1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN HUYỀN TRANG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
TRONG TÌNH HÌNH XÃ HỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên
HÀ NỘI - 2012
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng
17
1.3.1.
Kinh tế - xã hội
17
1.3.2.
Văn hóa truyền thống
19
1.3.3.
Cơ chế quản lý và pháp luật
19
1.3.4.
Hội nhập quốc tế
21
1.3.5.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ
22
1.4.
Pháp luật về kết hôn trái pháp luật ở việt nam qua các giai
đoạn phát triển
23
1.4.1.
Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong cổ luật Việt Nam
23 4
1.4.2.
Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong pháp luật Việt
Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
26
người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ
thích thuộc
58
2.7.
Kết hôn giữa những người cùng giới tính
61
2.8.
Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về đăng ký kết hôn
67
2.9.
Vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật
72
2.9.1.
Người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật
72
2.9.2.
Việc xử lý cụ thể đối với từng trường hợp kết hôn trái pháp luật
75
2.9.3.
Hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật
79
Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
82
3.1.
Nhu cầu khách quan và phương hướng hoàn thiện pháp luật
về kết hôn trái pháp luật
82
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Tình hình đăng ký khai sinh của trẻ em có cha mẹ chưa
đăng ký kết hôn hoặc chưa đủ điều kiện đăng ký kết hôn
71
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người đàn
ông và một người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và
chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc
kết hôn. Do đó, kết hôn đã trở thành một chế định được quy định độc lập trong
hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tại đó quy định cụ thể về những
điều kiện kết hôn hợp pháp cũng như các hình thức kết hôn trái pháp luật.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, những mối quan hệ cũng
như những vấn đề về tâm sinh lý của con người ngày càng trở nên phức tạp.
Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ hôn nhân, gia đình, trong đó có
việc kết hôn giữa hai bên. Trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp kết hôn trái
Luận văn thạc sĩ luật học của Khuất Thị Thúy Hạnh, Khoa Luật- Đại học Quốc
gia Hà Nội. Ở luận văn này, tác giả đánh giá về chế định kết hôn nói chung
trong đó các điều kiện kết hôn và kết hôn trái pháp luật chỉ là một phần nhỏ.
Một số các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật được đăng tải trên các Tạp chí Tòa
án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, Tạp chí Luật học… cũng đã có đề cập tới vấn đề này, tuy nhiên
chỉ dừng lại một khía cạnh nào đó. Ví dụ "Về khái niệm và bản chất pháp lý
của hôn nhân" của tác giả Nguyễn Hồng Hải trên Tạp chí Luật học số 2 năm
2000; "Mấy vấn đề về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính"
của tác giả Ngô Thị Hường trên Tạp chí Luật học số 3 năm 2001; "Nguyên tắc
áp dụng phong tục, tập quán trong Luật Hôn nhân và gia đình nhìn từ góc độ
giới" của tác giả Bùi Thị Mừng trên tạp chí Luật học số 3 năm 2007…
Như vậy, có thể nhận thấy mỗi công trình nghiên cứu là một sự khai
thác khác nhau, nhìn nhận vấn đề dưới các góc độ khác nhau. Với công trình
của mình, em sẽ tiếp cận vấn đề một cách tổng quan về lý luận cũng như thực 9
tiễn của việc kết hôn trái pháp luật. Do đó, công trình sẽ không phải là sự lặp
lại của bất kỳ công trình nào trước đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm kết hôn
trái pháp luật cũng như đường lối giải quyết việc kết hôn trái pháp luật.
Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cũng như các quy định
pháp lý về vấn đề kết hôn trái pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, đảm bảo trật tự xã hội. Đồng thời, phân tích, đánh giá, nhìn nhận
thực trạng và xu hướng phát triển các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện
chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề kết hôn trái pháp luật và khắc
phục hậu quả của kết hôn trái pháp luật.
pháp luật, luận văn chỉ xem xét những vi phạm nằm trong sự điều chỉnh của Luật
Hôn nhân và gia đình, chứ chưa đến mức độ phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận sử dụng chung cho mọi đề tài khoa học là phương
pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và luận văn này cũng
không nằm ngoài thông lệ đó. Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương
pháp bổ trợ như phương pháp so sánh, tổng hợp, đối chiếu, lịch sử để nhằm
đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện nhất. Trên cơ sở phương
pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật
điều chỉnh các quan hệ kết hôn trái pháp luật, đặc biệt đánh giá, phân tích về
thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này, em đã rút ra những ưu
điểm, tồn tại trong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể
nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương: 11
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về kết hôn trái pháp luật theo
pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về kết hôn trái pháp luật và
thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về
kết hôn trái pháp luật ở nước ta hiện nay.
12
Chương 1
hôn giữa cả những thế hệ bàng hệ, giữa anh chị em ruột với nhau. Tức là quan
hệ hôn nhân đã được điều chỉnh bởi những tục lệ được đặt ra trong khuôn khổ
các thị tộc, bộ lạc, các hình thức tổ chức xã hội thời đó, do đó, nếu quan hệ
hôn nhân tuân thủ theo những trật tự đặt ra thì sẽ được xã hội thừa nhận, cho
phép, ngược lại nếu không tuân thủ thì sẽ bị ngăn cản, phản đối. Cho đến giai
đoạn phồn thịnh của tôn giáo thì những trật tự tôn giáo do giáo chủ đặt ra còn
có sức mạnh cưỡng chế, áp đặt hơn nhiều so với các tập tục, ước lệ trước kia.
Dưới thời kỳ này, quan niệm về hôn nhân trái pháp luật chính là những quan
hệ hôn nhân không tuân thủ những trật tự tôn giáo của xã hội. Không chỉ tuân
thủ về các điều kiện kết hôn, mà về hình thức kết hôn thời kỳ này cũng rất
được coi trọng. Ví dụ như việc một cuộc hôn nhân hợp pháp phải được tổ
chức theo đúng nghi thức lễ giáo, tôn giáo. Như vậy, đến thời kỳ này, kết hôn
không còn là một sự kết hợp tự nhiên giữa những chủ thể khác giới mà đã trở
thành một nghi thức tôn giáo. Nếu đi ngược lại với những quy tắc đó thì
không những hôn nhân không được chấp nhận, bị ngăn cấm mà những chủ
thể còn bị trừng phạt bởi những chế tài rất hà khắc. Xã hội phát triển đến thời
kỳ phong kiến, hôn nhân mang tính chất dân sự, tức là sự bày tỏ ý chí của các
bên. Song hôn nhân không đơn thuần là sự kết hợp giữa đôi bên mà hôn nhân
còn là sự giao lưu giữa các dòng họ kèm theo đó là những mục đích về kinh
tế, chính trị nhất định. Chính vì vậy mà sự quyết định của cha mẹ là yếu tố bắt
buộc trong quan hệ hôn nhân, giữa hai gia đình thì nhất định là phải môn đăng
hộ đối… Và khi ấy, để xác lập quan hệ hôn nhân phải tuân theo những nghi
thức cưới hỏi nhất định. Sự kiện kết hôn chỉ được xác lập khi những nghi thức
như đính hôn, thành hôn được tiến hành theo đúng với phong tục, tập quán.
Như vậy, có thể khái quát rằng, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau
của xã hội, những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa đã dần được hình thành
và tác động trực tiếp tới các quy luật tự nhiên, điều chỉnh các mối quan hệ tự
nhiên đó theo những chuẩn mực mà xã hội đặt ra vì mục đích lợi ích của giai
cấp thống trị. Những quy định đó có thể mới chỉ dừng lại ở những tập tục, ước
vì thế mà khi đề cập đến vấn đề kết hôn, người ta thường không chỉ nói khái 15
niệm kết hôn nói chung mà thường nhắc tới cụm từ: kết hôn hợp pháp hay
hôn nhân hợp pháp. Vậy quan niệm thế nào là kết hôn hợp pháp? Theo quy
định của hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình tại Việt Nam hiện nay thì
nam nữ kết hôn được coi là hợp pháp khi đảm bảo hai yếu tố sau:
Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được
kết hôn với nhau, ý chí và mong muốn đó được thể hiện bằng lời khai của họ
trong tờ khai đăng ký kết hôn cũng như trước các cơ quan đăng ký kết hôn
theo quy định của pháp luật. Đây chính là điều kiện về yếu tố tự nguyện trong
hôn nhân, hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí thực của mình là mong muốn
xác lập quan hệ vợ chồng với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình, thương yêu,
chăm sóc cho nhau và cho con cái… Như vậy, có thể thấy yếu tố tự nguyện là
một trong những điều kiện quan trọng đầu tiên để đảm bảo cho hôn nhân có
giá trị pháp lý đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng gia đình bền vững.
Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận. Hôn nhân chỉ
được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân mà cụ thể là việc
kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng
ký kết hôn như C.Mác - Ph. Ăngghen: "Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng
ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người đó kết hôn…" [2,
tr. 345].
Để hôn nhân được pháp luật thừa nhận, các cơ quan đăng ký kết hôn
phải tiến hành điều tra, xác minh về những thông tin, lời khai của hai bên nam
nữ, đối chiếu với những điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9, Điều 10
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000. Khi đã thỏa mãn những điều
kiện trên thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký kết hôn
cho hai bên nam nữ. Như vậy, để hôn nhân được Nhà nước và pháp luật công
nhận, nam nữ phải tuân theo các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Đây
Để lý giải cho những quan niệm thời đó, chúng ta có thể dễ dàng tìm
ra câu trả lời trong chính nội tại bản thân xã hội phong kiến. Một xã hội
chuyên quyền, gia trưởng, một xã hội mà hôn nhân không phải là sự quyết
định của hai bên nam nữ, đó là mối quan hệ của cả một gia đình, dòng họ, 17
tầng lớp, một xã hội mà khái niệm dân chủ chưa hề xuất hiện. Chính vì thế,
nam nữ thời đó mặc nhiên chấp nhận việc kết hôn là việc của hai gia đình, sự
đồng ý của cha mẹ, họ hàng thân thích là một yếu tố bắt buộc mà thiếu nó
cuộc hôn nhân đó sẽ không được Nhà nước cũng như xã hội thừa nhận. Mặt
khác, bên cạnh những quy định trực tiếp điều chỉnh quan hệ hôn nhân, trong
pháp luật phong kiến còn có hàng loạt những quy định hà khắc dành cho con
người, đặc biệt là người phụ nữ, từ khi sinh ra họ đã không có quyền được đòi
hỏi bất kỳ một quyền lợi gì cho bản thân. Do đó, trong bất kỳ một việc gì
không riêng việc kết hôn họ cũng mặc nhiên chấp nhận những quy định đó,
phụ nữ mặc nhiên chấp nhận, đàn ông mặc nhiên chấp nhận, từ đời này qua
đời khác của cái xã hội phong kiến đó đã khiến những quy định của pháp luật
ăn sâu vào hệ tư tưởng của mỗi con người, tạo thành những quan niệm xã hội
mà không dễ gì thay đổi. Minh chứng cho việc đó là cho đến xã hội bây giờ,
khi pháp luật điều chỉnh là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, văn minh,
tiến bộ, dân chủ, công bằng thì trong tiềm thức của người Việt Nam sự kiện
kết hôn là một sự kiện trọng đại trong đời, hơn ai hết, cha mẹ phải là người
đồng ý, tán thành. Tất nhiên, đó không còn là một căn cứ luật định, song với
truyền thống, phong tục của người Việt Nam thì thường việc kết hôn của hai
bên nam nữ vẫn không thể thiếu được sự đồng ý của cha mẹ.
Tương tự như vậy, đối với các nước tư bản, chính những điều kiện
sống, những yếu tố về xã hội, con người, kinh tế cũng đã quyết định đến
những quan niệm của xã hội, theo đó, pháp luật điều chỉnh cũng có những xu
hướng phù hợp. Về vấn đề kết hôn, có thể nói pháp luật của một số nước
lao động - thẩm quyền đã được quy định cho Viện công tố và Viện kiểm sát
trong 34 năm từ năm 1950 đến năm 2004. Như vậy, có thể nói rằng, pháp luật
hiện nay khi đưa ra những quy định để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia
đình đều rất mềm dẻo, linh hoạt sao cho vừa có thể bảo vệ được quyền và lợi
ích của các bên, bảo vệ trật tự xã hội vừa có thể phù hợp với tâm tư, tình cảm
của con người. Không chỉ có vậy, quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là
quan hệ kết hôn còn mang trong nó những đặc điểm riêng biệt mà ngay cả
trong quan hệ dân sự cũng không có được. Đó chính là việc mọi sự thỏa 19
thuận, mọi sự bình đẳng đều được gắn liền với yếu tố tình cảm, gắn với trách
nhiệm của vợ, của chồng đối với gia đình, con cái. Bởi đây chính là mối quan
hệ gốc mà từ đó sẽ phát sinh các quan hệ về ruột thịt, quan hệ nuôi dưỡng…
Đối với người Việt Nam, tình cảm gia đình luôn là một điều thiêng liêng, mà
ở đó những quy định của pháp luật có thể sẽ trở nên bất cập nếu như chỉ là
những quy định mang tính nguyên tắc mà bỏ qua yếu tố tình cảm trong đó. Có
thể dẫn ra đây một ví dụ nhỏ nhưng hết sức thực tế trong trường hợp này, đó
là khi xử lý việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm Điều 10 Luật Hôn nhân và
gia đình Việt Nam năm 2000 cấm "kết hôn với người mất năng lực hành vi
dân sự" [28]. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì những trường hợp
như vậy sẽ bị Tòa án xử hủy kết hôn trái pháp luật. Nhưng việc xử lý đó sẽ
không bao giờ đạt được mục đích nếu như gia đình họ vẫn đang êm ấm, vợ
chồng thương yêu, cảm thông, chia sẻ cùng nhau mọi khó khăn. Nếu xử lý
việc kết hôn của họ bằng việc hủy kết hôn trái pháp luật thì chẳng phải là đã
phá vỡ một mái ấm gia đình hay sao? Ví dụ trên để khẳng định rằng quan
niệm về hôn nhân hợp pháp cũng như cơ sở để xác định kết hôn trái pháp luật
không chỉ căn cứ bởi những tiêu chí chung như đạo đức, chính trị, xã hội,
nguyên tắc nhân đạo hay mục đích của hôn nhân… Mà hơn hết, những quan
niệm đó phải luôn gắn với yếu tố tình cảm, trách nhiệm, sự yêu thương gắn bó
quan tâm, kết hôn do cưỡng ép, lừa dối sẽ là những hành vi bị lên án. Đối với
những trường hợp tảo hôn, khi nam nữ chưa đủ tuổi kết hôn mà vẫn tiến hành
những cuộc hôn nhân, điều đó không chỉ đơn thuần là xâm hại đến quyền tự
do, tự nguyện của con người mà còn vi phạm những quy định của pháp luật
liên quan đến việc bảo vệ trẻ em, thậm chí còn có thể phạm vào một số tội
quy định trong Bộ luật hình sự. Kết hôn đồng giới sẽ xâm hại đến những quy
định của pháp luật Việt Nam về việc kết hôn giữa nam và nữ… Không chỉ
gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của những cá nhân, việc kết
hôn trái pháp luật còn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý của các cơ
quan nhà nước. Những cuộc hôn nhân không hợp pháp, kết hôn không có
đăng ký kết hôn khiến cho các cơ quan nhà nước khó có thể nắm bắt và quản 21
lý được các vấn đề liên quan đến hộ tịch, khai sinh hay giải quyết những tranh
chấp khác.
1.2.2. Hệ quả về mặt xã hội
Quan hệ hôn nhân vốn là một quan hệ xã hội, chính vì vậy, trước
những hành vi kết hôn trái pháp luật dẫn đến những cuộc hôn nhân bất hợp
pháp không chỉ gây ra những hệ quả về pháp lý mà chắc chắn sẽ còn gây ra
những hệ quả về mặt xã hội một cách nặng nề. Kết hôn trái pháp luật không
thể tạo ra những gia đình hạnh phúc, lành mạnh. Một gia đình được hình
thành và tồn tại để thực hiện tốt những chức năng của nó phải được xây dựng
trên cơ sở tình yêu của hai bên nam nữ, sự thương yêu, gắn kết và tự nguyện
chung sống, thực hiện tốt bổn phận của mình, phải được thiết lập giữa những
chủ thể khác giới có đầy đủ những tiêu chuẩn về thể lực, sinh lý, tâm lý…
Nếu như việc kết hôn thiếu đi những yếu tố đó thì sẽ không thể tạo ra được
những gia đình bền vững, thực hiện tốt được các chức năng của mình. Đó
chính là những tế bào không tốt, tạo nên một xã hội bất ổn định, ảnh hưởng
đến rất nhiều các mặt khác của đời sống xã hội. Mặt khác, những hành vi kết
những trường hợp quy định tại các khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 10 Luật
Hôn nhân và gia đình thì bắt buộc phải hủy việc kết hôn đó mà không có một
ngoại lệ nào. Tùy vào mức độ vi phạm, hậu quả của hành vi vi phạm mà pháp
luật còn xem xét để xử lý về mặt hình sự đối với những hành vi phạm tội
được quy định trong Bộ luật hình sự. Như vậy, có thể nói, việc xử lý các hành
vi vi phạm chế độ kết hôn là một tất yếu, nó không chỉ giúp pháp luật được
hiện hành trên thực tế mà còn có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Bằng các
chế tài của pháp luật, việc xử lý kết hôn trái pháp luật đã góp phần bảo về
quyền và lợi ích chính đáng của công dân, các chủ thể bị hành vi kết hôn trái
pháp luật này xâm hại. Bảo vệ những quyền lợi ích của những chủ thể đặc
biệt trong xã hội như bảo vệ phụ nữ và trẻ em, xử lý nghiêm minh đối với
những hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe cũng như nhân thân của
những đối tượng này. Mang lại quyền bình đẳng, quyền lợi hợp pháp cho các
chủ thể chính là ý nghĩa lớn nhất của mỗi quy định pháp luật. Không chỉ bảo 23
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân trong xã hội, việc xử lý các
hành vi vi phạm này còn giúp các cơ quan nhà nước thuận tiện trong quá trình
quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quan hệ hôn nhân và gia đình là những quan hệ vô
cùng nhạy cảm nên việc xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật không chỉ
đơn thuần là việc dùng sức mạnh của pháp luật để xử lý những vi phạm mà
hơn thế những chế tài đó còn phải thật phù hợp với thực tế cuộc sống, hướng
tới mục tiêu quan trọng nhất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con
người. Pháp luật luôn đi đôi với pháp chế, đòi hỏi sự tuân thủ tuyệt đối của tất
cả các chủ thể trong xã hội, nhưng áp dụng pháp luật để xử lý những vi phạm
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì lại phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt,
không chỉ dựa trên quy định của pháp luật mà còn phải căn cứ vào thực tế các
quan hệ hôn nhân cụ thể. Mục đích và ý nghĩa của việc xử lý những hình thức
với hiện tượng kết hôn trái pháp luật. Ngày nay, cùng với sự phát triển của
kinh tế thị trường, Việt Nam cũng đã có những chuyển biến căn bản và rõ rệt.
Tình trạng gả bản, ép duyên dẫn đến kết hôn trái pháp luật chỉ còn tồn tại ở
một số dân tộc miền núi, ít người. Song mặt trái của sự chuyển biến về kinh tế
lại gây ra một tác động còn mạnh mẽ hơn đối với tình trạng kết hôn trái pháp
luật. Sức mạnh của đồng tiền đã làm biến đổi ngay cả những hành vi, những
xử sự thường nhật. Mục đích kinh tế được đặt lên trên khiến người ta có thể
dễ dàng bỏ qua những lẽ sống, những chuẩn mực. Kết hôn lại được chuyển
hóa thành những hợp đồng, những thỏa thuận mang nặng mục đích kinh tế mà
coi nhẹ đi những chức năng của gia đình. Cũng vì vậy mà những cuộc hôn
nhân không hạnh phúc và tỷ lệ ly hôn ngày nay đang gia tăng, vẫn bởi những
lý do rất xưa cũ nhưng bản chất của nó thì không đơn thuần như những lý do
thời trước mà nguy hiểm hơn nó còn trở thành một lối sống, một lối tư duy.
Và suy cho cùng thì chính kinh tế, chính những mục đích lợi nhuận đã làm
biến đổi cả bộ mặt của xã hội trong đó có quan hệ hôn nhân. Cơ sở hạ tầng sẽ
quyết định kiến trúc thượng tầng trong xã hội, tạo ra sự phân hóa lao động,
những hiện tượng di cư dự do… Trong một bối cảnh xã hội như vậy sẽ dẫn
đến việc hình thành những lối sống hiện đại, những lối sống mang tính chất 25
"thoáng" hơn. Do đó, cách xử sự của các chủ thể trong những mối quan hệ xã
hội cũng tất yếu bị ảnh hưởng. Vì những lý do, những mục đích khác nhau, họ
có thể coi nhẹ giá trị của gia đình, của hôn nhân, và điều đó dẫn đến vi phạm
những quy định về hôn nhân hợp pháp là điều không thể tránh khỏi.
1.3.2. Văn hóa truyền thống
Một xã hội tồn tại không thể thiếu những giá trị văn hóa, giá trị tinh
thần. Việt Nam là một dân tộc có bề dầy văn hóa lịch sử, đặc biệt còn có sự
ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng nho giáo, coi trọng gia đình, coi hôn nhân là
một việc trọng đại với những quy định và chuẩn mực khắt khe. Tuy nhiên