Những vấn đề lý luận và thực tiễn về lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LAN ANH
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011
HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các sơ đồ Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU

Vai trò của lỗi vô ý trong vấn đề tội phạm
23
1.3.2.
Vai trò của lỗi vô ý với vấn đề hình phạt
26

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ LỖI VÔ Ý TRONG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
30
2.1.
Lỗi vô ý trong quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam
30
2.1.1.
Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam
thời kỳ Nhà nước phong kiến (trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945)
30
2.1.2.
Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam thời
kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985
32
2.1.3.
Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam kể
từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1999
35
2.2.
Các quy định về lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự hiện hành
38
2.2.1.

64
3.2.3.
Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành
về các tội phạm vô ý xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng (Chương XIX Bộ luật hình sự)
66
3.2.4.
Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành
về các tội phạm vô ý xâm phạm trật tự quản lý hành chính
(Chương XX Bộ luật hình sự)
75
3.2.5.
Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành
về các tội phạm về chức vụ được thực hiện do lỗi vô ý
(Chương XXI Bộ luật hình sự)
76
3.2.6.
Thc tin ỏp dng cỏc quy nh ca B lut hỡnh s hin hnh
v cỏc ti phm vụ ý xõm phm hot ng t phỏp (Chng
XXII B lut hỡnh s)
78
3.2.7.
Thc tin ỏp dng cỏc quy nh ca B lut hỡnh s hin hnh
v cỏc ti do li vụ ý xõm phm ngha v, trỏch nhim ca
quõn nhõn (Chng XXIII B lut hỡnh s)
80
3.3.
Nguyờn nhõn ca nhng tn ti, hn ch trong thc tin ỏp
dng cỏc quy nh v ti vụ ý theo B lut hỡnh s hin hnh
81

Tăng c-ờng sự hợp tác và trao đổi kinh nghiệm lập pháp hình
sự với n-ớc ngoài
98

KT LUN
101

DANH MC CC TI LIU THAM KHO
103

PH LC
109

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADPL
: Áp dụng pháp luật
BLHS
: Bộ luật hình sự
CTTP
: Cấu thành tội phạm
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
: Trách nhiệm hình sự


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Tội phạm là một thể thống nhất của mặt khách quan và mặt chủ quan.
Mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là
hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Những biểu hiện đó cùng với
khách thể và chủ thể của tội phạm là những yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) -
cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm
tội. Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù ít
nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng thì
giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là
hoạt động của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ
xã hội nhất định.
Trong mặt chủ quan của tội phạm, lỗi là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội
phạm được quy định trong luật hình sự, không có lỗi sẽ không có tội phạm.
Việc thừa nhận lỗi như là một căn cứ để truy cứu TNHS là một nguyên tắc cơ
bản, tiến bộ trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Mặc dù lỗi có vai trò quan trọng như vậy, nhưng trong thực tiễn pháp
luật việc quy định các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm nói chung
và dấu hiệu lỗi nói riêng trong một số CTTP vẫn còn có những bất cập, hạn
chế nhất định, như không quy định hoặc quy định về lỗi, các hình thức lỗi,
trong đó có lỗi vô ý chưa rõ ràng, mâu thuẫn, thiếu thống nhất dẫn đến tình
trạng người tiến hành tố tụng hiểu sai, áp dụng sai trong định tội danh và
quyết định hình phạt. Từ đó, làm cho hiệu quả, chất lượng giải quyết vụ án
hình sự hạn chế, tình trạng xét xử oan, sai đối với người thực hiện hành vi hay
bỏ lọt tội phạm vẫn tiếp diễn; nhiều vụ án hình sự không được giải quyết theo
trình tự luật định, tình trạng tồn đọng án đang có dấu hiệu gia tăng, v.v


3
hoặc là đề cập đến cỏc yu t CTTP, hoc l v mt ch quan ca ti phm,
hoặc là đ-ợc thể hiện một phần trong kết quả của các công trình nghiên cứu
khác về phn chung ca lut hỡnh s. Cú th núi hin nay Vit nam vn
ch-a triển khai nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và sâu sắc về li vụ ý d-ới
góc độ lý luận v thc tin ỏp dng. Do ú, nguyên nhân của nhng tồn tại,
bất cập trong thực tiễn áp dụng nhng quy nh v li vụ ý ch-a đ-ợc phân
tích có hệ thống để đ-a ra những kiến nghị, giải pháp đồng bộ.
3. Mc ớch, nhim v nghiờn cu
3.1. Mc ớch nghiờn cu
Tỏc gi nghiờn cu ti vi nhng mc ớch sau:
- Lm sỏng t nhng vn lý lun v li vụ ý trong lut hỡnh s
Vit Nam;
- Nghiờn cu, phõn tớch thc tin phỏp lut Vit nam quy nh v li
vụ ý v thc tin ỏp dng trong hot ng xột x ca Tũa ỏn cỏc cp, rỳt ra
c nhng tn ti, hn ch ca vic quy nh v ỏp dng cỏc quy nh v li
vụ ý v nhng nguyờn nhõn ca nú;
- xut cỏc gii phỏp hon thin lut thc nh v nõng cao hiu qu
ỏp dng cỏc quy nh ca lut hỡnh s v li vụ ý.
3.2. Nhim v nghiờn cu
cú th t c mc ớch ú, trong phm vi ti, tỏc gi tp trung
vo nhng nhim v sau:
- Nghiờn cu nhng vn chung v li, li vụ ý, cỏc hỡnh thc v vai
trũ ca li vụ ý, phõn bit li vụ ý vi li c ý v vi s kin bt ng; Li vụ
ý trong quỏ trỡnh phỏt trin ca lut hỡnh s Vit Nam;
- Nghiờn cu, phõn tớch lm sỏng t thc tin phỏp lut hỡnh s quy
nh v li vụ ý;

4
- Nghiên cứu, phân tích thực trạng áp dụng các quy định về lỗi vô ý

học, nghiên cứu hệ thống, toàn diện, đầy đủ về vấn đề về lỗi vô ý trong luật
hình sự Việt Nam. Những điểm mới của luận văn là:
- Làm sáng tỏ hệ thống những vấn đề lý luận về lỗi vô ý trong luật
hình sự Việt Nam;
- Phân tích một cách sâu sắc và đánh giá toàn diện về sự thể hiện của
lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành;
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật
về lỗi vô ý; nêu ra những hạn chế, bất cập về mặt lập pháp, những tồn tại
trong trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như nguyên nhân của những hạn
chế, bất cập đó. Và trên cơ sở đó luận văn đề xuất các giải pháp khả thi để
hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu của áp dụng pháp luật về lỗi vô ý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện
hành về lỗi vô ý.
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định Bộ luật hình sự
hiện hành về lỗi vô ý và nâng cao hiệu quả áp dụng. 6
Chng 1
MT S VN CHUNG V LI Vễ í
TRONG LUT HèNH S VIT NAM

1.1. Khỏi nim, bn cht, iu kin v cỏc dng li vụ ý
1.1.1. Khỏi nim v bn cht ca li vụ ý
Ti phm l mt th thng nht ca hai mt khỏch quan v ch quan.

- Quan điểm thứ ba: Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: "Lỗi là dấu hiệu
thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể có đủ điều kiện lựa chọn,
thực hiện hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội khi quyết định thực
hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội" [10].
Mặc dù còn tồn tại sự khác nhau nhất định về cách tiếp cận, tên gọi
của vấn đề, nhưng về cơ bản các các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng
lỗi là một yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm, là sự kết hợp giữa yếu tố
lý trí và ý chí, trong đó, lý trí thể hiện khả năng nhận thức hoặc không nhận
thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, còn ý chí thể hiện năng
lực điều khiển hành vi hoặc kìm chế việc thực hiện hành vi đó để thực hiện
một xử sự khác không trái với lợi ích của xã hội. Đồng thời, lỗi trong luật
hình sự chính là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa cá nhân người phạm tội
với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định chủ quan đòi hỏi của xã hội
được thể hiện qua sự đòi hỏi cụ thể của luật hình sự.
Để nhận thức đúng đắn quan niệm về lỗi trong luật hình sự, cần phải
nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ các vấn đề thuộc nội hàm của lỗi, hay nói cách
khác là các dấu hiệu của lỗi.
Lỗi có hai dấu hiệu cơ bản: dấu hiệu về lý trí và dấu hiệu về ý chí của
con người.
- Yếu tố lý trí: Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "lý trí là khả năng
nhận thức sự vật bằng suy luận" [71].

8
Hành vi của con người được hiểu là toàn bộ xử sự biểu hiện ra bên
ngoài của họ trong một hoàn cảnh cụ thể. Nó chịu sự chi phối của điều kiện
sinh hoạt vật chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất - đó chính là hoàn cảnh khách quan. Nhưng đối với chính xử sự của
mình, con người vẫn có tự do tương đối, thông qua hoạt động ý thức, họ có
khả năng lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự phù hợp với những quy luật
tự nhiên và xã hội theo những gì mà họ nhận thức được. Tính tự do của hành

Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể (cá nhân) có năng lực trách nhiệm
hình sự, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho
xã hội bị luật hình sự cấm và hậu quả do hành vi đó gây ra trong khi họ có đủ
điền kiện để lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý các yếu tố lý trí và ý chí của con
người, khoa học luật hình sự đã chia lỗi thành hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý được hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành
vi và khả năng gây ra hậu quả của hành vi, họ nhận thức rõ hành vi của mình
có tính chất nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó và
mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Còn đối với lỗi vô ý để có thể đưa ra một nhận định, một cách hiểu
đúng về nó, cần phải làm rõ các yếu tố cấu thành nên lỗi vô ý:
- Yếu tố ý chí: là khi chủ thể không nhận thức được hoặc nhận thức
không đầy đủ đặc điểm thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
khi quyết định thực hiện hành vi, họ không thấy được khả năng xảy ra hậu
quả nguy hiểm cho xã hội.
Các trường hợp chủ thể không nhận thức được hoặc nhận thức không
đầy đủ là đặc điểm phản ánh trong CTTP, như:
+ Chủ thể không nhận thức được tính chất thực tế của hành
vi và khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó.

10
+ Chủ thể tuy nhận thức được tính chất thực tế của hành vi
nhưng hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả
nguy hiểm cho xã hội của hành đó.
+ Chủ thể nhận thức được tính chất thực tế của hành vi,
nhận thức được khả năng hậu quả xảy ra nhưng sau khi cân nhắc đã
loại trừ khả năng đó khi lựa chọn thực hiện hành vi [28].
Việc có nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội hay không còn
phụ thuộc vào điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan. Điều kiện khách

khi đánh giá, lựa chọn xử sự. Trên thực tế, hành vi phạm tội do lỗi vô ý thường
xảy ra bởi một số điều kiện: thiếu kỷ luật trong công tác, thiếu trách nhiệm, thái
độ bất cẩn khi thực hiện hành vi, thiếu chuyên môn kỹ thuật, Và xảy ra trong
các lĩnh vực của đời sống hàng ngày, hoặc liên quan đến chuyên môn, quản lý,
Từ những nhận định và phân tích trên đây, có thể đưa ra quan niệm về
lỗi vô ý như sau: Lỗi vô ý được hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội khi
lựa chọn và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do không nhận thức đầy
đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong khi có đủ điều kiện để
nhận thức được.
1.1.2. Các điều kiện của lỗi vô ý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì điều kiện được hiểu là "điều
nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc gì đó, hình thành một cái
nào đó" [71].
Căn cứ vào hình thức của lỗi, bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý, do vậy, khi
xem xét đến điều kiện của lỗi vô ý, tác giả tiếp cận ở khía cạnh, đó là điều
kiện để một người bị coi là có lỗi nói chung và điều kiện để một người bị coi
là có lỗi vô ý nói riêng.
Bản chất của lỗi đó chính là sự phủ định chủ quan đòi hỏi của xã hội.
Chủ thể bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi hành
vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi họ có điều các điều kiện

12
khách quan và chủ quan để có thể lựa chọn xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã
hội. Đó chính là sự tước tự do trong ý thức chủ quan của chủ thể - nguyên
nhân dẫn đến hành vi mất tự do trên thực tế - hành vi trái với đòi hỏi của xã
hội, trái với luật hình sự.
Từ đó ta có thể rút ra những điều kiện để một người bị coi là có lỗi
như sau:
Thứ nhất, chủ thể phải có năng lực tự do - năng lực nhận
thức được đòi hỏi của xã hội và năng lực điều khiển được hành vi

tưởng vào sự khéo léo, hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ kỹ thuật
của mình… cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì sẽ ngăn
ngừa được. Lỗi của chủ thể chính là ở chỗ đã quá tin tưởng vào khả nhận thức
của mình. Hoặc chủ thể đã thể hiện sự cẩu thả, thiếu thận trọng trong việc
đánh giá hành vi (đối với lỗi vô ý do cẩu thả), đó chính "là việc chủ thể khi
hành động không đến nơi đến chốn, không cẩn thận, chỉ cốt làm cho xong
việc, lơ đãng trong công việc". Riêng đối với lỗi vô ý do cẩu thả cần phải có
thêm một điều kiện quan trọng khác đó là chủ thể có nghĩa vụ phải thấy trước
và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra, điều kiện
này xuất phát từ chính công việc, quy tắc nghề nghiệp của chủ thể.
1.1.3. Các dạng của lỗi vô ý
Như đã trình bày ở trên, lỗi vô ý được hiểu là thái độ tâm lý của người
phạm tội khi lựa chọn và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do không nhận
thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong khi có đủ điều kiện
để nhận thức được. Từ đó, BLHS hiện hành đã phân ra làm hai hình thức lỗi vô
ý và khoa học luật hình sự gọi là: Lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả.
1.1.3.1. Lỗi vô ý vì quá tự tin
Lỗi vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước
hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng cho rằng
hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

14
Sơ đồ 1.1: Về lỗi vô ý vì quá tự tin


Không mong muốn hậu quả xảy ra

15
- Về ý chí: Người phạm tội do vô ý vì quá tự tin không mong muốn
hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Đây là dấu hiệu cơ
bản để phân biệt giữa lỗi cố ý gián tiếp với lỗi vô ý vì quá tự tin.
Như đã trình bày ở trên, người phạm tội trong trường hợp lỗi vô ý vì
quá tự tin đã thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra, tuy
nhiên trước khi quyết thực hiện hành vi người phạm tội đã cân nhắc, tính toán
và cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, tin vào khả
năng hậu quả không xảy ra. "Sự cân nhắc, tính toán này có thể dựa vào những
căn cứ như tin tưởng vào sự khéo léo, sự hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệm,
trình độ kỹ thuật của mình hoặc tin và những tình tiết khách quan bên ngoài
khác" [72]. Nhưng căn cứ này không vững chắc, không chính xác. Lỗi của
người phạm tội trong trường hợp vô ý vì quá tự tin chính là ở chỗ đã quá tin
tưởng vào khả năng thực hiện hành vi của mình. Do đó, về mặt ý chí của
người phạm tội trong trường hợp lỗi vô ý vì quá tự tin không mong muốn
hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, điều này cũng hoàn
toàn hợp lý bởi lẽ không thể có việc người phạm tội đã loại trừ khả năng hành
vi gây ra hậu quả nguy hiểm lại mong muốn hậu quả đó xảy ra.
1.1.3.2. Lỗi vô ý do cẩu thả
Lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước
hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy
trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Sơ đồ 1.2: Về lỗi vô ý do cẩu thả

Vô ý
do cẩu thả
Lý trí
(nhận

phạm tội do lỗi vô ý vì quá tự tin vì hành vi phạm tội vì quá tự tin là kết quả
của sự nhận thức tương đối đầy đủ về hành vi.
Ví dụ:
- Vô ý vì quá tự tin: Báo Người lao động đưa tin:
Ngày 5/7/2009, Công an huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã khởi tố
vụ án, khởi tố bị can đối với ông Phan Tấn Nghĩa, cư trú tại ấp Thuận Nam,
xã Thuận Thành về tội vô ý làm chết người. Theo điều tra ban đầu, ông Phan
Tấn Nghĩa thường xuyên dùng bẫy điện để chống trộm, chống chuột, bảo vệ

17
đàn vịt của mình. Khi làm việc này ông có thông báo rộng rãi với hàng xóm
để mọi người biết và tránh không bị điện giật. Vào lúc 2h ngày 4/7, anh
Nguyễn Minh Trung, người địa phương, ra đồng soi cá. Khi đi ngang chòi vịt
của ông Nghĩa, anh Trung vướng vào đường dây điện do ông Nghĩa gài sẵn.
Bị điện giật, anh Trung chết tại chỗ.
Như vậy, ông Nghĩa đã thực hiện hành vi làm chết người với lỗi vô ý
vì quá tự tin. Bởi vì, khi làm hàng rào bằng dây điện ông Nghĩa biết rằng hành
vi của mình có thể gây chết người, nhưng ông Nghĩa tin rằng mình đã nói cho
mọi người biết rằng hàng rào có điện thì sẽ không ai đi vào đó và sẽ không có
ai bị điện giật, ông Nghĩa chỉ làm với mục đích là bảo vệ đàn vịt của mình.
Hậu quả anh Trung chết là nằm ngoài sự mong muốn của ông Nghĩa.
- Vô ý vì cẩu thả: Tạp chí Tòa án nhân dân số 4 năm 2007 có đưa bài
của tác giả Nguyễn Tấn Tám như sau: Đào Văn Hùng là chủ sở hữu hợp pháp
một chiếc xe ô tô hiệu IFA trọng tải 0,5 tấn. Tháng 6/2005, Hùng thuê Triệu
Công Sức lái xe cho mình bằng một hợp đồng miệng. Khi thuê Sức, Hùng có
hỏi Sức có giấy phép lái xe theo quy định không? Sức xuất trình giấy phép lái
xe cho Hùng xem, Hùng nhìn thấy giấy phép lái xe của Sức nhưng không
kiểm tra cụ thể và giao xe cho Sức điều khiển. Thực tế giấy phép lái xe của
Sức là loại B2. Trong quá trình lái xe cho Hùng, một lần do không làm chủ
được tốc độ và giữ khoảng cách cần thiết khi vượt xe ô tô cùng chiều nên S đã

dụ: Nghĩa vụ của người lái xe, nghĩa vụ của y tá, bác sỹ, nghĩa vụ của người có
trách nhiệm bảo quản tài sản, quy định phòng cháy chữa cháy, chất độc, chất
nổ, chất phóng xạ, v.v Về mặt khách quan: trong những điều kiện cụ thể, xã
hội có những đòi hỏi nhất định khi chủ thể thực hiện hành vi của mình và họ
có nghĩa vụ phải nhận thức được khả năng hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra.
TNHS chỉ đặt ra đối với người thực hiện hành vi gây ra hậu quả nguy
hiểm cho xã hội với lỗi vô ý do cẩu thả khi xác định chắc chắn được người
thực hiện hành vi phải thấy trước "và" có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm

Trích đoạn Vai trũ của lỗi vụ ý với vấn đề hỡnh phạt Cỏc quy định về lỗi vụ ý trong phỏp luật hỡnh sự Việt Nam thời kỳ Nhà nước phong kiến (trước Cỏch mạng thỏng Tỏm năm 1945) Cỏc quy định về lỗi vụ ý trong phỏp luật hỡnh sự Việt Nam thời kỳ sau Cỏch mạng thỏng Tỏm năm 1945 đến trước năm Cỏc quy định về lỗi vụ ý trong phỏp luật hỡnh sự Việt Nam kể từ khi ban hành Bộ luật hỡnh sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Trong Phần chung của Bộ luật hỡnh sự hiện hành
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status