Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh tuyên quang - Pdf 38

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

CAO TRNG THY

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN
Về NHữNG TRƯờNG HợP GIảM NHẹ TRáCH NHIệM HìNH Sự
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

CAO TRNG THY

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN
Về NHữNG TRƯờNG HợP GIảM NHẹ TRáCH NHIệM HìNH Sự
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)

Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS.TSKH. Lấ VN CM

Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của những trường hợp
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ......................................................... 13
1.1.1. Khái niệm những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự............. 13
1.1.2. Các đặc điểm của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ......... 29
1.1.

Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình
sự Việt Nam về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự (Từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến trước
khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999) ................... 33
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 38
1.2.

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG TRƯỜNG
HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 .................................. 39
Thực trạng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về
những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ........................ 39
2.1.1. Nội dung của những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 .............................. 39
2.1.2. Nội dung của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
được áp dụng theo Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 ....... 61
2.1.


Thực tiễn áp dụng những trường hợp giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh
Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014) .............................................. 64

3.2.4. Một số giải pháp .................................................................................. 82
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 86


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

KHP

: Khung hình phạt

PLHS

: Pháp luật Hình sự

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

Bảng 2.3. Thống kê việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ
TNHS do Tòa án tự ghi nhận trong bản án theo quy định
tại Khoản 2 Điều 46 BLHS dựa trên cơ sở nghiên cứu
150 bản án

70


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là một nhiệm vụ tiếp tục được Đại
hội XI của Đảng kế thừa và phát triển, đồng thời tư tưởng chỉ đạo đó đã
được hiến định một cách đầy đủ tại Hiến pháp năm 2013, tại Hiến pháp
năm 2013 quy định: “... Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân” [35, Điều 2, Khoản 1]. Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó
chúng ta cần phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế.
Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, định hướng đó đòi hỏi thực hiện nghiêm
chỉnh nguyên tắc pháp chế nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã chỉ rõ:
Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp
với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm
bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo
vệ quyền con người [2, tr.2-3].
Trong pháp luật hình sự, các tình tiết có vai trò quan trọng trong việc
xác định và xử lý tội phạm. Được sử dụng để phân biệt các tội phạm khác

giảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 46 BLHS. Điều đó dẫn đến cách hiểu và áp
dụng pháp luật có những bất cập nhất định. Việc nghiên cứu những trường
hợp giảm nhẹ TNHS theo Luật Hình sự Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về
mặt nhận thức khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong việc
áp dụng các trường hợp giảm nhẹ TNHS.

2


Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều năm 2009), thì những trường hợp giảm nhẹ TNHS là một trong
những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt, vai trò của những trường hợp
giảm nhẹ TNHS rất quan trọng trong việc quyết định hình phạt:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa làm cho tội
phạm đã thực hiện và nhân thân của người phạm tội ít nguy hiểm
hơn so với những trường hợp phạm tội mà không có tình tiết giảm
nhẹ đó, đồng thời khi có nó người phạm tội được Tòa án áp dụng
loại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn... [67, tr. 3].
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, vấn đề áp dụng những trường hợp
giảm nhẹ TNHS đang còn có một số vướng mắc, sai sót cần được tháo gỡ.
Bởi lẽ theo Nghị quyết 49 đã nêu:
Thực tiễn cho thấy, phạm vi áp dụng của các tình tiết giảm
nhẹ TNHS tương đối rộng. Lạm dụng hoặc thờ ơ đối với việc áp
dụng chúng có thể gây nên tác hại nhất định, hậu quả có thể quyết
định hình phạt quá nhẹ, dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội phạm. Sự thờ ơ với việc áp dụng các quy định về các tình
tiết giảm nhẹ TNHS có thể đưa đến việc quyết định hình phạt quá
nghiêm khắc, dẫn đến phản tác dụng cho quá trình cải tạo, giáo dục
người phạm tội [2, tr.2].
Hơn nữa, việc áp dụng chính xác những trường hợp giảm nhẹ TNHS

văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và do Toà án cân nhắc, xem xét quyết
định trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo,
khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Trường hợp giảm nhẹ
TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh
hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn
của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu hình phạt ở
mức thấp hơn, có cơ hội được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước.

4


Khi đề cập đến tình hình nghiên cứu có thể khẳng định trong những
năm qua đã có những công trình khoa học, các sách, các giáo trình và các bài
nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học mà ở các mức độ khác nhau có đề cập
đến một số vấn đề cơ bản liên quan đến luận văn này. Đó là:
2.1. Các sách (Sách chuyên khảo, sách tham, sách hướng dẫn và các
giáo trình)...
1) Đinh Văn Quế (2000), “Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự”, NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội.
2) GS - TSKH Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển 1,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
3) Đinh Văn Quế (2009), “Bình luận khoa học về các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, tái bản lần 2, NXB thành phố Hồ Chí Minh.
4) Tập thể tác giả do GS-TSKH Lê Cảm chủ biên (2001), “Giáo trình
Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung)”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
5) Tập thể tác giả do TS Uông Chu Lưu chủ biên (2001), “Bình luận
khoa học BLHS Việt Nam năm 1999 (Phần chung)”, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
6) Tập thể tác giả do PGS-TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2001),
“Trách nhiệm hình sự và Hình phạt”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II (tháng 01).
10) Thái Chí Bình (2014), “Tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc khoản 2
Điều 46 BLHS, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án
nhân dân kỳ II (tháng 1).
11) Đỗ Thị Thanh Huyền và Đỗ hải Yến (2014), “Giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự trong điều tra các vụ án giết người”, Tạp chí Kiểm
sát (số 11).
12) Lê Xuân Lục (2014), “Bàn về căn cứ và giới hạn của việc quyết
định hình phạt nhẹ hơn quy định trong Bộ luật Hình sự”. Tạp chí Kiểm sát số
06 (tháng 3).

6


13) Đinh Văn Quế (2010), “Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết “tự thú”
và “đầu thú” trong thực tiễn xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 3 (tháng 2).
14) Đỗ Văn Tạo (2011), “Bàn về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu
quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Tòa án
nhân dân kỳ II tháng 10, (số 20).
15) TS Phạm Minh Tuyên (2012), “Về áp dụng điều 47 Bộ luật Hình
sự khi quyết định hình phạt”, Tạp chí Kiểm sát số 20 (tháng 10).
16) TS Phạm Minh Tuyên (2013), “Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung
phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999”, Tạp chí Kiểm sát số 18 (tháng 9).
17) TS Phạm Minh Tuyên(2014), “Một số vấn đề về tổng hợp hình
phạt tù có thời hạn với án treo trong thực tiễn xét xử hiện nay”, Tạp chí Kiểm
sát số 02 (tháng 1).
18) Cao Thị Thu Thắng (2014), “Tăng cường kháng nghị phúc thẩm
hình sự theo Chỉ thị 03/CT-VKSTC-VPT1 của Viện trưởng VKSND tối cao để

thực hiện các nhiệm vụ sau:
Về lý luận, luận văn đưa ra nhận thức đầy đủ về trường hợp giảm nhẹ
TNHS, làm rõ cơ chế giảm nhẹ TNHS, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc
phân loại những trường hợp giảm nhẹ TNHS, phân tích quá trình phát triển
của chế định những trường hợp giảm nhẹ TNHS sau pháp điển hóa Bộ luật
Hình sự năm 1985 đến trước khi thông qua BLHS năm 1999. Từ đó, đưa ra sự
nhận thức đúng đắn về giới hạn và phạm vi ảnh hưởng của những trường hợp
giảm nhẹ TNHS.
Về thực tiễn, luận văn làm sáng tỏ ảnh hưởng của những trường hợp
giảm nhẹ TNHS được phản ánh trong các quy định của Bộ luật Hình sự hiện
hành bằng hệ thống các mức độ và biện pháp miễn giảm trách nhiệm hình sự,
nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ

8


TNHS, phát hiện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và làm rõ nguyên
nhân của tình hình áp dụng đó. Đồng thời, trong phạm vi nghiên cứu luận văn
đưa ra một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật Hình sự và một số giải pháp
nâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về những
trường hợp giảm nhẹ TNHS, luận văn đề cập đến một số vấn đề lý luận về
những trường hợp giảm nhẹ TNHS, ngoài ra luận văn còn đề cập đến thực
tiễn áp dụng những trường hợp này trong giải quyết các vụ án hình sự tại địa
phương. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn nêu lên sự phát
triển các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến
trước khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999 cũng như các trường

nhẹ TNHS. Từ đó trang bị cách tiếp cận biện chứng cho việc áp dụng những
trường hợp giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự trong thực tiễn.
Phương pháp nghiên cứu còn kết hợp với một số phương pháp nghiên
cứu cụ thể khác như phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp,
Luận văn được nghiên cứu tương đối đầy đủ các quy định về những trường
hợp giảm nhẹ TNHS. Bằng việc sử dụng các phương pháp nói trên, luận văn
có một số nhận xét về tình hình chung trong áp dụng những trường hợp giảm
nhẹ TNHS vào thực tiễn, phát hiện một số vấn đề mâu thuẫn giữa quy định
của pháp luật với việc tuân thủ nó, để có hướng kiến nghị những giải pháp
hoàn thiện luật thực đinh và nâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợp
giảm nhẹ TNHS trong thời gian tới.
6. Những điểm mới về mặt khoa học của Luận văn
Một là, trên cơ sở chỉ ra tiêu chí xác định những trường hợp giảm nhẹ

10


TNHS và tham khảo một số quan điểm về những trường hợp giảm nhẹ
TNHS, luận văn đã đưa ra được một khái niệm tương đối đầy đủ về trường
hợp giảm nhẹ TNHS.
Hai là, trên cơ sở nghiên cứu nêu lên các đặc điểm chủ yếu của quá
trình hình thành và phát triển của chế định những trường hợp giảm nhẹ TNHS
trong pháp luật hình sự Việt Nam từ khi pháp điển hóa BLHS lần đầu năm
1985 đến trước khi thông qua BLHS năm 1999.
Ba là, phân tích các quy định pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam
về những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
Bốn là, tập trung nghiên cứu về tình hình áp dụng chế định này trong
thực tiễn, từ đó chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó.
Năm là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những
trường hợp giảm nhẹ TNHS theo Luật Hình sự Việt nam và một số kiến nghị



Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG TRƯỜNG HỢP GIẢM NHẸ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của những trường hợp giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự
1.1.1. Khái niệm những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
BLHS không đưa ra khái niệm về những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
Trong khoa học pháp lý nước ta, quan niệm về vấn đề này cũng chưa thống
nhất. Nhìn chung, đa số ý kiến cho rằng, trường hợp giảm nhẹ TNHS là
trường hợp được quy định trong BLHS với tính chất là trường hợp giảm nhẹ
chung hoặc là trường hợp được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng
pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng
thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đối
với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình
phạt. Quan niệm trên chưa cho thấy hết được bản chất, nội dung của trường
hợp giảm nhẹ TNHS mà mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý của chúng.
Dưới góc độ nghiên cứu của cá nhân, về bản chất, trường hợp giảm nhẹ
TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh
hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn
của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở mức
thấp hơn. Trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS, trong các
văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyết
định trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo,
khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Những trường hợp giảm nhẹ TNHS có thể hiểu ở nhiều cấp độ khác
nhau. Ở cấp độ thứ nhất mang tính chất tổng thể, giảm nhẹ TNHS là bất kỳ

13

14


phạt, miễn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (án
treo), miễn hình phạt. Do vậy, theo quan điểm cá nhân, cần thiết xây dựng
khái niệm rộng hơn về những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có ý nghĩa
giảm nhẹ TNHS. Để quy định và áp dụng đúng những trường hợp giảm nhẹ
TNHS, cần thiết phải làm rõ các tiêu chí xác định chúng trên cơ sở làm sáng
tỏ cơ chế giảm nhẹ TNHS. Cơ chế giảm nhẹ TNHS được thể hiện thông qua
các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có
ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên
chúng có giá trị giảm nhẹ TNHS [51, tr. 206], [50, tr. 244], [63, tr. 216]. Cơ
sở giảm nhẹ TNHS trong trường hợp này xuất phát từ thừa nhận sự tương
xứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực
hiện với mức độ TNHS. Như Mác đã nhận định:
Làm cho sự trừng phạt trở thành hậu quả thực tế của việc
phạm tội. Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phái là kết
quà tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi
của chính người đó. Giới hạn hành vi của y phải là giới hạn của sự
trừng phạt [12, tr. 181].
Điều đó có nghĩa là tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vì phạm tội là thước đo mức độ TNHS. Do vậy, để giảm mức độ TNHS, phải
là những trường hợp có ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội. Đây là biểu hiện khách quan và chủ quan của tội phạm,
biểu hiện về nhân thân người phạm tội mà sự hiện diện của chúng cố ý nghĩa
làm giảm đi mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Theo đó, những trường
hợp giảm nhẹ TNHS thường là những trường hợp phản ánh mức độ thực hiện
tội phạm chưa trọn vẹn do nguyên nhân khách quan hoặc do sự tự nguyện của

thuộc nhân thân người phạm tội được hình thành dưới sự tác động khách quan

16


của môi trường cũng nên được xem là yếu tố có ý nghĩa giảm nhẹ một phần
TNHS đối với người phạm tội mới là thỏa đáng. Theo GS. TSKH. Đào Trí Úc
xác định: “Nội dung của chính sách hình sự về tội phạm và TNHS phải được
xây dựng trên cơ sở giải quyết một loạt các mối tương quan, trong đó có mối
tương quan giữa trách nhiệm của cá nhân người phạm tội với trách nhiệm
của xã hội, của Nhà nước” [57, tr. 197]. Vậy, những trường hợp giảm nhẹ
TNHS là những trường hợp phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội
và vì thế mà nó có giá trị giảm nhẹ TNHS.
Thứ ba, những trường hợp phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người
phạm tội đáng được khoan hồng. Trong trường hợp này, việc giảm nhẹ TNHS
là vì lý do nhân đạo hoặc do không còn yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế
hình sự. Cơ sở lý luận của khả năng giảm nhẹ này xuất phát trước hết từ
nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự. Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc
nhân đạo được đặt ra và xây dựng trên cơ sở nghiên cứu khoa học sâu sắc và
ngày càng đầy đủ hơn về khả năng thực tế và vai trò của PLHS trong việc tác
động đến tội phạm. Từ nhận thức đó, Nhà nước sử dụng các biện pháp xử
phạt hình sự như công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm bằng cách đề cao
tác động giáo dục cải tạo, hướng thiện đối với người phạm tội. Với cách tiếp
cận như vậy, khi có cơ sở để khoan hồng đối với người phạm tội, để tin rằng
mức độ TNHS được áp dụng đối với họ là đủ cần thiết, Nhà nước sẽ áp dụng
cơ chế giảm nhẹ TNHS. Đó chính là chỗ đứng cho các tình tiết giảm nhẹ
TNHS vì lý do nhân đạo. Mạt khác, thực tiễn cũng cho thấy, việc buộc người
phạm tội phải chịu TNHS xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của xã hội, bảo
vệ trật tự kỷ cương pháp luật là những điều kiện thiết yếu cho sự phát triển
lành mạnh của một xã hội. Nghĩa là việc áp dụng TNHS đối với người phạm

hiện rõ thái độ nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội là phụ nữ đang
nuôi con nhỏ, là người chưa thành niên, là người già (Điều 46 BLHS), người
đang mắc bệnh nặng, là người lao động duy nhất trong gia đình (Điều 61

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status