Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tái phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ NGỌC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI PHẠM THEO
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2013

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lê Thị Ngọc
MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN Trang

LỜI CAM ĐOAN


1.3.1
Phân biệt tái phạm với phạm tội nhiều lần 25
1.3.2
Phân biệt tái phạm với phạm nhiều tội 28
1.3.3
Phân biệt tái phạm với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp 30
1.4
Tính nguy hiểm đáng kể của tái phạm và sự cần thiết phải trừng phạt
nghiêm khắc đối với tái phạm
33
1.4.1
Tính nguy hiểm đáng kể của tái phạm 33
1.4.2
Sự cần thiết phải trừng phạt nghiêm khắc đối với tái phạm
35
1.5
Quy định về tái phạm trong luật hình sự của một số nước trên thế giới 36

Kết luận chương 1

43 Chương 2. CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÁI PHẠM TRONG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
46
2.1

3.1.2
Phương hướng hoàn thiện chế định tái phạm trong pháp luật hình sự
Việt Nam
83
3.2
Vấn đề hướng dẫn áp dụng chế định tái phạm trong quá trình giải
quyết các vụ án hình sự
86
3.3
Một số giải pháp phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế định
tái phạm trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự
87

Kết luận chương 3
89

KẾT LUẬN
90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
93 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa
BLHS Bộ luật Hình sự
TNHS Trách nhiệm hình sự
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới các quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Khi một hành vi đã bị Nhà nước coi là tội
phạm (biểu hiện bằng việc quy định nó là một tội danh trong luật hình sự) thì
nhất định người thực hiện hành vi ấy phải chịu sự trừng phạt. Sự trừng phạt
tội phạm bằng các chế tài hình sự - biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất của
Nhà nước là rất cần thiết nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội;
khôi phục lại công bằng, trật tự cho xã hội; răn đe, ngăn ngừa sự phát sinh
những tội phạm mới.
So với tội phạm thông thường thì tái phạm là trường hợp phạm tội thể
hiện tính nguy hiểm cho xã cao hơn bởi vì tái phạm có nghĩa là sự phạm tội
lần nữa của người trước đây đã từng phạm tội và bị kết án về hành vi phạm
tội ấy. Tính nguy hiểm không phải chỉ thể hiện ở chỗ người này thực hiện
nhiều tội phạm mà quan trọng hơn nữa là người phạm tội đã từng gánh chịu
biện pháp xử lý về hình sự, từng được cơ quan chức năng giáo dục, cải tạo
nhưng không ăn năn, hối cải. Vì vậy, tái phạm bị coi là một yếu tố đặc biệt
xấu trong nhân thân người phạm tội và được quy định là một tình tiết làm
tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội ở hầu khắp
các quốc gia trên thế giới. Không có ai có thể nghi ngờ về tính đúng đắn,
công bằng và cần thiết của đường lối xử lý nghiêm khắc hơn đối với người tái
phạm so với trường hợp phạm tội thông thường.
Nhận thức được tính nguy hiểm cao cho xã hội trong trường hợp tái
phạm và sự cần thiết phải xử lý hình sự nghiêm khắc hơn đối với người tái
phạm, nhà làm luật nước ta đã sớm quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS)
năm 1985 và tái khẳng định trong BLHS năm 1999 về tái phạm là tình tiết
tăng nặng TNHS. Ngoài ra, tái phạm cũng là tình tiết định tội hoặc định
khung tăng nặng trong nhiều quy định của hai Bộ luật này. Ngoài quy định
trong hai lần pháp điển hóa luật hình sự nói trên, Nhà nước ta cũng ban hành

của chế định này. Ví dụ như được đề cập đến trong sách tham khảo “Chế định
3

nhiều tội phạm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS. Lê Văn Đệ xuất
bản năm 2003 bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hay được phân tích trong
mục III - Chế định nhiều (đa) tội phạm, chương IV về Tội phạm trong Sách
chuyên khảo Sau đại học: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
- Phần chung” của PGS.TSKH. Lê Văn Cảm do Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội xuất bản năm 2005.
Tái phạm cũng được nghiên cứu với tư cách là một trong các tình tiết tăng
nặng TNHS trong các giáo trình luật hình sự của các cơ sở đào tạo chuyên ngành
luật hoặc các sách bình luận khoa học về phần chung bộ luật hình sự. Chẳng hạn
như “Giáo trình luật hình sự Phần chung” của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội xuất bản năm 2001 do TSKH. Lê Văn Cảm chủ biên. Hay “Giáo trình luật
hình sự Việt Nam” Tập 1 của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2007
bởi tại Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hoặc gần đây nhất là sách “Bình luận
khoa học BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 - Phần chung” do TS.
Nguyễn Đức Mai chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2012.
Tuy nhiên, trong các sách này thường chỉ đơn thuần phân tích nội dung quy
định pháp luật hình sự thực định về tái phạm.
Tái phạm còn được đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các tạp chí
chuyên ngành luật như: “Hoàn thiện chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm” của
tác giả Nguyễn Thị Xuân (Tạp chí Tòa án nhân dân số 9 năm 2001); “Những quan
điểm khác nhau khi xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm

theo quy định của
BLHS năm 1999 và Nghị quyết số 32/1999/NQ- QH10”của tác giả Nguyễn Thị
Mai (Tạp chí Tòa án nhân dân số 1 năm 2003); “Xác định tái phạm, tái phạm
nguy hiểm trong các tội chiếm đoạt có yếu tố đã bị kết án” của tác giả Nguyễn Chí
Công (Tạp chí Tòa án nhân dân số 15 năm 2004); “Xóa án tích với việc xác định

phạm, tìm ra giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về tái phạm
và nâng cao hiệu quả áp dụng chúng, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
1) Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tái phạm như: xây dựng khái
niệm khoa học về tái phạm, tìm ra các đặc điểm cơ bản của tái phạm, ý nghĩa
pháp lý hình sự của chế định này; so sánh, phân biệt tái phạm với các hình thức
đa tội phạm khác, chứng tỏ sự cần thiết phải trừng phạt nghiêm khắc hơn đối
với tái phạm so với các trường hợp phạm tội thông thường; nghiên cứu tham
5

chiếu quy định trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về tái phạm.
2) Phân tích quá trình hình thành, phát triển và nội dung quy định về tái
phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
3) Thống kê, phân tích tình hình áp dụng chế định tái phạm trong xét xử
vụ án hình sự ở Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2011; đánh giá kết quả áp
dụng, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng tái phạm và nguyên
nhân của chúng cả về mặt lập pháp cũng như thực tiễn.
4) Từ kết quả nghiên cứu trên, đề xuất các giải pháp hoàn thiện chế
định tái phạm trong pháp luật hình sự nước ta, hướng dẫn áp dụng chế định này
trong thực tiễn cũng như kiến nghị một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm tái phạm nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng
hợp, đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật hình sự, khoa học
luật tố tụng hình sự, tội phạm học, xã hội học pháp luật trong các công trình
của các nhà khoa học - luật gia ở trong và ngoài nước.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng trung thực các số liệu thống kê của các cơ
quan áp dụng pháp luật, các sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành để làm rõ
những tri thức khoa học liên quan đến đề tài.

và sự cần thiết phải trừng phạt nghiêm khắc đối với trường hợp tái phạm.
1.1.
Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa pháp lý hình sự của tái
phạm
1.1.1. Khái niệm tái phạm
Tái phạm là một tình tiết tăng TNHS thuộc nhân thân người phạm tội có ý
nghĩa quan trọng trong quyết định hình phạt. Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái
niệm tái phạm chưa được các nhà khoa học quan tâm xây dựng. Trong các nghiên
cứu liên quan đến tình tiết này người ta thường sử dụng định nghĩa pháp lý về tái
phạm được quy định bởi BLHS. Tuy nhiên, vì mục đích đánh giá chính quy định
của BLHS về tái phạm bao gồm định nghĩa pháp lý nêu trên nên trong nghiên
cứu này cần phải xây dựng một khái niệm chuẩn về tái phạm để làm cơ sở so
sánh.
Thuật ngữ “tái phạm” trong tiếng Anh “ricidivism” có nguồn gốc từ
“recidivus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là sự lặp lại [40; tr.1083]. Còn trong
tiếng Việt, về mặt ngữ nghĩa, “tái phạm” là một từ ghép Hán Việt được cấu thành
bởi hai từ “tái” và “phạm”. Trong đó “phạm” có nghĩa là “làm tổn hại tới điều
cần gìn giữ”, “mắc phải điều cần né tránh” [37; tr.1235]. Những điều cần gìn
giữ, cần né tránh đó thường được xác định bởi những quy phạm xã hội như kỷ
luật, pháp luật, đạo đức… Nói cách khác, “phạm” là làm điều không nên làm,
điều không được làm, trái với các quy phạm xã hội. Còn “tái” là “lại một lần
8

nữa”, “lần thứ hai” [37; tr.1417]. Ghép hai từ lại, tái phạm có nghĩa là lại một lần
nữa/lần thứ hai vi phạm quy tắc.
Trong thực tiễn, tái phạm có thể được sử dụng để mô tả sự lặp lại hành vi
vi phạm các loại quy tắc điều chỉnh xã hội khác nhau nhưng chủ yếu và phổ biến
nhất là được sử dụng để chỉ sự lặp lại hành vi vi phạm pháp luật.
Dưới góc độ tội phạm học, GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm cho rằng “tái phạm
(hay tái phạm tội) là sự phạm tội trở lại của kẻ phạm tội đã mãn hạn tù hoặc thi

đối với B chưa được thi hành thì B lại bị bắt vì cho vay nặng lãi. Hành vi phạm
tội lần sau của B dứt khoát phải là hành vi tái phạm mặc dù B chưa thi hành xong
hình phạt đối với hành vi phạm tội lần trước. Do vậy, theo chúng tôi việc lấy dấu
hiệu đã chấp hành xong hình phạt để làm căn cứ xác định tái phạm là không
chính xác.
Tương tự với quan điểm của GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, nhà tội phạm học Mỹ
Michael D.Maltz cho rằng: “Người tái phạm là người sau khi mãn hạn tù (vì đã thực
hiện một tội phạm) không hoàn lương mà thay vào đó họ lặp lại lối ứng xử cũ và tiếp
tục phạm tội” [39; tr.54]. Quan điểm này thậm chí còn hẹp hơn quan điểm trên vì theo
Maltz: chỉ người đã từng phạm tội, bị tuyên hình phạt tù, đã thi hành xong hình phạt
tù mà thực hiện tội phạm lần nữa mới là tái phạm. Tức là hành vi được coi là tái phạm
khi thỏa mãn hai điều kiện:
1) Người phạm tội trước đây đã từng phạm tội, đã bị kết án tù vì hành vi phạm
tội đó;
2) Lần phạm tội này được thực hiện khi người đó đã thi hành xong hình phạt tù
nói trên.
Theo đó những người đã bị kết án nhưng chỉ phải chịu hình phạt khác, không
phải hình phạt tù hoặc người bị kết án phạt tù nhưng chưa thi hành xong mà lại phạm
tội mới thì không phải là tái phạm. Việc lấy dấu hiệu thi hành xong hình phạt (mà ở
đây còn chỉ gồm hình phạt tù) để xác định tái phạm rõ ràng là chưa hợp lý như đã
phân tích ở trên.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, khái niệm tái phạm lần đầu tiên
được nhắc đến ở cuốn “Đại Nam hình pháp” của TS. Lê Trung Chánh xuất bản
10

năm 1943: “Khi nào đã làm một điều phi vi, Tòa án đã xét xử xong rồi, và án đã
chung thẩm rồi, đã thành bất canh cải rồi, mà lại làm điều phi vi nữa thì mới
được gọi là tái phạm” [10; tr.102].
Khái niệm này mô tả tái phạm rất đơn giản, rõ ràng, đi thẳng vào bản chất
của tái phạm là sự phạm tội lần nữa. Tuy đơn giản nhưng trong khái niệm này

đã có hiệu lực pháp luật); “mà lại làm điều phi vi nữa” (nghĩa là lại phạm tội
mới).
Có quan điểm gần tương đồng với TS. Lê Trung Chánh, tác giả Đàm
Trung Mộc trong cuốn “Hình luật tập giảng” xuất bản năm 1961 đưa ra khái
niệm: “Tái phạm là tình trạng một người trước đã bị kết án về một tội, về sau
lại phạm và bị truy tố nữa” [20; tr.82]. Cũng cho rằng tái phạm là hành vi
phạm tội mới của người trước kia đã từng phạm một tội và đã bị kết án về tội
đó nhưng trong khái niệm này không đưa ra điều kiện bản án kết tội đó phải
đã có hiệu lực pháp luật khi chủ thể thực hiện tội phạm mới. Khi bản án kết
tội một người chưa có hiệu lực pháp luật nghĩa là người đó chưa có tội; người
chưa có tội mà phạm tội thì không phải là tái phạm. Do vậy, tuy quan điểm
gần nhau nhưng về điều kiện của tái phạm thì khái niệm của tác giả Đàm
Trung Mộc ít chặt chẽ hơn khái niệm của TS. Lê Trung Chánh phân tích ở
trên. Bên cạnh đó, tác giả này cũng không đề cập đến điều kiện người phạm
tội chưa được xóa án tích của lần phạm tội trước.
Tóm lại, tái phạm (tái phạm tội) phải là hành vi phạm tội lần nữa của người đã
từng phạm tội. Người đã từng phạm tội ở đây là dấu hiệu về mặt pháp lý chứ không
phải thực tế. Người đã từng phạm tội trên phương diện pháp lý hình sự là người đã bị
kết tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền và chưa được
xóa án tích. Theo đó, một hành vi phạm tội bị coi là tái phạm khi đáp ứng các điều
kiện sau:
Thứ nhất, người phạm tội là người đã từng bị kết án về một tội phạm nào đó
theo quy định pháp luật và bản án kết tội ấy phải đã có hiệu lực pháp luật;
Thứ hai, tội phạm đang xét xử phải được thực hiện sau khi bản án kết tội lần
trước có hiệu lực pháp luật;
Thứ ba, bản án kết tội lần trước để lại án tích, đến thời điểm thực hiện tội phạm
12

mới này án tích đó vẫn chưa được xóa.
Chỉ khi nào đáp ứng những điều kiện chung đó một hành vi phạm tội mới

thừa nhận chung. Khoản 2 Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp quốc
nêu: “Không ai bị kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bị coi là
một tội hình sự theo quy định của luật pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm
đó. Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự
nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể
như vậy”.
Điều 15 Công ước của Liên Hợp quốc về những quyền chính trị, dân sự
năm 1966 tiếp tục khẳng định: “Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do
những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội
hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay quốc tế áp dụng hồi đó; mà cũng
không bị tuyên cáo một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời
gian phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được quyền hưởng hình phạt khoan hồng hơn
chiếu theo luật mới ban hành sau ngày phạm pháp”.
Do vậy, tái phạm với tư cách là một tình tiết tăng nặng TNHS “nhất
thiết phải được các nhà làm luật ghi nhận chỉ trong pháp luật hình sự thực
định (mà ở nước ta là trong Bộ luật hình sự năm 1999), chứ không thể trong các
văn bản pháp lý nào khác hoặc không thể do Tòa án tự xem xét để cân nhắc (như
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự)” [35; tr.36].
Đặc điểm thứ hai: tình tiết tái phạm chỉ xuất hiện (có mặt) trong vụ án cụ
thể, đối với người phạm tội cụ thể chứ không phải là yếu tố bắt buộc phải xem
xét ở mọi vụ án, đối với mọi người phạm tội. Các dấu hiệu của cấu thành tội
phạm là đặc điểm chung về mặt lập pháp, là các thuộc tính điển hình và chủ yếu
hơn cả, đặc trưng cho tội phạm ấy [7; tr.334] phải xem xét đối với mọi hành vi
phạm tội và được áp dụng ngang nhau đối với mọi cá nhân phạm tội.
Ngược lại,
tái phạm nói riêng và các tình tiết tăng nặng TNHS nói chung không có đặc tính
điển hình, phổ biến như vậy. Không phải vụ phạm tội nào cũng có tình tiết tái
phạm và ngay trong những vụ phạm tội có tình tiết tái phạm thì cũng không phải
tất cả những người phạm tội đó đều tái phạm. Ví dụ A và B cùng nhau đi cướp, A
14

248 của BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009) quy định về tội đánh bạc thì để bị
15

coi là có tội trong trường hợp giá trị đánh bạc dưới 2.000.000 đồng, người phạm
tội phải đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm. Như vậy tái phạm là yếu tố cấu thành bắt buộc để định tội đối
với người đánh bạc có giá trị thấp hơn 2.000.000 đồng. Tòa án khi xét xử không
thể tiếp tục lấy tình tiết tái phạm đó làm căn cứ quyết định hình phạt theo hướng
tăng nặng đối với người phạm tội này.
Tương tự như vậy, trường hợp tái phạm là tình tiết được luật quy định với
tính chất là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm thì không thể coi
nó là tình tiết tăng nặng TNHS nữa. Khi được quy định là tình tiết định khung
tăng nặng có nghĩa tái phạm là căn cứ cho phép Tòa án tăng mức hình phạt đối
với người phạm tội chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn. Khi đó Tòa án
không được phép tiếp tục xử dụng tái phạm làm căn cứ để quyết định chọn hình
phạt cụ thể trong khung hình phạt này. Ví dụ khoản 2 Điều 161 BLHS Việt Nam
năm 1999 quy định phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm là khung hình phạt tăng nặng của tội trốn thuế, áp
dụng khi giá trị trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng hoặc
giá trị trốn thuế dưới 300.000.000 đồng những người phạm tội phải có dấu hiệu
tái phạm tội trốn thuế. Theo đó khi xét xử người trốn thuế với giá trị dưới
300.000.000 đồng (tất nhiên phải trên 100.000.000 đồng theo cấu thành cơ bản
của tội này) mà có dấu hiệu tái phạm tội trốn thuế thì có thể áp dụng khung hình
phạt từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm. Sau đó, Tòa án không được tiếp tục dùng tình tiết tái phạm để cân nhắc mức
phạt cao trong khung được áp dụng nói trên vì không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị
trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm.
Tóm lại, khi tái phạm đã là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt thì
không được xem xét nó như một tình tiết tình tiết tăng nặng TNHS nữa. Nguyên
tắc này cũng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 48 BLHS Việt Nam năm 1999.

trong môi trường sống sau này Người phạm tội mang trên mình án tích chứng
tỏ đã từng phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm hình sự nhưng không khiếp
sợ hay ăn năn, hối cải mà vẫn tái phạm thì chứng tỏ đó là người ít có khả năng
giáo dục, cải tạo được.
Đặc điểm thứ sáu: Căn cứ xác định tái phạm không liên quan đến tội phạm
đang xem xét, mà thuộc về lý lịch (quá khứ) của người phạm tội. Để xác định một
hành vi phạm tội có phải tái phạm hay không thì không thể căn cứ vào diễn biến,
17

hành vi, hậu quả, công cụ, phương tiện, khách thể, đối tượng xâm hại, ý thức chủ
quan khi phạm tội… mà lại căn cứ trên lý lịch tư pháp của người phạm tội - một
tài liệu không liên quan trực tiếp đến sự việc phạm tội. Tái phạm chỉ được xác
định khi người phạm tội có tiền án, tức là trong lý lịch tư pháp của người ấy có
dấu tích của bản án kết tội mà đến khi phạm tội lần này dấu tích ấy vẫn chưa
được xóa bỏ. Điều đó có nghĩa, căn cứ của tái phạm có sẵn từ quá khứ của người
tái phạm chứ không phát sinh trong quá trình thực hiện tội phạm.
1.1.3. Ý nghĩa pháp lý hình sự của tái phạm
Với đặc điểm là một tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội, có ảnh
hưởng làm gia tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tái phạm cần phải
được quy định trong pháp luật hình sự với tư cách là một tình tiết tăng nặng
TNHS. Bên cạnh đó, trong một số tội phạm cụ thể, tái phạm còn có thể được sử
dụng làm tình tiết định tội danh hoặc định khung hình phạt. Những quy định về tái
phạm đó có ý nghĩa pháp lý hình sự hết sức quan trọng:
Thứ nhất, việc ghi nhận tái phạm với tư cách một tình tiết tăng nặng TNHS
phản ánh chính sách hình sự nghiêm khắc và công bằng của Nhà nước. Coi tái
phạm là tình tiết tăng nặng TNHS thể hiện thái độ lên án gay gắt của nhà nước
đối với người tái phạm. Người tái phạm cần thiết phải bị trừng phạt nghiêm khắc
hơn người phạm tội lần đầu bởi vì người tái phạm đã từng phạm tội, đã từng trải
qua các biện pháp trừng phạt, giáo dục, cải tạo do hành vi phạm tội trước đây mà
vẫn tiếp tục phạm tội chứng tỏ tính ngoan cố, không chịu phục thiện trong nhân

hồng, giảm nhẹ.
Thứ ba, tái phạm là một trong những căn cứ quyết định hình phạt.
Để hình phạt áp dụng với người phạm tội đạt được mục đích mang lại sự
công bằng cho xã hội; giáo dục, cải tạo, răn đe người phạm tội; giáo dục, răn đe
chung với xã hội thì hoạt động quyết định hình phạt phải căn cứ đồng thời trên:
1) quy định của BLHS; 2) tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội; 3) nhân thân người phạm tội; 4) các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng
trách nhiệm hình sự.
Là một tình tiết tăng nặng TNHS thuộc nhân thân người phạm tội nên tái
phạm là một trong những căn cứ để Tòa án cân nhắc mức hình phạt (theo hướng
nghiêm khắc hơn). Tuy nhiên, tình tiết tái phạm chỉ làm thay đổi “lượng” “mức”
19

hình phạt được quyết định trong phạm vi một khung hình phạt tương ứng được
quy định cho hành vi phạm tội ấy. Ví dụ như khung hình phạt tương ứng đối với
tội phạm đang xét xử được quy định là từ 12 đến 18 năm tù; nếu có tình tiết tái
phạm Tòa án có thể quyết định hình phạt trong khoảng nhiều hơn 12 năm tù, gần
đến và tối đa là 18 năm tù chứ không thể trên 18 năm tù. Điều này có thể hình
dung giống như khung hình phạt là một chiếc bình đựng nước có dung tích cố
định, người đổ nước vào là Tòa án, lượng nước chính là lượng hình phạt, Tòa án
không thể vì có tình tiết tái phạm hay tình tiết tăng nặng TNHS nào khác mà đổ
vào bình lượng nước lớn hơn dung tích của nó được. Nguyên lý này đảm bảo cho
tính linh hoạt của hoạt động quyết định hình phạt nhằm phù hợp với sự biểu hiện
đa dạng của tội phạm trong thực tế để hình phạt đạt được hiệu quả cao nhất
nhưng vẫn có sự khống chế, tránh tùy tiện khi quyết định hình phạt.
Với những trường hợp tái phạm được quy định là tình tiết định khung hình
phạt như phân tích trong mục 1.1.2 trên thì nó là căn cứ để quyết định áp dụng
khung hình phạt ấy chứ không được sử dụng làm căn cứ cân nhắc mức, lượng
hình phạt trong khung được áp dụng nữa.
Thứ tư, tái phạm trong một số trường hợp là căn cứ định tội danh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status