Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội trốn thuế trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VIỆT DŨNG

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TỘI TRỐN THUẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng Hà Nội – 2010
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Bộ luật Hình sự BLHS
Bộ luật Tố tụng Hình sự BLTTHS
Cảnh sát điều tra CSĐT
Công an nhân dân CAND
Cơ quan điều tra CQĐT
Pháp lệnh Tổ chức Điều tra Hình sự PLTCĐTHS
Tội phạm kinh tế TPKT

16
1.3 . Phân biệt tội Trốn thuế với các loại tội phạm khác
26
Chương 2: Thực trạng và hoạt động đấu tranh phòng, chống tội
trốn thuế ở Việt Nam
32
2.1. Thực trạng tội phạm trốn thuế ở Việt Nam
32
2.2. Hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trốn thuế ở
Việt Nam
57
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng, chống tội trốn thuế ở Việt Nam
66
3.1. Dự báo tình hình tội phạm trốn thuế
67
3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm trốn thuế ở Việt Nam
70
3.3. Những kiến nghị
73
Kết luận
77
Danh mục những tài liệu tham khảo
78
Phụ lục
80


4
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm
trốn thuế mà chỉ có một số chuyên đề nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm về
hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trốn thuế, cụ thể: Chuyên đề của
Vụ 1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao về “Thực tiễn công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về tội trốn thuế, một số
giải pháp và kiến nghị” trong đó đã nghiên cứu những vấn đề thực tiễn và
những vấn đề khó khăn vướng mắc hiện nay trong quá trình xử lý tội trốn
thuế; đồng thời đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng đấu tranh đối với loại
tội phạm trốn thuế trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, với cấp độ nghiên cứu chuyên đề và thời gian nghiên cứu
diễn ra từ trước năm 2006 nên nhiều vấn đề nổi cộm trong thời gian gần đây
chưa được đề cập.
Trong đề tài này tác giả mạnh dạn đi vào nghiên cứu chuyên sâu nhằm
đánh giá đúng thực trạng tội phạm trốn thuế hiện nay và những thủ đoạn tinh
vi nhất là trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, qua đó để đưa ra những
giải pháp nhằm ngăn chặn, xử lý và đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội
phạm này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật hình sự và các qui định của pháp luật
hiện hành về thuế, đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng về tình hình,
nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội trốn thuế nhằm đưa ra các giải
pháp nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống loại
tội phạm này.
Để đạt được mục đích nêu trên đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội trốn thuế quy định tại
Điều 161 Bộ luật Hình sự năm 1999;


6. Yếu tố mới của luận văn
Thông qua phân tích những vấn đề lý luận trên cơ sở các qui định pháp
luật hiện hành và thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án trốn
thuế, từ những vụ án cụ thể rút ra được những thủ đoạn trốn thuế phổ biến
hiện nay. Qua đó tác giả đã đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao, đấu
tranh có hiệu quả đối với tội phạm trốn thuế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội trốn thuế.
Chương 2: Thực trạng đấu tranh phòng, chống tội phạm về trốn thuế.
Chương 3: Những giải pháp nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tội
trốn thuế. 7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỐN THUẾ

1.1. Các qui định của pháp luật về tội trốn thuế qua các giai
đoạn lịch sử
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà được thành lập. Chính quyền non trẻ cùng lúc phải đối phó
với thù trong, giặc ngoài lại gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Để bảo vệ
thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám, Nhà nước ta hết sức chú trọng
đến việc giữ vững an ninh quốc gia đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật
nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Đặc điểm chung của pháp luật
thời kỳ này là chưa có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, hệ thống hoá các
qui định của pháp luật còn hạn chế trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh
vực kinh tế. Tuy nhiên, trước sự phát triển kinh tế từng ngày, đòi hỏi quản

tính chất nghiêm trọng của hành vi trốn thuế.
Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế thông thường chỉ bị xử phạt tiền;
tịch thu một phần hoặc toàn bộ hàng hoá gian lận hay đình chỉ hoạt động. Ví
dụ, khoản 3 Điều 15 Điều lệ thuế hàng hoá qui định “ nếu có hành động trốn
thuế, lậu thuế như khai man khối lượng, giá cả, phẩm chất hàng hoá, tàng trữ
vận chuyển và bán hàng không có chứng từ hợp lệ, ghi chép sổ sách không
đúng thực tế thì có thể bị phạt từ một đến hai lần số thuế gian lậu, hoặc bị xử
phạt theo cả hai hình thức nói trên”.
Trường hợp tái phạm, trốn thuế có tổ chức sẽ bị truy tố ra Toà án.
Theo qui định tại Điều 18 Điều lệ tạm thời ban hành kèm theo Nghị
định số 661/TTg ngày 12/1/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về thuế

9
thổ trạch thì “người nào cố tình dây dưa thuế, chống thuế, có thể bị truy tố
trước toà án”.
Trong số các hình phạt trên, phạt tiền được áp dụng chủ yếu với mức
phạt tiền từ một đến năm lần số thuế gian lận (Điều lệ hàng hoá, thuế thổ
trạch, thuế sát sinh, thuế công thương nghiệp).
Luật thuế doanh nghiệp qui định có thể áp dụng hình phạt tiền lên tới
một đến mười lần số thuế định gian lận (Điều 12 Thông tư 427-TTg ngày
18/12/1954 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn về xử phạt các hành vi gian
lận thuế).
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật thời kỳ này vẫn chưa có điều luật
mang tính khái quát chung về tội trốn thuế, cũng như chưa có sự phân định rõ
ràng trốn thuế với tính chất là một tội phạm và trốn thuế với tính chất vi phạm
pháp luật hành chính trong lĩnh vực thuế. Ngày 15/3/1976 Chính phủ ban hành
Sắc luật 03/76 qui định về tội phạm kinh tế. Điều 6 Sắc luật 03 qui định:
“Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về kinh tế tài chánh cho nhà nước, cho
hợp tác xã hoặc tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát
triển sản xuất, cho ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, gồm các loại:

tội kinh doanh trái phép:
“Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội
dung được phép, trốn thuế, không niêm yết giá, nâng giá cao hơn giá niêm
yết, không đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng
hoá hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan Nhà nước và người tiêu
dùng thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị
phạt tù từ ba tháng đến hai năm, và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng
phạm pháp”.

11
Như vậy, cùng với sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam, phạm
vi xác định tội phạm trốn thuế ngày càng được cụ thể hoá rõ hơn. Trong Pháp
lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm
1982, hành vi trốn thuế được coi là một trong những hành vi khách quan của
tội kinh doanh trái phép, nằm trong nhóm tội xâm phạm trật tự kinh tế.
Hình phạt được qui định đối với tội kinh doanh trái phép (trong đó có
hành vi trốn thuế) là cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị
phạt tù từ ba tháng đến hai năm, cùng với nó còn bị phạt tiền gấp ba lần trị giá
hàng phạm pháp. Như vậy, hình phạt tiền là hình phạt bắt buộc đối với mọi
đối tượng phạm vào tội phạm này. Ngoài hình phạt tiền, người phạm tội còn
bị áp dụng một trong hai hình phạt là cải tạo không giam giữ và phạt tù.
Kỳ họp Quốc hội khoá VII năm 1985 đã thông qua Bộ luật hình sự đầu
tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là công cụ sắc bén
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật hình sự 1985
ra đời trên cơ sở kế thừa các qui định của các văn bản pháp luật trước. Trong
đó đã quy định cụ thể tội Trốn thuế tại Điều 169 như sau:
“Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà
còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù
từ ba tháng đến ba năm”.

Sau một thời gian thực hiện Bộ luật hình sự năm 1985, với sự phát triển
của nền kinh tế đất nước, qui định tại Điều 169 Bộ Luật hình sự 1985 cũng
như nhiều điều luật khác đã không còn phù hợp, cần được sửa đổi, bổ sung.
Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời, khắc phục những hạn chế bất cập của
Bộ luật hình sự năm 1985 và đáp ứng được yêu cầu tình hình kinh tế xã hội
trong thời kỳ đổi mới.

13
Tội trốn thuế được qui định tại Điều 161 Bộ luật hình sự năm 1999
như sau:
“1. Người nào trốn thuế với số tiền từ năm mươi triệu đồng đến dưới
một trăm năm mươi triệu đồng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn
thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội qui định tại các
điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230,
232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,
thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo
không giam giữ đến hai năm.
2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ một trăm năm mươi triệu đồng đến
dưới năm trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần
đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ năm trăm triệu đồng trở lên hoặc
trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến
bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền
trốn thuế”.
So với qui định của Bộ luật hình sự năm 1985, qui định về tội trốn thuế
của Bộ luật hình sự năm 1999 có một số sửa đổi đáng chú ý sau:
Thứ nhất, dấu hiệu xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
trốn thuế đã được định lượng cụ thể. Trước kia trong Bộ luật hình sự năm 1985
dấu hiệu này được qui định là “trốn thuế với số lượng lớn” nay được sửa thành

trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành
chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các
tội qui định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193,
193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được

15
xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền
trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.
2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu
trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm
lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
3. Phạm tội trốn thuế từ sáu trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường
hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền
trốn thuế.”
Như vậy, số tiền trốn thuế để có thể bị khởi tố và chịu trách nhiệm hình
sự theo khoản 1 điều 161 đã thay đổi từ 50 triệu đồng đến một mức mới là
100 triệu đồng. Đồng thời căn cứ để áp dụng khoản 2 và khoản 3 cũng được
thay đổi lên một mức mới là ba trăm đến sáu trăm triệu đồng và trên sáu trăm
triệu đồng.
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế
1.2.1. Chủ thể của tội trốn thuế
Theo pháp luật hình sự Việt Nam chủ thể của tội phạm trốn thuế là
người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
theo luật định. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có khả năng nhận thức được tính chất
nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của mình và có khả năng điều khiển
được hành vi ấy.
Ngoài ra, chủ thể của tội phạm này chỉ là những người phải nộp thuế
theo qui định của pháp luật. Chủ thể của tội phạm phụ thuộc vào đối tượng

hành vi dùng thủ đoạn gian dối để không phải đóng thuế hoặc đóng ít hơn
mức thuế phải nộp. Mặt khách quan được thể hiện bằng hành vi sau: Khai báo

17
gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức
thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng: hành vi này thường thể hiện ở việc
gian dối trong kê khai hàng hoá trong sản xuất hoặc kinh doanh, ví như kinh
doanh không đăng ký hoặc đăng ký không đúng quy mô sản xuất, chủng loại
hàng hoá; sử dụng các giấy tờ, chứng từ không đúng quy định hoặc sửa chữa
chứng từ, hoá đơn hoặc dùng chứng từ hoá đơn quay vòng nhiều lần. Hậu quả
trực tiếp của hành vi trốn thuế là gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.
Tội phạm chỉ cấu thành khi số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên
hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc
đã bị kết án về tội này hoặc về các tội quy định tại các điều 153, 154, 155,
156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và
238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Đối với tội trốn
thuế, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Nếu người phạm tội không có thủ đoạn gian dối để trốn thuế mà chỉ có
hành vi chây ỳ không chịu nộp thuế thì không phải là hành vi trốn thuế mà tuỳ
từng trường hợp có thể bị xử phạt hành chính theo qui định của pháp luật về
hành vi chậm nộp thuế. Nếu người có nghĩa vụ phải nộp thuế, nhưng trốn
tránh việc nộp thuế bằng cách rời khỏi nơi cư trú hoặc bỏ trốn để không phải
nộp thuế thì bị coi là hành vi trốn thuế.
Nếu sau khi đã nộp đầy đủ thuế cho Nhà nước, nhưng sau đó lại dùng
thủ đoạn gian dối để được hoàn thuế thì hành vi đó của người phạm tội là
hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hành vi trốn nộp thuế có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau
nhưng đều có chung một mục đích là không phải nộp khoản tiền hoặc nộp ít
hơn số tiền lẽ ra phải nộp vào ngân sách nhà nước. Hành vi đó có thể là không
kê khai nộp thuế; kê khai không đúng căn cứ tính thuế để trốn một phần thuế


19
Không kê khai thuế, để ngoài sổ sách kế toán số liệu kế toán: Kê khai
thuế là một trong các hoạt động giúp các cơ quan chức năng quản lý một
cách hiệu quả về thuế của các doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở để cơ quan
chức năng tính thuế, đảm bảo tính công bằng về nghĩa vụ giữa các thành
phần kinh tế.
Ví dụ: Vụ Công ty TNHH ở Bắc Kạn được thành lập với chức năng
chuyên khai thác mỏ. Sau khi đi vào hoạt động một thời gian có hiệu quả,
Giám đốc doanh nghiệp này đã bán 50% cổ phần cho một doanh nghiệp khác.
Tuy có hợp đồng chuyển nhượng vốn, nhưng Công ty này đã không kê khai
lợi nhuận của hợp đồng từ việc chuyển nhượng vốn vào báo cáo tài chính
năm. Chỉ đến khi cơ quan Công an kiểm tra mới phát hiện được phần lợi
nhuận không kê khai, doanh nghiệp này đã trốn thuế 586 triệu đồng. Đây
chính là thuế thu nhập doanh nghiệp 28% mà lẽ ra doanh nghiệp phải kê khai
để nộp vào ngân sách nhà nước.
Để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, ngoài thủ đoạn mua bán hoá đơn
GTGT nhằm nâng cao phần chi phí trong sản xuất, các doanh nghiệp đã mua
hoá đơn GTGT của các doanh nghiệp “ma”, nâng giá trị hàng hoá xấp xỉ với
giá thị trường, làm thủ tục bán hàng lòng vòng qua nhiều doanh nghiệp khác
nhau để giấu đầu vào triệt tiêu lợi nhuận trong kinh doanh.
Kê khai không đúng căn cứ tính thuế theo qui định của từng sắc thuế:
Kê khai căn cứ tính thuế là cơ sở để xác định chính xác số thuế phải nộp. Việc
kê khai không đúng căn cứ tính thuế cũng là một trong các hành vi trốn thuế.
Ví dụ như việc nhập khẩu ô tô con đã qua sử dụng thì thuế xuất sẽ thấp hơn
với nhập ôtô con mới 100%. Công ty trách nhiệm Phú Cường đã hợp đồng
với 1 Công ty có trụ sở tại Mỹ nhập 50 xe ôtô Hon Da ACURA mới 100%
nhưng làm một số chi tiết cũ đi như lốp xe, quay đồng hồ Congtơmet, rồi tiến
hành mở tờ khai hải quan là xe cũ để giảm thuế nhập khẩu.


cải tạo mặt đê Bối xã Chu Phan, huyện Mê Linh, Công trình cải tạo dốc lên
bằng bê tông tả Sông Hồng…)
Các hành vi kê khai không đúng căn cứ tính thuế nhằm trốn thuế rất
đa dạng:
Thứ nhất, lập sổ sách kế toán chứng từ không đúng sự thật so với
thực tế để trốn thuế. Đây cũng là một trong các thủ đoạn mà các doanh
nghiệp thường áp dụng để trốn thuế. Hiện nay các doanh nghiệp thường lập
hai hệ thống sổ sách kế toán, một sổ để đối phó với cơ quan thuế, một hệ
thống sổ sách thật để quản lý việc sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Thứ hai, sử dụng hoá đơn chứng từ không đúng sự thật để trốn thuế giá
trị gia tăng.
Đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT): hoá đơn chứng từ được coi là
bằng chứng quan trọng khi xác định phần giá trị tăng thêm, là cơ sở để các cơ
quan chức năng xác định số thuế phải nộp. Vì thế, một số doanh nghiệp
thường thành lập công ty con hoặc công ty ma, làm giả các hợp đồng kinh tế
với đối tác không có thực với mục đích có được hoá đơn GTGT để bán cho
các đối tượng kinh doanh khác kiếm lời bất chính. Các doanh nghiệp mua lại
hoá đơn GTGT lại dùng hoá đơn này để hợp thức hoá số hàng nhập lậu nhằm
chiếm đoạt tiền thuế. Đây là thủ đoạn phổ biến của tội phạm trốn thuế trong
thời gian gần đây.
Ví dụ, ngày 05/01/2002, Phòng cảnh sát kinh tế Công an Thành
phố Hồ Chí Minh đã phát hiện hành vi trốn thuế tại Công ty TNHH
thương mại Vĩnh Tâm có trụ sở đóng tại quận Tân Bình, TP HCM. Chỉ từ
tháng 10/2004 đến tháng 2/2006 Công ty đã mua hoá đơn của các công ty
khác để hợp thức hàng hoá đầu vào, trốn 745,6 triệu đồng tiền thuế đồng
thời mua 72 quyển hoá đơn bán ra ngoài tiếp tay cho các đối tượng khác
trốn thuế.

22
Các đại lý chính thức của HonDa Việt Nam có tên gọi là HEAD bán xe

Vừa qua, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an – Bộ Công an đã ra quyết định
khởi tố vụ án; bị can đối với Nguyễn Văn Bằng về tội “trốn thuế”. Theo tài liệu
trong hồ sơ xác định được Nguyễn Văn Bằng đã thành lập 3 công ty và thuê 3
người làm giám đốc. Sau đó, Bằng chỉ đạo các công ty ký các hợp đồng ngoại
thương nhập khẩu các mặt hàng gồm 160,6 tấn giấy, 08 xe ôtô các loại đã qua sử
dụng và 7.436 tấn Clanh-ke trị giá 276.542USD từ nước ngoài về Việt Nam theo 6
tờ khai hải quan về tiêu thụ hàng tại nội địa rồi bỏ trốn khỏi nơi kinh doanh. Tổng
cộng 3 công ty mà Bằng lập ra đã trốn không nộp thuế với số tiền là 6,452 tỷ đồng.
1.2.4. Mặt chủ quan của tội trốn thuế
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm các
dấu hiệu: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Nguyên tắc có lỗi là một trong
những nguyên tắc được qui định trong luật hình sự Việt nam. Có lỗi là cơ sở
chủ quan để có thể buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
nguy hiểm cho xã hội của mình và về hậu quả do hành vi đó gây ra. Nếu
không có lỗi thì chủ thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, dù cho hành vi
họ thực hiện đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Điều 8 Bộ luật hình sự
qui định: Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi được thực
hiện một cách có lỗi cố ý hoặc vô ý.
Chủ thể bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu
họ đã lựa chọn hành vi đó trong khi có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác phù
hợp với đòi hỏi của xã hội.
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi
thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi
khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.

Trích đoạn Mặt chủ quan của tội trốn thuế Phân biệt tội Trốn thuế với tội Buôn lậu (Điều 153 BLHS) Dự báo tình hình tội phạm trốn thế trong thời gian tớ Các giải pháp chung: Những giải pháp cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status