chế định kiểm soát viên - một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Đất nớc đang bớc vào công cuộc đổi mới toàn diện, là một trong những cơ
quan của chuyên chính vô sản, trách nhiệm của ngành kiểm sát, ngời cán bộ kiểm
sát là hết sức quan trọng, trong đó có đội ngũ kiểm sát viên viện kiểm sát nhân
dân, "ngời cán bộ kiểm sát viên phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của
mình, luôn luôn tôn trọng sự thật, phân rõ đúng sai, hết sức giữ thái độ khách
quan, thận trọng, công minh, chính trực".( Lê Duẩn).
Ngay từ khi nớc nhà giành độc lập, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà
đã chú ý tới những cán bộ làm nhiệm vụ công tố, những vấn đề pháp lý về chức
danh này bớc đầu đợc điều chỉnh trong những văn bản pháp luật do nhà nớc ban
hành. Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đánh dấu sự hình thành
chức danh kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát sự tuân theo pháp luật và thực hành
quyền công tố. Vị trí, vai trò của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong hệ
thống cơ quan Viện kiểm sát và bộ máy nhà nớc nói chung đã và đang đợc khẳng
định. Với cơ quan viện kiểm sát, kiểm sát viên là ngời trực tiếp thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, trong bộ máy nhà
nớc, kiểm sát viên là một chức danh t pháp, có nhiệm vụ thực hiện chức năng của
viện kiểm sát, bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự thực
thi pháp luật nghiêm minh, công bằng.
Pháp luật điều chỉnh đối với chức danh kiểm sát viên đang dần hoàn thiện,
tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng đội ngũ kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu
của cải cách t pháp theo tinh thần của Nghị quyết Trung ơng 08/NQ-TW của Bộ
chính trị, đáp ứng yêu cầu của đất nớc trên con đờng hội nhập. Có một thực tế là
khi các bài viết, các đề tài, các công trình nghiên cứu về Viện kiểm sát có một số
luợng không nhỏ, thì sự quan tâm tới kiểm sát viên về lĩnh vực này lại quá ít, đặc
biệt là về chế định kiểm sát viên. Với mong muốn làm rõ một số vấn đề lý luận và
thực tiễn của chế định kiểm sát viên, góp phần mình xây dựng một số giải pháp
hoàn thiện chế định, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của kiểm sát viên trong công
cuộc xây dựng nhà nớc pháp quyền, ngời viết mạnh dạn chọn đề tài : Chế định
kiểm sát viên - một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm đề tài khóa luận tốt

1.1.1. Kiểm sát viên
Theo từ điển Bách khoa toàn th (tr.563 - NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội)
kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan kiểm sát đợc bổ nhiệm theo quy định của
pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám
sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nớc, tổ chức xã hội và
công dân.
Theo từ điển Luật học, kiểm sát viên là ngời đợc bổ nhiệm theo quy định
của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
t pháp.
Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng; kiểm sát viên viện kiểm sát
nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. (Các kiểm sát viên viện
kiểm sát quân sự các cấp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài).
Nh vậy, công dân Việt Nam có đủ các điều kiện theo quy định của pháp
luật (vấn đề này sẽ đợc nghiên cứu cụ thể trong luận văn) thì có thể đợc tuyển
chọn và bổ nhiệm làm kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
1.1.2. Chế định kiểm sát viên
Là tổng thể các quy định của pháp luật điều chỉnh các vấn đề pháp lý đối
với chức danh kiểm sát viên.
1.2. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Trong bộ máy nhà nớc, Viện kiểm sát nhân dân có một vị trí đặc biệt. Hệ
thống cơ quan viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các
viện kiểm sát nhân dân địa phơng. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật
đợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Viện kiểm sát nhân dân địa phơng,
3
các viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền
công tố trong phạm vi luật định. (Điều 137- Hiến pháp 1992 và Điều 1 luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân 2002)

quan tiến hành điều tra, để truy tố kẻ phạm tội ra trớc tòa, bảo đảm thấu tình đạt
lý. Là hoạt động chịu nhiều áp lực, áp lực từ phía các phần tử tội phạm, từ xã hội,
công luận... Do đó hoạt động của kiểm sát viên phải đảm bảo việc nghiên cứu độc
lập hồ sơ để truy tố kẻ có tội trớc phiên tòa hình sự, hợp lẽ công bằng, bảo đảm
pháp chế, không trái với các quy tắc đạo đức xã hội.
Kiểm sát viên là ngời đại diện cho nhà nớc trực tiếp bảo vệ nền công lý, vì
vậy sự công bằng vô t khách quan, nhân đạo là những phẩm chất không thể thiếu
đối với ngời kiểm sát viên. Điều đó có nghĩa là, trong quá trình thực hiện chức
năng của mình, kiểm sát viên phải đảm bảo sự công bằng không thiên lệch, không
có sự phân biệt về thành phần xuất thân, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế giữa các
đơng sự hay bị cáo. Chẳng hạn, trong hoạt động thực hiện quyền công tố, tính
công bằng thể hiện ở sự đánh giá tơng xứng giữa hành vi phạm tội và trách nhiệm
của ngời phạm tội. Truy tố đúng tội danh là tiền đề quan trọng của việc quyết định
hình phạt chính xác, công bằng, không làm oan ngời vô tội. Hoạt động thực hành
quyền công tố của kiểm sát viên khi đợc giao nhiệm vụ, đợc hiểu là quyền của nhà
nớc, quyền nhân danh nhà nớc truy tố kẻ phạm tội ra trớc tòa án và đại diện cho
công lý buộc tội kẻ phạm tội trớc phiên tòa. Đây là một chức năng tố tụng nhằm
chống lại một ngời cụ thể và thực chất đó là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với kẻ có tội. Quyền này tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức. Do đó nó phải đợc thực hiện theo một trình tự tố tụng chặt
chẽ theo luật định. Cụ thể tại phiên tòa hình sự, kiểm sát viên đợc phân công có
quyền nhân danh nhà nớc đọc cáo trạng truy luận tội, có quyền tranh luận, xét hỏi
để chứng minh lỗi của bị cáo, giúp Tòa án ra bản án đúng ngời đúng tội, đúng
pháp luật... Với những yêu cầu khắt khe đặt ra đối với nghề kiểm sát viên, để trở
thành kiểm sát viên phải đáp ứng đợc những điều kiện về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, đồng thời phải qua một thủ tục tuyển chọn bổ
nhiệm chặt chẽ theo luật định.
5
2. Sự hình thành và phát triển của chế định kiểm sát viên
Bộ máy nhà nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đợc tổ chức theo

vi đi ngợc lại lợi ích của chính quyền nhân dân, bảo vệ tài sản nhà nớc, của tập thể
ngời lao động, đảm bảo việc thực hiện các chính sách trật tự trị an của xã hội... Để
thực hiện nhiệm vụ đó, cơ quan công tố ngoài chức năng buộc tội còn thực hiện
chức năng giám sát các họat động tố tụng t pháp (trình tự tố tụng tại tòa án).
Những quy định về cơ quan công tố xuất hiện rất sớm trong các văn bản pháp luật
của nhà nớc. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ quan công tố nói chung,
chức danh thực hiện quyền công tố nói riêng gắn liền với quá trình thiết lập, phát
triển bộ máy nhà nớc ta.
Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan công tố giai đoạn từ năm 1945
đến năm 1959 trải qua ba giai đoạn chủ yếu sau:
- Giai đoạn 1945 - 1950:
Theo các sắc lệnh số 13/SL ngày 24 tháng 01 năm 1946, Sắc lệnh số 51/SL
ngày 17 tháng 04 năm 1946, Sắc lệnh số 131/SL ngày 20 tháng 07 năm 1946, thì
các viên chức công tố nằm trong hệ thống cơ quan t pháp: ở Tòa án đệ nhị cấp
( cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng) có Thẩm phán xử án và Thẩm phán
buộc tội. Nh vậy, ở Tòa án đệ nhị cấp mặc dù cha có cơ quan công tố nhng lại có
các cán bộ làm nhiệm vụ công tố, đó là: Biện lý, Tham lý. ở Tòa thợng thẩm (tổ
chức ở ba miền Bắc, Trung, Nam) có các công tố viên do Chởng lý đứng đầu và
hoạt động của các cán bộ chuyên trách nh Biện lý, phó Biện lý... chịu sự chỉ đạo,
lãnh đạo của Bộ trởng Bộ t pháp. Các cán bộ của công tố viện đợc quyền làm các
nhiệm vụ t pháp cảnh sát, thực hiện việc buộc tội của nhà nớc và thực hiện việc
giám sát công tác điều tra của t pháp cảnh sát cũng nh hoạt động xét xử các vụ án
hình sự (tiểu hình và đại hình) của Tòa án. Nh vậy, có thể thấy, ngay từ những
ngày đầu thành lập cơ quan t pháp, nhà nớc ta đã trao cho các viên chức công tố
thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập để vừa thực hiện chức năng buộc tội vừa thực
hiện chức năng giám sát trong lĩnh vực hoạt động tố tụng, điều tra và xét xử.
- Giai đoạn 1950 - 1958:
Theo sắc lệnh số 85/SL ngày 25 tháng 05 năm 1950, Thông t số 11/TT-TTg
của Thủ tớng chính phủ ngày 07 tháng 06 năm 1950 và Thông t liên tịch số 18
7

8
2.2. Giai đoạn từ 1959 đến năm 1980
Thể chế hóa Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân đợc
Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 07 năm 1960 và Chủ tịch nớc công bố ngày 26
tháng 07 năm 1960 đã quy định cụ thể việc thành lập hệ thống cơ quan Viện kiểm
sát nhân dân.
Theo quy định của luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960, hệ thống
viện kiểm sát nhân dân bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng, Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và tơng đơng, và các viện kiểm sát quân sự. Hệ
thống viện kiểm sát nhân dân đợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất
lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nớc nào ở địa phơng
và thực hiện chế độ thủ trởng. Cùng với việc thành lập, luật tổ chức đã quy định rõ
chức năng của viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực
hành quyền công tố nhà nớc, bảo đảm cho pháp luật đợc thi hành nghiêm chỉnh và
thống nhất, pháp chế đợc giữ vững. Sự ra đời của viện kiểm sát nhân dân với vị trí,
chức năng, nhiệm vụ và đợc tổ chức dựa trên nguyên tắc đặc thù là một tất yếu
khách quan, xuất phát từ bản chất, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nớc xã
hội chủ nghĩa.
Trong mỗi cấp viện kiểm sát nhân dân thời kỳ này có các chức danh: Viện
trởng, các phó viện trởng, các kiểm sát viên và điều tra viên. Trong đó, Viện trởng
viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn, các phó viện trởng,
kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do ủy ban Thờng vụ Quốc hội bổ
nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch ủy ban Thờng vụ Quốc hội. Viện
trởng, các phó viện trởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp địa phơng
do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
(Điều 23, 24 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960). Nh vậy, chức danh
kiểm sát viên đã đợc quy định cụ thể về tên gọi và trật tự hình thành. Nếu nh trớc
đó, những cán bộ làm nhiệm vụ công tố, tức là những Biện lý, Tham lý, Chởng lý
do Chủ tịch nớc bổ nhiệm theo danh sách của Bộ trởng T pháp ấn định (Điều 56,

phạm vi các lĩnh vực kinh tế, lao động và hành chính.
10
Nh vậy, theo quy định của hiến pháp 1980 và luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân 1981, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp
luật và thực hành quyền công tố nhà nớc. Thông qua quyền kiểm sát việc tuân theo
pháp luật bảo đảm cho pháp luật đợc thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp
chế đợc giữ vững. Quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đợc thực hiện trên hai
lĩnh vực: Thứ nhất, là việc chấp hành pháp luật trong quản lý nhà nớc về hành
chính, kinh tế, hình sự, dân sự....Thứ hai, là việc chấp hành pháp luật trong tố tụng
t pháp.
Cùng với việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các đối tợng chủ thể
là các Bộ, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trởng, cơ quan chính quyền địa phơng,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nớc và
công dân (Điều 6 - Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981) Viện kiểm sát
nhân dân còn thực hành quyền công tố nhà nớc, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố,
xét xử, giam giữ, cải tạo và thi hành các bản án có căn cứ, đúng pháp luật, nghiêm
minh, kịp thời. Đặc biệt, trong các năm từ 1987 đến 1991, ngành kiểm sát đã tập
trung đẩy mạnh các hoạt động kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật phục vụ ba
chơng trình kinh tế lớn của Đảng và nhà nớc góp phần thực hiện công cuộc đổi
mới đất nớc theo tinh thần nghị quyết các Đại hội Đảng lần thứ VI, VII. Các cấp
kiểm sát đã chú trọng tăng cờng quyền kiểm sát đối với các cơ quan ngang cấp
trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế quan trọng nh Nông nghiệp, Công nghiệp
nhẹ, năng lợng, dự trữ quốc gia... phát huy tính sáng tạo, làm chủ trong sản xuất
kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phơng. Đồng thời
phát hiện và ngăn chặn các hành vi lợi dụng danh nghĩa đổi mới để làm trái pháp
luật. Năm 1989, trên cơ sở Hiến pháp 1980 đợc Quốc hội sửa đổi một số điều cho
phù hợp với tình hình mới, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, đã mở
rộng phạm vi thẩm quyền cho Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. "Trong
phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, Viện trởng viện kiểm sát nhân dân tối cao
có quyền ra quyết định đình chỉ và buộc phải sửa chữa những hành vi vi phạm

viên viện kiểm sát nhân dân tới thời kỳ này vẫn cha đợc quy định. Điều này tuy
góp phần ổn định cơ cấu tổ chức của cơ quan viện kiểm sát, nhng sẽ tạo ra tâm lý
ỷ lại đối với mỗi cán bộ kiểm sát, hạn chế việc phấn đấu, rèn luyện để hoàn thiện
12
chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ kiểm sát viên không theo đuổi kịp những yêu cầu
về khả năng đánh giá thực tế, về nắm bắt những kiến thức ở lĩnh vực khác liên
quan... đây là một trong những vấn đề cần đợc pháp luật sửa đổi, bổ sung ở thời kỳ
sau.
2.4. Giai đoạn từ 1992 đến nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu sự đổi mới nhận thức của
Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp 1992 sửa đổi đợc
Quốc hội thông qua khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của toàn Đảng, toàn dân, khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã
hội, xác định rõ vị trí vai trò của hệ thống cơ quan t pháp trong công cuộc xây
dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó có cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân.
Cụ thể hoá quy định của hiến pháp, Quốc hội đã thông qua luật Tổ chức
viện kiểm sát nhân dân ngày 07 tháng 10 năm 1992 và ngày 12 tháng 05 ủy ban
Thờng vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh kiểm sát viên. Những văn bản pháp luật
này đã khẳng định vị trí, chức năng nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức hoạt động của
viện kiểm sát nói chung và kiểm sát viên nói riêng, đáp ứng yêu cầu đổi mới của
đất nớc. Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công
tố nhà nớc, viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên các cấp tiếp tục nhiệm vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ và quyền làm chủ của nhân dân, bảo
vệ tài sản của nhà nớc, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công
dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nớc, của tập thể, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân đều phải đợc xử lý theo pháp luật... đảm bảo cho
pháp luật đợc thực thi nghiêm minh, công bằng. Theo quy định của luật Tổ chức
Viện kiểm sát và Pháp lệnh kiểm sát viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
tối cao do Chủ tịch nớc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện

viên Viện kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ này không còn chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan
khác thuộc chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phơng, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang và công dân nữa mà thực hiện chức năng thực hành quyền
14
công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp (gồm 5 lĩnh vực cụ thể). Cùng với sự thu
hẹp quyền hạn của kiểm sát viên trong lĩnh vực kiểm sát việc giải quyết các vụ án
kinh doanh thơng mại, lao động, dân sự, hành chính trong Bộ luật Tố tụng dân sự,
pháp luật hiện hành về kiểm sát viên đã giải quyết tình trạng thừa mà thiếu trong
công tác kiểm sát, nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm sát viên cũng nh của
viện kiểm sát nhân dân. Với những quy định rất cụ thể về tiêu chuẩn, trình tự thủ
tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức (mà trớc đây cha có) kiểm sát
viên đợc hình thành theo một thủ tục chặt chẽ. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân tối cao do Chủ tịch nớc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Uỷ
ban kiểm sát tối cao và Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và tơng đơng do Viện trởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Uỷ
ban kiểm sát cấp tỉnh, sau khi có sự lựa chọn của Hội đồng tuyển chọn đối với ng-
ời có đủ điều kiện tiêu chuẩn. Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên viện kiểm sát
nhân dân tối cao gồm Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại
diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ơng Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Ban chấp hành Hội luật gia Việt Nam làm uỷ viên; Hội đồng tuyển
chọn kiểm sát viên cấp tỉnh do Chủ tịch hoặc phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh
làm Chủ tịch, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, đại diện lãnh đạo Ban tổ
chức chính quyền (hiện nay là Sở Nội vụ), Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh làm uỷ viên.Việc quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên là một sự tiến bộ thực sự,
đảm bảo việc lựa chọn ngời đủ tiêu chuẩn bổ nhiệm vào chức danh kiểm sát viên
viện kiểm sát nhân dân.
Về nhiệm kỳ công tác, Pháp lệnh kiểm sát viên 2002 quy định rõ: nhiệm

t pháp. Theo đó, Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động
t pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát các hoạt động t pháp, góp phần
đảm bảo cho pháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất; Viện kiểm sát
nhân dân địa phơng kiểm sát các hoạt động t pháp ở địa phơng mình theo quy định
của pháp luật.
16
Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân quy định chức năng, nhiệm vụ của
Viện kiểm sát nhân dân nói chung, kiểm sát viên nói riêng đối với kiểm sát việc
tuân thủ pháp luật trong các hoạt động t pháp; tiếp nhận, giải quyết khiếu nại tố
cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo về hoạt động t pháp. Theo đó,
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc điều tra các vụ án hình sự của cơ quan điều tra và các cơ quan khác đợc
giao nhiệm vụ điều tra; điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động t pháp
mà ngời phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan t pháp; kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong xét xử vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế,
lao động, hành chính và hôn nhân gia đình; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc thi hành bản án, quyết định của toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục ngời chấp hành án phạt tù; tiếp
nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về các hoạt động t pháp của các cơ quan t
pháp theo luật định. Khi thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp, Viện
kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết định kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu. Các
quyết định này phải đợc các cơ quan tổ chức, đơn vị, cá nhân thực hiện nghiêm
chỉnh theo quy định của pháp luật. Cụ thể là:
- Đối với công tác kiểm sát hoạt động điều tra
Trong lĩnh vực hoạt động này, Viện kiểm sát nói chung và kiểm sát viên nói
riêng, khi đợc phân công nhiệm vụ, có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra, các cơ quan khác đợc giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội
đều phải đợc điều tra, khởi tố và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và kẻ phạm
tội, không làm oan ngời vô tội, không để ngời nào bị khởi tố, bị bắt, giam giữ, bị

chính, kinh tế, lao động
Khi thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, kiểm sát viên có quyền kiểm
sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án, yêu cầu tòa án hoặc tự mình điều tra, xác minh
những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án. Khởi tố các vụ án
dân sự theo quy dịnh của pháp luật, tham gia phiên tòa xét xử và phát biểu quan
điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động xét xử của những ngời tham gia tố tụng; yêu cầu tòa án áp dụng
18
các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật quy định; thực hiện quyền kháng
nghị, đồng thời có quyền kiến nghị Tòa án khắc phục những vi phạm pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án. Sự tham gia của kiểm sát viên tại phiên tòa là
điều kiện để phiên tòa đợc diễn ra hợp pháp, đúng luật định.
- Đối với công tác kiểm sát thi hành án
Sự tham gia của kiểm sát viên từ giai đoạn điều tra tới khi Tòa án ra bản án
hoặc quyết định là cha đủ. Thực tế đã có rất nhiều vụ án cha thật sự đảm bảo đợc
tính giáo dục và phòng ngừa chung, vì án không đợc thi hành hoặc thi hành không
đúng luật định. Do đó, công tác kiểm sát thi hành án là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và kiểm sát viên nói riêng.
Kiểm sát thi hành án là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân
dân, cơ quan thi hành án, chấp hành viên và những cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đảm bảo
bản án, quyết định đó đợc thi hành đúng pháp luật, đầy đủ và kịp thời trên thực tế.
Theo đó, viện kiểm sát nói chung và kiểm sát viên nói riêng có quyền yêu cầu tòa
án, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dới, tổ chức và cá nhân có liên quan đến
việc thi hành bản án, quyết định đúng quy định; cung cấp tài liệu, vật chứng có
liên quan đến việc thi hành án; trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại cơ
quan thi hành án cùng cấp và cấp dới; của chấp hành viên trong việc thi hành bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; giải quyết việc kháng cáo khiếu nại, tố cáo
việc thi hành án, đồng thời thực hiện quyền kháng nghị về những sai sót, vi phạm
trong công tác thi hành án theo quy định của pháp luật. Khi phát hiện có vi phạm

công dân của nhà nớc đều phải bị xử lý theo pháp luật, phù hợp với thực tiễn trong
công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân.
Có một vấn đề cần nói thêm rằng, trong bộ máy nhà nớc có nhiều cơ quan
thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra, giám sát. Do đó việc phân định rõ ràng
chức năng của các cơ quan nhà nớc này, đặc biệt là việc phân định ranh giới giữa
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát với chức năng thanh
tra của cơ quan Thanh tra nhà nớc có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm không có sự
trùng chéo, mâu thuẫn giữa hai cơ quan, nhất là trong lĩnh vực hành chính, kinh tế.
20
Đồng thời việc phân định này cũng làm rõ sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát
của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân với hoạt động thanh tra của thanh tra
viên thuộc cơ quan thanh tra.
Là ngời thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, chịu sự lãnh đạo, phân
công của Viện trởng, kiểm sát viên thực hiện hoạt động kiểm sát khi phát hiện có
sự vi phạm pháp luật (theo nhiều nguồn khác nhau), tiến hành kháng nghị, kiến
nghị theo luật định lên cấp có thẩm quyền mà không có quyền áp dụng biện pháp
xử lý, trong khi thanh tra viên là ngời thực hiện hoạt động thanh tra định kỳ hoặc
thờng xuyên theo quy định của Luật Thanh tra dới sự chỉ đạo của Thủ trởng ngành
và cơ quan Hành chính nhà nớc ngay cả khi không có vi phạm và có quyền áp
dụng các biện pháp xử lý khi phát hiện vi phạm trong phạm vi thẩm quyền.
3.2. Trong lĩnh vực thực hành quyền công tố
Công tố là quyền của nhà nớc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời
phạm tội. ở nớc ta, quyền công tố đợc nhà nớc giao cho Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm
việc thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ để xác định tội phạm và ngời phạm tội, trên
cơ sở đó truy tố bị can ra trớc Tòa án và thực hiện quyền buộc tội tại phiên tòa.
Nh vậy, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nớc đối với ngời phạm tội,
do đó đối tợng tác động của quyền công tố là tội phạm và ngời phạm tội. Nội dung
của quyền công tố là sự buộc tội đối với ngời có hành vi phạm tội.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa với nhiệm vụ chứng
minh tính có lỗi của bị cáo và đa ra lời buộc tội. Hoạt động chứng minh của kiểm
sát viên đợc thực hiện theo các giai đoạn khác nhau, với các hình thức khác nhau.
Trong phần xét hỏi, kiểm sát viên đựoc hỏi bị cáo về các tình tiết của vụ án liên
quan đến việc buộc tội, gỡ tội, hỏi ngời tham gia tố tụng (ngời bị hại, nguyên đơn.
bị đơn....), đợc xem xét trực tiếp, kiểm tra các chứng cứ, làm rõ các tình tiết của vụ
án. Nếu tại phiên tòa, ngời tham gia tố tụng xuất trình thêm những tài liệu mới thì
kiểm sát viên cần làm rõ nguồn gốc xuất xứ và nội dung tài liệu đó để đề xuất việc
chấp nhận hay bác bỏ trong phần luận tội. Nhiệm vụ của kiểm sát viên trong giai
đoạn này là xác định các tình tiết đã xảy ra nh thế nào? Có hay không có hành vi
22
phạm tội? Là cơ sở khẳng định sự đúng đắn trong kết luận của mình ở phần tranh
luận mà cha đa ra một nhận định hay một kết luận nào.
Kết thúc phần xét hỏi, bớc sang phần tranh luận, hoạt động chứng minh của
kiểm sát viên đợc thông qua việc trình bày lời luận tội, buộc tội bị cáo trớc tòa,
gồm hai bớc luận chứng và luận tội.
Sau khi đã buộc tội bị cáo với tội danh cụ thể, kiểm sát viên sẽ tiến hành
luận tội bằng việc làm rõ tính chất hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, hậu quả,
nguyên nhân điều kiện phạm tội cũng nh vai trò trách nhiệm nhân thân ngời phạm
tội để có sự tâm phục, khẩu phục của bị cáo cũng nh những ngời tham gia tố
tụng khác đối với tội danh và hình phạt mà kiểm sát viên đề xuất.
Tranh luận tại phiên tòa là tiếp tục thực hành quyền công tố nhà nớc để bảo
vệ cáo trạng, bảo vệ quan điểm của viện kiểm sát. Vì vậy khi tiến hành tranh luận
kiểm sát viên phải phân tích, chứng minh, chứng cứ làm rõ nội dung truy tố của
cáo trạng, nội dung tranh luận phải đạt tính chính xác và thuyết phục, bảo vệ quan
điểm của viện kiểm sát, không để xảy ra oan sai, lọt tội.
3.2.2. Trong giải quyết các vụ án Dân sự, Kinh tế, Lao động, Hành chính
và Hôn nhân gia đình
Trong giải quyết các vụ án dân sự, thơng mại, hành chính, lao động và hôn
nhân gia đình, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 quy định Viện kiểm sát

thành Viện công tố (vấn đề chỉ phụ thuộc vào thời gian nào và lộ trình nào cho phù
hợp), khi ấy chức năng của viện kiểm sát sẽ thay đổi cơ bản, sẽ không có chức
năng giám sát các hoạt động t pháp nữa, các biện pháp công tác nh kiểm sát việc
giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, thơng mại, lao động, hôn nhân gia đình
và thi hành án sẽ không thuộc phạm vi chức năng thực hành quyền công tố. Nhng
đó là câu chuyện của tơng lai, pháp luật hiện hành vẫn quy định vai trò, nhiệm vụ
quyền hạn của kiểm sát viên trong lĩnh vực này, và họ vẫn đã và đang đảm bảo sự
nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
4. Tiêu chuẩn, trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức
kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Với nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ và
quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nớc, của tập thể, bảo vệ tính
24
mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, viện kiểm sát
nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp và thực hành quyền
công tố. Chức năng, nhiệm vụ này đợc trực tiếp thực hiện bởi các kiểm sát viên, do
đó cần một đội ngũ kiểm sát viên trong sạch vững mạnh, đủ năng lực thực hiện tốt
những nhiệm vụ quyền hạn mà Viện kiểm sát giao phó. Đặc biệt, hoạt động truy tố
của kiểm sát viên liên quan trực tiếp đến tính mạng, danh dự nhân phẩm tài sản
của con ngời, rất cần một bản lĩnh một sự sáng suốt cho một quyết định đúng đắn,
hợp lòng ngời. Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi đất nớc đang đẩy mạnh tiến
trình hội nhập, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành t pháp nói chung và đội ngũ kiểm
sát viên nói riêng tinh thông nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có bản
lĩnh và lơng tâm nghề nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu của công cuộc cải cách t pháp.
4.1. Các quy định về tiêu chuẩn kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là những cán bộ của ngành kiểm sát
đợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có nhiệm vụ thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, bảo đảm cho pháp luật đợc
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa đợc giữ vững.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, ngành kiểm sát đợc tổ chức theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status