết tranh
chấp. Đồng thời, qua quá trình hoạt động, các trung tâm này cũng đã thể hiện những bất
cập của pháp luật Việt Nam nhƣ: điều chỉnh không toàn diện, thiếu các quy định cụ thể,
một số nội dung lạc hậu không phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật thế
giới. Đặc biệt trong giai đoạn này, hình thức trọng tài vụ việc chƣa đƣợc quy định.
Nhằm khắc phục những hạn chế trên, đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài ngày càng tăng cũng nhƣ phù hợp với xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế, ngày
25/03/2003 Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 08/2003/PL-
UBTVQH về trọng tài thƣơng mại và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2003. Sự ra đời của
pháp lệnh đã đánh dấu một bƣớc phát triển mới của pháp luật nƣớc ta về trọng tài thƣơng
mại. Nếu trƣớc đây hoạt động Trọng tài đƣợc điều chỉnh tản mạn bằng các văn bản của
Chính phủ nhƣ Nghị định 116-CP ngày 5-9-1994, Nghị định số 204-TTG ngày 28-4-
1993, Quyết định 114-TTG ngày 16-2-1996 hoặc trong một số các luật nhƣ Bộ luật hàng
hải Việt nam 1990, Luật thƣơng mại 1997 thì nay Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại đã tạo
do các bên thành lập
6
.
- : quy định tại khoản 4 Điều 26 của Pháp lệnh cho
phép các bên lựa chọn trọng tài viên hoặc do tòa án chỉ định có thể nằm trong danh sách
của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam và đƣợc lựa chọn cả trọng tài nƣớc ngoài (chỉ áp
dụng trong trọng tài vụ việc). Quy định này của Pháp lệnh đã mở rộng quyền lựa chọn
trọng tài viên cho các bên tranh chấp. Điều này giúp họ có thể lựa chọn trọng tài viên
theo đúng với ý chí của mình.
- : trong Pháp lệnh 2003, trọng tài và tòa án
có mối quan hệ chặt chẽ hơn: tòa án giúp các bên lựa chọn trọng tài viên trong trƣờng
hợp cần thiết; tòa án ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp; tòa án giúp trọng tài lƣu
trữ hồ sơ; tòa án có quyền xem xét lại tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài và tòa án có
quyền hủy quyết định trọng tài theo yêu cầu của bên không đồng ý trong trƣờng hợp vi
phạm thủ tục tố tụng trọng tài
7
. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nƣớc đối với của
trọng tài qua việc hỗ trợ trọng tài nhiều hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp.
- : theo Điều 57 của Pháp lệnh thì
bên đƣợc thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cƣ trú
hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành phán quyết trọng tài. Điều này nhằm
tạo lòng tin cho các bên tranh chấp hơn về tính khả thi của phán quyết trọng tài. Do đó,
góp phần nâng cao chất lƣợng cũng nhƣ số lƣợng vụ việc tranh chấp đƣợc giải quyết.
- : theo Pháp lệnh 2003 thì chỉ những địa
phƣơng do chính phủ quy định mới đƣợc thành lập trung tâm trọng tài và Bộ trƣởng Bộ 4
bạc cũng ngày càng tăng trong khi Pháp lệnh năm 2003 chƣa thật sự phát huy hết vai trò
của mình.
Từ những thực trạng trên đã làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần phải khắc
phục bằng việc ban hành một đạo luật mới về trọng tài thƣơng mại để thay thế Pháp lệnh
trọng tài thƣơng mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp với Pháp
lệnh kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn.
Ngày 17/6/2010, Luật trọng tài thƣơng mại đã đƣợc Quốc hội hội nƣớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua, có hiệu lực ngày 01 tháng 01
năm 2011, thay thế cho Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại năm 2003. Với 13 chƣơng, 82
Điều, Luật trọng tài thƣơng mại đã thể chế hóa một cách đồng bộ cơ chế giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài ở nƣớc ta trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài
thƣơng mại năm 2003. Bên cạnh đó, so với Pháp lệnh, Luật trọng tài thƣơng mại có nhiều
quy định mới tiến bộ nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thƣơng mại. Sự ra đời của
Luật trọng tài thƣơng mại đã đánh dấu một bƣớc ngoặc quan trọng trong lịch sử phát triển
của các phƣơng thức giải quyết tranh chấp. Theo đó, những quy định về phƣơng thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài thƣơng mại đƣợc nâng lên thành luật với những quy định 8
Điều 14 Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại 2003
pháp
Trang 14
chặt chẽ hơn, phù hợp hơn và có khả năng đƣợc phổ biến hơn. Do đó, cũng phát huy
đƣợc hết vai trò của mình.
Những điểm mới cơ bản của Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010 bao gồm việc mở
rộng thẩm quyền của trọng tài; khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh trọng tài
tranh chấp thƣơng mại chính là việc lựa chọn hình thức, phƣơng pháp hay các hoạt động
để điều chỉnh, giải tỏa những bất đồng, xung đột để khắc phục và loại trừ những mâu
thuẫn phát sinh nhằm tạo lập lại sự cân bằng cũng nhƣ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể kinh doanh.
Trên thế giới nói chung cũng nhƣ ở Việt Nam nói riêng, tồn tại bốn phƣơng thức
giải quyết tranh chấp thƣơng mại, bao gồm: thƣơng lƣợng, hòa giải, tòa án và trọng tài
thƣơng mại. Trong đó, phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thƣơng mại là 9
Khoản 3 Điều 27 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010
10
Đƣợc quy định tại Điều 47 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010
11
Đƣợc quy định tại Điều 48 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010
12
Đƣợc quy định tại Điều 49 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010
13
Điều 50 Pháp lệnh trọng tài năm 2003
pháp
Trang 15
một phƣơng thức hữu hiệu, đƣợc nhiều doanh nghiệp trên thế giới tin tƣởng lựa chọn và
cũng đang đƣợc Nhà nƣớc ta khuyến khích áp dụng.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010 thì “Trọng tài thƣơng
mại là phƣơng thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và đƣợc tiến hành theo
quy định của Luật này”. Có thể hiểu, tranh chấp sẽ đƣợc đƣa ra giải quyết tại trọng tài
thƣơng mại nếu trƣớc hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài.
Điều này đồng nghĩa với việc các bên tham gia tranh chấp tự nguyện, gián tiếp trao
14
Khoản 5 Điều 4 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010
pháp
Trang 16
nhau (sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm). Đồng thời, việc xét xử tại trọng
tài chỉ diễn ra ở một cấp xét xử thay vì hai cấp xét xử nhƣ ở tòa án. Điều này giúp tiết
kiệm chi phí về thời gian cũng nhƣ tiền bạc cho các bên tranh chấp.
- Trọng tài xét xử không công khai
15
bởi tiến trình giải quyết của trọng tài có tính
riêng biệt. Hầu hết các quy định pháp luật về trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận
nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác. Đây là một ƣu điểm
quan trọng bởi các doanh nghiệp không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra
công khai trƣớc tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh
doanh của mình. Đặc biệt là những tranh chấp liên quan tới bí mật kinh doanh, các khiếm
khuyết của hàng hóa, sản phẩm kém chất lƣợng… vì điều này sẽ khiến doanh nghiệp mất
uy tín và ảnh hƣởng xấu đến việc kinh doanh của họ. Do đó, xét xử bằng trọng tài giúp
các doanh nghiệp bảo đảm đƣợc bí mật kinh doanh, giữ vững đƣợc uy tín và tránh nguy
cơ làm tổn thƣơng đến các mối quan hệ hợp tác làm ăn. Đó chính là những yếu tố tạo
điều kiện để các bên duy trì đƣợc quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau. Hơn
nữa, sự tự nguyện thi hành quyết định của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tƣởng tốt
hơn trong quan hệ làm ăn có thể diễn ra trong tƣơng lai.
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện tính năng động, linh hoạt và mềm
dẻo. Do đó dễ thích ứng hơn so với giải quyết tranh chấp bằng tòa án. Tòa án khi xét xử
phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, trình
tự, thủ tục đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và các văn bản hƣớng dẫn
liên quan. Điều này khiến giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trở nên nhanh chóng hơn.
hiện kết quả thƣơng lƣợng, hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên nên
trong nhiều trƣờng hợp tính khả thi không cao, không đƣợc đảm bảo thi hành.
Ngoài ra, trọng tài còn nhiều ƣu điểm khác nhƣ: trọng tài cho phép các bên đƣợc sử
dụng kinh nghiệm của các chuyên gia và điều này đƣợc thể hiện ở quyền chọn trọng tài
viên của các bên; khi xét xử, trọng tài không chịu sự chi phối bởi một cơ quan nào mà chỉ
chịu sự giám sát của tòa án trong một số mặt về thủ tục tố tụng…
Với những ƣu điểm nhƣ vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã ngày càng
trở thành một phƣơng thức tố tụng kinh doanh - thƣơng mại hữu hiệu và đƣợc các bên lựa
chọn bên ngoài tố tụng bằng tòa án.
Trên thế giới, hình thức giải quyết tranh chấp qua trọng tài thƣơng mại đang ngày
càng chiếm ƣu thế vì đây là phƣơng thức phù hợp hơn cả so với giải quyết tranh chấp
bằng thƣơng lƣợng, hòa giải hay tòa án. Thế nhƣng, ở Việt Nam, số lƣợng vụ tranh chấp
đƣợc giải quyết bằng trọng tài thƣơng mại vẫn còn khá khiêm tốn trong khi hệ thống toà
án luôn trở nên quá tải, dẫn đến làm ảnh hƣởng chất lƣợng vụ việc xét xử sơ thẩm, tăng
vụ việc xét xử phúc thẩm, kéo dài thời gian xử lý, tăng lƣợng vụ tồn đọng, không kịp giải
quyết. Nguyên nhân một phần do nhiều doanh nghiệp cho rằng các phán quyết của trọng
tài thƣơng mại sẽ không có giá trị thực thi, do chƣa hiểu hết đƣợc ƣu điểm và chƣa thật
sự đánh giá đúng vai trò của phƣơng thức này nên còn e dè và chƣa lựa chọn sử dụng
trọng tài nhƣ một phƣơng thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu. Theo thống kê của Trung
tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, tổng số vụ tranh chấp đƣợc đƣa ra giải quyết trong 17
năm tính từ năm 1993 đến năm 2012 chỉ có 639 vụ. Trong đó thấp nhất là năm 1993 chỉ 16
Điều 7 và Điều 66 Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010
pháp
nguyên tắc xét xử không công khai). Tính bí mật đƣợc thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp
và danh tính của các bên đƣợc giữ kín. Điều này giúp các doanh nghiệp giữ vững uy tín
của mình, không bị mất cơ hội cạnh tranh lành mạnh sau khi vụ tranh chấp kết thúc.
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp duy trì quan hệ đối tác làm ăn giữa các
doanh nghiệp. Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ đƣợc mối hoà
khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác 17
Theo trang thông tin điện tử của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam: Số vụ tranh chấp tại VIAC trong 17 năm
từ 1993 đến 2012, />nam-tu.aspx, [ngày truy cập 10-8-2013]
pháp
Trang 19
kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện. Xét xử bằng trọng
tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu
hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện
để các bên duy trì đƣợc quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau.
Nhƣ vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng con đƣờng trọng tài có vai trò hết sức
quan trọng trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thƣơng mại. Điều này cũng mang lại ý
nghĩa to lớn cho sự phát triển kinh tế nƣớc ta. Hiểu rõ vai trò đó, cần phát huy và hoàn
thiện những quy định pháp luật trong Luật trọng tài thƣơng mại năm 2010 nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của trọng tài trong nƣớc cũng nhƣ thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế
của nƣớc ta.
Tƣ pháp là bảo vệ luật pháp, thực thi công lý, đảm bảo cho pháp luật đƣợc thực hiện
và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật
18