ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHÚ BIỀN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHÚ BIỀN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Luật hình sự và tố tụng hình sự
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Sơn
1.3. Quy định của Bộ luật hình sự một số nƣớc về chủ thể chịu trách nhiệm
hình sự .......................................................................................................... 14
1.3.1. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự
Liên bang Nga ........................................................................................... 14
1.3.2. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ................................................................ 16
1.3.3. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình
sự Nhật Bản............................................................................................... 19
1.3.4. Quy định trong về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
hình sự Cộng hòa Liên bang Đức ............................................................. 20
Chƣơng 2: THỰC TIỄN QUY ĐỊNH VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ TRONG BLHS VIỆT NAM HIỆN HÀNH ................................... 23
2.1. Các dấu hiệu chung của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự................... 23
2.1.1. Năng lực trách nhiệm hình sự ......................................................... 23
2.1.2. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự ........................................................ 26
2.2. Dấu hiệu đặc biệt của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. ..................... 29
Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ CHỦ THỂ CHỊU
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH NÀY .............. 40
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về chủ thể
chịu trách nhiệm hình sự .............................................................................. 40
3.1.1. Thực tiễn áp dụng quy định về tình trạng không có năng lực chịu
TNHS ........................................................................................................ 40
3.1.2. Thực tiễn áp dụng quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự ....... 44
3.1.3 Thực tiễn áp dụng quy định về dấu hiệu đặc biệt của chủ thể chịu
trách nhiệm hình sự. .................................................................................. 50
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện quy định của BLHS về chủ thể chịu trách
nhiệm hình sự. .............................................................................................. 56
Trách nhiệm hình sự
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những vấn đề quan trọng của luật hình sự là vấn đề chủ thể
chịu TNHS. Xác định đúng chủ thể chịu TNHS có ý nghĩa quan trọng không
chỉ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, mà còn trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời dân. Đây không chỉ là vấn đề luôn đòi hỏi
các cơ quan tƣ pháp có thẩm quyền phải giải quyết trong việc điều tra, xác
định tội phạm, xử lý ngƣời phạm tội mà việc giải quyết vấn đề này còn có ý
nghĩa to lớn về mặt lý luận và trong thực tiễn áp dụng Luật Hình sự, trong
việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nói chung.
BLHS năm 1999, kế thừa và phát triển BLHS năm 1985, là bƣớc phát
triển mới trong quy định về chủ thể chịu TNHS trong luật hình sự nƣớc ta.
Nhiều quy định liên quan đến TNHS và chủ thể chịu TNHS đã đƣợc sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng
pháp luật đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm có hiệu quả. So với BLHS
năm 1985 thì BLHS năm 1999 có nhiều điểm mới trong quy định về chủ thể
chịu TNHS, đặc biệt thể hiện ở quy định về tuổi chịu TNHS.
Tuy nhiên, từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực đến nay vẫn còn nhiều
- Nghiên cứu cụ thể về các dấu hiệu của chủ thể chịu TNHS nhƣ tuổi,
năng lực chịu TNHS có thể kể đến các công trình nhƣ: “Vấn đề năng lực
TNHS - từ lí thuyết đến sự thể hiện trong BLHS Việt Nam” của GS.TS
Nguyễn Ngọc Hòa, Tạp chí luật học số 4/2014; “Thực thi công ước quyền trẻ
em ở Việt Nam: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chế tài đối với người chưa
thành niên phạm tội”của tác giả Phạm Thị Thanh Nga, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, Số 8/2014. “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt
Nam”, của tác giả Phạm Văn Báu, Tạp chí Luật học số 10/2014.; “Năng lực
2
trách nhiệm hình sự nhìn từ góc độ so sánh pháp luật một số quốc gia trên thế
giới”, của PGS.TS. Hồ Sĩ Sơn, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số 2/2011.
- Nghiên cứu về dạng chủ thể chịu TNHS là tổ chức hoặc pháp nhân
trong luật hình sự thì hiện nay có tƣơng đối nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này nhƣ: “TNHS của pháp nhân: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
của GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2000; “Pháp
nhân có phải là chủ thể của tội phạm không”, của PGS.TS. Phạm Hồng Hải,
Tạp chí Luật học 6/1999; “Về vấn đề TNHS của pháp nhân”, của tác giả
Nguyễn Công Quý, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật 10/2010; “Các học thuyết
về cơ sở TNHS của pháp nhân” của PGS.TS. Trần Văn Độ, Tạp chí Nhà nƣớc
và pháp luật 6/2011; “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật
hình sự” của PGS.TS. Trịnh Quốc Toản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
năm 2011; “Sự cần thiết của việc quy định TNHS đối với pháp nhân ở Việt
Nam hiện nay” của PGS.TS. Cao Thị Oanh, Tạp chí luật học 12/2011;
“Trách nhiệm hình sự của chủ thể là tổ chức và vấn đề sửa đổi Bộ luật hình
sự Việt Nam” của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Tạp chí Luật học, số 12/2014...
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đƣa ra bàn luận và giải
quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
đặt ra là:
+ Phân tích, làm rõ những vấn đề chung về chủ thể chịu TNHS.
+ Phân tích, đánh giá các quy định của BLHS hiện hành về chủ thể
chịu TNHS.
+ Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành về chủ
thể chịu TNHS.
+ Đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành về
chủ thể chịu TNHS và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể
nhƣ phƣơng pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh.
4
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành là công trình nghiên cứu có tính hệ thống và toàn
diện những vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định về chủ thể chịu
TNHS trong BLHS hiện hành, trên cơ sở đó đƣa ra giải pháp hoàn thiện các
quy định này và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn. Kết quả nghiên
cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong thực tiễn áp dụng của
các cán bộ thực tiễn, làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu của
các học gia, học viên và sinh viên chuyên ngành luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 3 chƣơng
Chương 1: Những vấn đề chung về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự
Chương 2: Thực tiễn quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự
trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
thể chịu TNHS là ngƣời cụ thể khi thỏa mãn các điều kiện nhất định.
Bên cạnh quan niệm truyền thống cho rằng chủ thể chịu TNHS là cá
nhân con ngƣời cụ thể là quan điểm mở rộng phạm vi chủ thể chịu TNHS khi
cho rằng chủ thể chịu TNHS không chỉ là cá nhân mà còn có thể là tổ chức.
7
Xuất phát điểm của quan niệm này là từ việc xác định tổ chức là một thực
thể độc lập, đƣợc thành lập bởi các cá nhân theo trình tự, thủ tục luật định, hoạt
động của tổ chức đƣợc thực hiện bởi bộ máy vận hành là sự tập hợp của nhiều
ngƣời, tổ chức chỉ theo đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn kiện sáng lập ra nó.
Tổ chức hoàn toàn có ý riêng của mình, bởi vì nó sinh ra và tồn tại bằng sự gặp
gỡ với những ý chí cá nhân của các thành viên của mình. Những ngƣời theo
quan điểm đồng ý thiết lập trách nhiệm hình sự của tổ chức cho rằng pháp nhân
là một thực thể có thực (giống nhƣ thể nhân), có ý thức và có thể thực hiện hành
vi của mình; và khi thực hiện hành vi thì nó cũng sẽ có thể có lỗi.
Nhƣ vậy, tổ chức có thể tự quyết định một cách tự do và hoạt động theo
những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo
nên pháp nhân đó. Tổ chức đƣợc thành lập, hoạt động, tồn tại và phát triển bằng
sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình. Tổ chức có ý thức,
ý chí, mong muốn riêng của mình, đƣợc xử sự tự do và hƣởng quyền tự chủ của
chủ thể có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy, có năng lực thực
hiện tội phạm một cách có lỗi và đƣơng nhiên có thể bị xử lý về hình sự. Trƣờng
hợp áp dụng hình phạt đối với tổ chức thì thay cho hình phạt tử hình hoặc các hình
phạt tƣớc hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với tổ chức phạm
tội, những loại hình phạt khác đƣợc xây dựng trong luật hình sự tƣơng hợp hoàn
toàn với bản chất các tổ chức phạm tội với mục đích làm cho nó phải chịu hình
phạt về những gì tổ chức đã gây ra. Từ những lập luận trên, quan điểm ủng hộ tổ
chức có thể là chủ thể chịu TNHS đã và đang ngày càng phát triển ở các nƣớc trên
Nhƣ vậy, tổ chức là chủ thể chịu TNHS đối với tội phạm đƣợc xác định
tổ chức là chủ thể của tội phạm và đƣợc thực hiện nhân danh tổ chức, vì lợi
ích của tổ chức.
Từ những phân tích trên có thể rút ra định nghĩa chung về chủ thể chịu
TNHS nhƣ sau: Chủ thể chịu TNHS gồm người có năng lực TNHS, đạt độ
tuổi chịu TNHS hoặc tổ chức khi thỏa mãn các điều kiện luật định thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách có lỗi, bị luật hình sự cấm.
9
1.2. Lịch sử quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong luật
hình sự Việt Nam
1.2.1. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình
sự năm 1985 có hiệu lực
Sau Cách mạng tháng 8/1945, cùng với việc hình thành và phát triển
đất nƣớc, hệ thống pháp luật hình sự cũng đƣợc hình thành và trải qua quá
trình phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc,
đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử.
Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 chịu ảnh hƣởng sâu
sắc bởi các điều kiện lịch sử của đất nƣớc trong giai đoạn này. Giai đoạn này
nƣớc ta chƣa có một đạo luật hình sự thống nhất, các quy phạm pháp luật hình
sự đƣợc quy định trong nhiều văn bản khác nhau nhƣng chƣa có văn bản nào
quy định về khái niệm TNHS hay chủ thể chịu TNHS. Trong những giai đoạn
này, vấn đề xác định chủ thể chịu TNHS đã đƣợc ghi nhận trong các văn bản
của Nhà nƣớc. Điều này tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, duy trì trật
tự xã hội, bảo vệ thành công của cuộc cách mạng cũng nhƣ bảo vệ chính
quyền nhân dân còn non trẻ.
Trong những ngày đầu mới thành lập, Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ
Cộng hoà vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài, vừa phải từng bƣớc xây
trái phép... Qua các kỳ hội nghị tổng kết hàng năm và qua các văn bản hƣớng
dẫn, Tòa án nhân dân tối cao đã hƣớng dẫn xác định độ tuổi của ngƣời phải
chịu TNHS nhƣ sau:
- Về nguyên tắc, từ 14 tuổi tròn trở lên coi là có TNHS;
- Nói chung đối với lứa tuổi từ 14 đến 16 thì chỉ nên truy tố, xét xử
trong những trƣờng hợp phạm các tội nghiêm trọng nhƣ giết ngƣời, cƣớp của,
hiếp dâm... Riêng hiếp dâm nói chung vẫn chủ yếu là giáo dục và cũng chỉ
nên truy tố, xét xử trong trƣờng hợp nghiêm trọng;
11
- Đối với lứa tuổi từ 16 đến 18, nếu hành vi phạm pháp có tính chất
tƣơng đối nghiêm trọng, nói chung cần xét xử, nhƣng so với ngƣời lớn, cần
xét xử nhẹ hơn [35, tr 13,14].
Nhƣ vậy, trong thời kỳ này một nội dung quan trọng của chủ thể chịu
TNHS là tuổi chịu TNHS chƣa đƣợc quy định chính thức trong một văn bản
luật hình sự mà đƣợc hƣớng dẫn xác định trong một văn bản hƣớng dẫn xét
xử của TANHTC. Tuy nhiên, các nội dung hƣớng dẫn này đã tạo nền móng
cho các quy định sau này về tuổi chịu TNHS trong BLHS năm 1985.
1.2.2. Từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi Bộ luật
hình sự năm 1999 có hiệu lực
BLHS năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình sự
nƣớc ta từ năm 1945 đến thời điểm ban hành, đây là sự tổng kết những kinh
nghiệm lập pháp, tổng kết những tri thức lý luận của khoa học luật hình sự, đồng
thời là sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở nƣớc
ta trong nhiều năm qua. Trong suốt quá trình áp dụng, BLHS năm 1985 đã qua
bốn lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997. Nhìn chung, BLHS
năm 1985 có sự xắp xếp các phần chung và phần các tội phạm một cách chặt chẽ,
logic. Nhiều khái niệm và chế định lần đầu tiên đƣợc quy định cụ thể trong BLHS,
trở lên. Về cơ bản BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên quy định là ngƣời từ đủ
16 tuổi phải chịu TNHS đối với mọi tội phạm.
Về năng lực TNHS, BLHS năm 1985 chƣa có điều luật nào quy định rõ
vấn đề này mà chỉ có quy định về tình trạng không có năng lực TNHS tại Điều 12:
“1- Người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS. Đối với
người này sẽ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2- Người phạm tội trong khi có năng lực TNHS, nhưng đã lâm vào tình
trạng nói ở khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh người đó có thể phải chịu TNHS.
13
3- Người phạm tội do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh
khác thì không được miễn TNHS”.
Nhƣ vậy, BLHS năm 1985 cũng nhƣ BLHS năm 1999 chƣa có điều luật cụ
thể quy định về tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định về tình
trạng không có năng lực TNHS trong các điều kiện của chủ thể chịu TNHS.
BLHS năm 1999 về cơ bản đã giữ nguyên quy định về tình trạng không có năng
lực TNHS trong Điều 12 BLHS năm 1985. Tuy có thay đổi một số câu chữ trong
điều luật nhƣng nội dung cơ bản vẫn đƣợc giữ nguyên. Theo Điều 12 BLHS năm
1985 thì ngƣời không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội là ngƣời đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Điều này này có
nghĩa là về y học họ đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, còn về mặt tâm lý –
pháp lý họ bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình,
tức là họ không nhận thức đƣợc mặt thực tế và cả mặt pháp lý của hành vi do
hành vi của mình gây ra hoặc không thể điều khiển hành vi của mình do tâm
thần kinh niên, rối loạn thần kinh tạm thời, thiểu năng hoặc mắc một bệnh
khác về thần kinh. Mặc dù ngƣời không có năng lực TNHS không phải chịu
TNHS khi thực hiện hành vi phạm tội, nhƣng ngƣời đó vẫn phải chịu áp dụng
các biện pháp y tế bắt buộc quy định trong Bộ luật này và do Toà án chỉ định.
BLHS Liên bang Nga cũng quy định các trƣờng hợp ngƣời có năng lực
TNHS bị rối loạn thần kinh và ngƣời có năng lực TNHS đang trong tình trạng
say đều phải chịu TNHS khi thực hiện hành vi phạm tội.
Về độ tuổi: Ngƣời phạm tội phải là ngƣời đạt đến độ tuổi nhất định thì
mới phải chịu TNHS. Cụ thể đƣợc quy định tại Điều 20 nhƣ sau:
“1. Ngƣời đủ 16 tuổi trƣớc thời điểm thực hiện tội phạm phải chịu trách
nhiệm hình sự.
15
2. Những ngƣời đủ 14 tuổi trƣớc thời điểm thực hiện tội phạm phải
chịu trách nhiệm hình sự do thực hiện các tội sau: Tội giết ngƣời (Điều 105),
tội cố ý gây thƣơng tích rất nặng cho sức khỏe ngƣời khác (Điều 111); .. tội
cƣỡng dâm (Điều 132); .. tội cƣớp (Điều 161), tội cƣớp giật (Điều 162); .. tội
khủng bố (Điều 205) .. tội chiếm đoạt hoặc cƣỡng đoạt các chất ma tuý và
hƣớng thần (Điều 229) ...”[5, Điều 20]
Ngoài ra, BLHS Liên bang Nga cũng còn quy định trƣờng hợp ngƣời
chƣa thành niên trong độ tuổi nêu trên nhƣng do thần kinh chậm phát triển mà
không liên quan tới bệnh tâm thần vào đúng thời điểm thực hiện tội phạm
không thể nhận thức đầy đủ tính chất thực tế và mức độ nguy hiểm do hành vi
gây ra hoặc không điều khiển đƣợc hành vi của mình thì không phải chịu
TNHS (Khoản 3 Điều 20).
Nhƣ vậy, luật hình sự của Liên bang Nga có những quy định cụ thể về
điều kiện chung của chủ thể chịu TNHS và các trƣờng hợp không phải chịu
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Điều 17 BLHS Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa nhƣ sau: “Người đủ 16 tuổi phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự.
Người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi thì phải chịu TNHS về tội
giết người hoặc cố ý gây thương tích dẫn đến thương tích nặng hoặc chết
người, hiếp dâm, cướp giật, mua bán chất ma túy, đốt nhà, đặt bom, đầu
độc.”[8, Điều 17]
Về năng lực trách nhiệm hình sự: Điều 18 BLHS Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa quy định nhƣ sau:
“Người mắc bệnh tâm thần gây hậu quả nguy hiểm trong khi mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, sau khi được xác
nhận thông qua các thủ tục pháp lý thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhưng người nhà hoặc người bảo lãnh có nghĩa vụ phải tăng cường giám sát
17
nghiêm ngặt và chữa bệnh cho họ. Trong trường hợp cần thiết chính quyền có
thể cưỡng chế chữa bệnh.
Người mắc bệnh tâm thần gián đoạn mà phạm tội khi thần kinh đang
bình thường thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Người mắc bệnh tâm thần phạm tội vào thời điểm chưa hoàn toàn mất
hết khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình phải chịu trách
nhiệm hình sự nhưng có thể được giảm nhẹ hình phạt.
Người phạm tội do say rượu phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Nhƣ vậy, cũng tƣơng tự nhƣ BLHS Việt Nam, thì BLHS Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa cũng xác định ngƣời gây hậu quả nguy hiểm trong tình
trạng mắc bệnh tâm thần mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình thì không phải chịu TNHS và những trƣờng hợp này nếu
cần thiết có thể bắt buộc chữa bệnh.
lực nhận thức. 2. Giảm nhẹ hình phạt đối với hành vi của người giảm năng
lực nhận thức”. Nhƣ vậy, điều luật quy định về trƣờng hợp giảm nhẹ hình
phạt, cùng với đó là giảm nhẹ TNHS cho ngƣời thực hiện hành vi phạm tội.
Cũng tƣơng tự nhƣ BLHS của Việt Nam và của một số quốc gia khác, BLHS
Nhật Bản không xác định rõ ràng thế nào là tình trạng có năng lực trách
nhiệm hình sự mà chỉ xác định không xử phạt đối với ngƣời mất năng lực
nhận thức, tức không đặt ra vấn đề TNHS đối với những ngƣời bị mất năng
lực nhận thức. Tuy nhiên, BLHS Nhật Bản lại không có quy định cụ thể thế
nào là ngƣời bị mất năng lực nhận thức nhƣ trong BLHS của Việt Nam và
Liên bang Nga.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 41 BLHS Nhật bản quy
định: “Không xử phạt hành vi của người chưa đủ 14 tuổi”. Nhƣ vậy, tuổi chịu
TNHS theo quy định của BLHS Nhật Bản là từ 14 tuổi trở lên. Cũng tƣơng tự
nhƣ BLHS một số quốc gia khác trên thế giới, BLHS chỉ xác định một mức
19