Địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng dân sự trước yêu cầu cải cách tư pháp - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*************

PHAN THỊ LƢƠNG

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ TRƢỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*************

PHAN THỊ LƢƠNG

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
TRƢỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2017




Hội thẩm nhân dân

:

HTND

Tố tụng dân sự

:

TTDS

Tòa án nhân dân tối cao

:

TANDTC

Viện Kiểm sát

:

VKS

Xã hội chủ nghĩa

:

XHCN



2.1.1. Các quy định bảo đảm sự vô tư, khách quan của Thẩm phán trong tố tụng
dân sự ...................................................................................................................43
2.1.2. Các quy định về sự độc lập của Thẩm phán trong tố tụng dân sự ............46
2.1.3. Các quy định về trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự ........... 49
2.2. Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thẩm phán trong tố tụng
dân sự ...................................................................................................................50
2.2.1. Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc........................................51
2.2.2. Lập hồ sơ vụ việc dân sự ............................................................................56
2.2.3. Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để
giải quyết vụ việc dân sự ......................................................................................58
2.2.4. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời................................................................................................................. 67
2.2.5. Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự .............69
2.2.6. Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu
cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý ................70
2.2.7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ................ 70
2.2.8. Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết, triệu
tập người tham gia phiên tòa, phiên họp .............................................................72
2.2.9. Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự..........73
2.2.10. Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt
động tố tụng theo quy định ...................................................................................75
2.2.11. Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản không hợp hiến, hợp
pháp ......................................................................................................................75
2.2.12. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật
..............................................................................................................................76


Nam phải có những cải cách về thể chế tƣ pháp và pháp luật tố tụng dân sự. Việc
Việt Nam tham gia hoặc ký kết các công ƣớc, điều ƣớc quốc tế song phƣơng và
đa phƣơng đã tạo cho nƣớc ta nhiều cơ hội nhƣng cũng đặt ra nhiều thách thức.
Công cuộc hội nhập đòi hỏi các cán bộ, công chức ngành tƣ pháp không những
phải có kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực luật nội dung mà còn phải có
hiểu biết sâu sắc về pháp luật tố tụng, ý thức đƣợc rõ ràng vị trí, vai trò, chức
năng và nhiệm vụ, quyền hạn của mình và tuân thủ pháp luật trong việc bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của các chủ thể. Trong hệ thống các cơ quan tƣ pháp, Tòa án là
cơ quan nhân danh Nhà nƣớc thực hiện quyền tƣ pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý,
quyền con ngƣời, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể, do vậy,
Tòa án là trọng tâm của cải cách tƣ pháp. Trong hệ thống Tòa án của Việt Nam,
Thẩm phán đƣợc coi là ngƣời tiến hành tố tụng chủ yếu thực hiện chức năng và các
nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án. Do vậy, trong bối cảnh cải cách tƣ pháp hiện nay
thì địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự là một vấn đề cần đƣợc quan
tâm, chú trọng một cách đúng mức để họ có thể thực sự độc lập trong việc bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 đã
xác định Tòa án giữ vai trò trung tâm trong hệ thống tƣ pháp, hoạt động của Tòa
án là trọng tâm của hoạt động tƣ pháp. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp
tục khẳng định nhiệm vụ:“đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tƣ pháp…”.
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới đã đƣa ra một trong
những nhiệm vụ của cơ quan tƣ pháp là phải nâng cao chất lƣợng trong công tác
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp
thời, nghiêm minh, đảm bảo và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp
6


pháp của các tổ chức và công dân. Nghị quyết số 08 cũng khẳng định: “Nâng
cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt



của Thẩm phán đối với việc mở rộng tranh tụng trong các vụ án dân sự” của tác
giả Tƣởng Duy Lƣợng và Nguyễn Văn Cƣờng, Tạp chí khoa học pháp lý, số 02,
2004; bài viết “Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở nƣớc ta, những nguyên nhân và
bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng”, của tác giả Đỗ Gia Thƣ, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 04, 2004.v.v... Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích,
luận giải đƣợc những khía cạnh nhất định về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, các công trình
này chủ yếu đƣợc triển khai nghiên cứu theo Luật Tổ chức Tòa án trƣớc đây và
Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004. Nay theo Hiến pháp năm 2013,
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS)
năm 2015 thì nhiều quy định liên quan đến địa vị pháp lý của Thẩm phán đã có
sự thay đổi đáng kể.
Luận văn “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự trước yêu
cầu cải cách tư pháp” đƣợc thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật có
liên quan trong thời gian gần đây để phân tích, nghiên cứu, đánh giá về địa vị
pháp lý của Thẩm phán gắn với quá trình cải cách tƣ pháp hiện nay.
3.

Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm đề xuất các giải pháp nhằm góp phần
hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoạt động của Thẩm phán theo Bộ luật
tố tụng dân sự cũng nhƣ nghiên cứu tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt
động của Thẩm phán trong tố tụng dân sự trong quá trình xét xử, đáp ứng yêu
cầu của cải cách tƣ pháp.
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích đặc điểm của các mô hình tố tụng dân sự qua đó thấy rõ đƣợc
địa vị pháp lý của Thẩm phán tƣơng ứng với từng mô hình.


Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phép biện chứng duy vật,
phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các luận
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khoa học
nhƣ: phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh, phƣơng
pháp thống kê, tổng hợp.
6.

Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn đã luận giải làm rõ đƣợc khái niệm về địa vị pháp lý của Thẩm
phán đồng thời phân tích làm rõ những yếu tố thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm
9


phán nhƣ vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự, thực tiễn áp dụng những quy định đó, đồng thời chỉ
ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành từ đó đƣa ra những kiến nghị
và giải pháp hoàn thiện.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn,
làm sâu sắc hơn cơ sở của việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự. Kết quả nghiên cứu này còn là tài
liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan tới
địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sựHơn nữa, luận văn còn có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng cho những ngƣời làm công tác thực tiễn mà cụ thể là
Thẩm phán. Luận văn sẽ giúp cho Thẩm phán có nhận thức đúng đắn về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình để từ đó áp dụng một cách có hiệu quả.
7.


Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định việc xét xử sơ thẩm của Toà án
nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trƣờng hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ
quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Theo
quy định tại Điều 105 của Hiến pháp 2013 thì việc bổ nhiệm , phê chuẩ n , miễn
nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán ...do luật định. Vị trí độc lập của
Thẩm phán đƣợc tiếp tục ghi nhận trong Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2014. Theo đó, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm
phán, Hội thẩm dƣới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, cơ quan tổ chức có hành vi
can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức
11


độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
Việc nghiên cứu cũng cho thấy sự tách bạch và độc lập giữa Tòa án ra khỏi
hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán
bộ mới trong bộ máy nhà nƣớc làm nhiệm vụ xét xử từ trƣớc đến nay đó là Thẩm
phán [10, tr 16]. Theo đó, Thẩm phán là một chức danh thuộc bộ máy tƣ pháp
thực hiện quyền lực nhà nƣớc trong lĩnh vực tƣ pháp, trong đó có tƣ pháp dân sự.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều định nghĩa về Thẩm phán, trong đó có cả
định nghĩa đƣợc các nhà nghiên cứu thực hiện trong các công trình nghiên cứu
và cả định nghĩa đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp luật. Chẳng hạn nhƣ,
“Thẩm phán là một chức danh Nhà nước trong hệ thống Tòa án các cấp” [33]. Tác giả
Đỗ Gia Thƣ cho rằng “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án,
chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án,
ra bản án, quyết định nhân danh Nhà nước” [10, tr 17].
Nghiên cứu các văn bản pháp luật cho thấy thuật ngữ này cũng đã đƣợc thể
hiện tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002. Theo đó,

vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là quyền
lợi, nghĩa vụ cũng nhƣ trách nhiệm pháp lý phát sinh; là nền tảng để xác định
quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngƣời và cũng là điểm xuất phát để gỡ rối tranh
chấp trong tố tụng. Chính vì vậy, theo tác giả luận văn, địa vị pháp lý được hiểu
đó là vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi chủ thể trong một
hay nhiều quan hệ nhất định.
Nói đến Thẩm phán trƣớc hết phải hiểu đó là ngƣời - chuyên hành nghề xét
xử. Công việc xét xử của Thẩm phán đƣợc coi là một nghề - nghề có tính đặc
thù. Bởi lẽ, chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử. Tính đặc thù nghề nghiệp
của Thẩm phán đƣợc thể hiện ở chỗ: Nghề này có ảnh hƣởng lớn đến tính công
minh của pháp luật, uy tín về nền công lý của một quốc gia, lao động của Thẩm
phán chính là lao động trí óc, đầy khó khăn phức tạp dƣới sự giám sát nghiêm
ngặt của xã hội và công dân. Thẩm phán là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc trực
13


tiếp áp dụng pháp luật, do vậy, sự công bằng, khách quan và độc lập khi tiến
hành tố tụng là không thể thiếu đƣợc của ngƣời Thẩm phán, hoạt động của Thẩm
phán gắn liền với việc áp dụng các biện pháp cƣỡng chế liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của công dân, tổ chức. Thẩm phán hoạt động theo một trình tự pháp lý
chặt chẽ đƣợc quy định trong pháp luật tố tụng dân sự; khi xét xử, Hội đồng xét
xử nhân danh Nhà nƣớc để ra bản án hoặc quyết định.
Nhƣ vậy, theo tác giả luận văn, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng
dân sự được hiểu là tổng thể các vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn được pháp luật tố tụng dân sự trao cho họ khi thực hiện các hoạt động tố
tụng nhân danh Nhà nước và các hoạt động khác trong lĩnh vực tố tụng dân sự
thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt địa vị pháp lý của Thẩm phán với tƣ cách
là một chức danh đƣợc nhân danh nhà nƣớc với địa vị pháp lý của ngƣời Thẩm
phán khi họ với tƣ cách là một công dân, cán bộ, công chức nhà nƣớc.

điểm của tố tụng thẩm vấn kết hợp tiếp thu nhƣ̃ng yếu tố hợp lý, tiến bộ của mô
hình tố tụng tranh tụng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhằm nâng
cao tính dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch. Trong tố tụng dân sự, nguyên
tắc tranh tụng phải đƣợc thể hiện ngay từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc xét xử,
để duy trì những nội dung hợp lý của mô hình tố tụng dân sự, cần xác định rõ
trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng.
Nếu ở mô hình tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán không chỉ thực hiện chức
năng xét xử mà còn thực hiện cả chức năng điều tra thì ở mô hình tố tụng tranh
tụng Thẩm phán giữ vai trò là trọng tài giữa bên nguyên đơn và bị đơn, Toà án
phải có thái độ vô tƣ, khách quan và công minh. Các thành viên HĐXX phải
quan tâm ở mức độ nhƣ nhau đối vói tất cả những nguời tham gia phiên toà và
có thái độ khách quan, không thiên vị đối với các chứng cứ, các yêu cầu, đề nghị
của các bên đƣa ra cũng nhƣ đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà
pháp luật dành cho họ. Toà án không đƣợc phép định kiến đối với bất cứ bên nào
và cũng không thể bị ràng buộc bởi bất cứ một yêu cầu, đề nghị hoặc ý kiến của
bất kỳ ai. Đối với quan toà, thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp.
Trong mô hình tố tụng tranh tụng, một đặc điểm nổi bật là Thẩm phán thụ
động và trung lập. Mô hình tranh tụng dựa trên vai trò trung lập và thụ động của
Thẩm phán để giải quyết các tranh chấp giữa các bên qua các thủ tục đối kháng.
Thẩm phán chỉ đƣa ra kết luận cuối cùng và đứng ngoài mọi tranh luận. Trách
nhiệm trình bày chứng cứ thuộc về các bên. Lý luận của mô hình tranh tụng đòi

15


hỏi rằng các bên phải có trách nhiệm đƣa ra chứng cứ trƣớc Toà. Nguyên tắc này
bảo đảm cho Toà án thoát khỏi mọi ảnh hƣởng hay định kiến - nếu tham gia vào
việc thu thập chứng cứ. Điều đó cũng khuyến khích các bên phải tận dụng hết
mọi cơ hội hay khả năng để tìm tòi, đƣa ra những chứng cứ thuyết phục nhất và
qua đó Thẩm phán có điều hiện để suy xét, đƣa ra phán quyết thích hợp nhất.

của VKS. Tuy nhiên, để làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Luận
văn chỉ xét mối quan hệ của Thẩm phán với Chánh án Tòa án, Hội thẩm, Thẩm
tra viên, Thƣ ký Tòa án và Kiểm sát viên.
- Thứ nhất, mối quan hệ của Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng
+ Về mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án Tòa án là mối quan hệ
hành chính với nhau, mối quan hệ này đƣợc hiểu dƣới hai góc độ khác nhau:
Đầu tiên, mối quan hệ giữa Thẩm phán với tƣ cách cán bộ cơ quan và
Chánh án với tƣ cách thủ trƣởng cơ quan. Đây là mối quan hệ hành chính. Thẩm
phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án chịu sự quản lý của Chánh
án. Với tƣ cách là cán bộ Tòa án, Thẩm phán phải chịu trách nhiệm, chấp hành
nhiệm vụ đƣợc giao trƣớc Chánh án. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Thẩm phán
và Chánh án với tƣ cách là Thẩm phán tham gia giải quyết vụ việc dân sự. Đây
là mối quan hệ tố tụng và chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng dân sự, phải
độc lập trong xét xử.
Vì vậy, điểm khác biệt giữa nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án và
Thẩm phán ở đây đó là Chánh án giữ chức danh quản lý hành chính và Thẩm
phán phải là ngƣời chịu sự phân công, quản lý, chấp hành của Chánh án giao
trong mỗi vụ việc dân sự.
+ Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm
Đây là mối quan hệ tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự. Thẩm phán và Hội thẩm là thành phần của Hội đồng xét xử. Hội thẩm đại
diện cho quần chúng nhân dân tham gia vào công tác xét xử, giám sát hoạt động
của Tòa án góp phần làm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, hợp lẽ công
bằng, bảo đảm pháp chế.
Tại phiên tòa, Hội thẩm cũng có quyền tham gia xét hỏi nhƣng phải theo
thứ tự Chủ tọa phiên tòa hỏi trƣớc rồi mới đến Hội thẩm. Hội thẩm có quyền
nghị án, đƣa ra quan điểm và biểu quyết. Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc
17




tra hồ sơ vụ việc dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; kết luận về việc thẩm
tra và báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phƣơng án giải quyết vụ việc dân sự với
Chánh án Tòa án.
Mặc dù, chức danh Thẩm phán và Thẩm tra viên đều đƣợc Chánh án Tòa
án phân công nhƣng họ đều có những nhiệm vụ, quyền hạn hoàn toàn khác nhau.
Trong khi bản án, quyết định dân sự của Tòa án đƣợc ban hành qua chức năng
xét xử của Thẩm phán tại phiên tòa mà đã có hiệu lực pháp luật thì chính các
quyết định, bản án ấy lại đƣợc chức danh Thẩm tra viên thẩm tra, xem xét lại
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
+ Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên
Trong mối quan hệ với Thẩm phán, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại
phiên tòa có nhiệm vụ tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến của VKS về việc
giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, kiểm sát bản án, quyết định của
Tòa án, kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng theo quy
định của pháp luật.
Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên phải tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa
phiên tòa về mặt trình tự tố tụng. Thế nên, khác với chức danh Thẩm phán, Kiểm
sát viên chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tƣ
pháp mà không thực hiện chức năng xét xử nhƣ chức danh Thẩm phán.
- Thứ hai, mối quan hệ giữa Thẩm phán với Luật sư:
Luật tố tụng dân sự quy định về sự tham gia của Luật sƣ trong quá trình Tòa
án giải quyết vụ án. Luật sƣ góp phần vào việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án,
họ đƣợc quyền tham gia vào quá trình tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của thân chủ mình. Luật sƣ có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, sao chép các tài liệu
cần thiết trong hồ sơ vụ án, đƣợc biết về thời gian địa điểm mở phiên tòa.
Trong quá trình tác nghiệp của Luật sƣ tại phiên tòa thì Thẩm phán phải tạo
điều kiện để họ thực hiện những quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
19

20


Thứ nhất, trong xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán thể hiện vị trí, chức năng
của mình thông qua việc giải quyết vụ án dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; Xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn; hoạt động của Hội đồng xét xử
giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự; nằm trong thành phần giải quyết việc dân
sự; qua thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện; qua việc trả lại đơn khởi kiện, hậu
quả của việc trả lại đơn khởi kiện; yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; khiếu
nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện…
Thứ hai, trong giải quyết việc dân sự, Thẩm phán thể hiện vị trí, vai trò của
mình thông qua thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu; chuẩn bị xét đơn yêu cầu;
quyết định việc thay đổi ngƣời tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự; thủ
tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự; chuẩn bị xét kháng cáo, kháng
nghị; thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.v.v…
Thứ ba, bảo vệ công lý trong lĩnh vực tố tụng dân sự
Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, trong đó Thẩm phán là trụ cột, là chỗ dựa
vững chắc cho công dân, tổ chức trong việc bảo vệ công bằng xã hội. Trong xét
xử bắt buộc phải có Thẩm phán, Thẩm phán có quyền xét xử, chính vì vậy Thẩm
phán giữ vị trí, vai trò trọng yếu trong hoạt động xét xử, có tính chất quyết định
đến chất lƣợng xét xử của Tòa án. Quần chúng nhân dân có đặt lòng tin vào công
lý hay không đều phụ thuộc vào sự phán quyết cuối cùng của Hội đồng xét xử.
Bởi vậy, Thẩm phán thể hiện vị trí, chức năng qua việc hòa giải và công
nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; Xem xét yêu
cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ƣớc lao động tập thể vô hiệu; Thủ
tục giải quyết đơn yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công.v.v…
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Theo quy định của BLTTDS 2015 thì Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn, đó là: Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân sự theo
quy định của Bộ luật này; Lập hồ sơ vụ việc dân sự; Tiến hành thu thập, xác

của Đảng nếu hợp với lòng dân, hƣớng tới phụng sự cho việc bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của dân một cách công bằng thì cần đƣợc lĩnh hội, tiếp thu và chuyển
22


hóa vào trong các quy phạm pháp luật. Để tạo chuyển biến căn bản trong cải
cách tƣ pháp, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức
Toà án. Lựa chọn vấn đề này vì xét đến cùng, Toà án là nơi giám sát kết quả hoạt
động của cả hệ thống tƣ pháp. Ngay cả việc thi hành án ở khâu cuối cùng của tố
tụng hình sự cũng nhƣ tố tụng dân sự còn gặp nhiều khó khăn cũng phải xem xét
từ cội nguồn của vấn đề là chất lƣợng bản án. Bản án công bằng, vô tƣ luôn tạo
ra sức mạnh và tính chính đáng của hệ thống cơ quan tƣ pháp vì nó đƣợc ngƣời
dân tin tƣởng “tâm phục, khẩu phục”. Thông qua hoạt động của Toà án, các cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát cũng phải không ngừng nâng cao năng lực của mình
bởi lẽ theo tinh thần pháp quyền và pháp luật thực định nếu Toà án tuyên sai, ắt
hẳn các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp dƣới phải thực hiện
việc bồi thƣờng nếu có lỗi để xảy ra oan trong quá trình tố tụng. Việc nghiên cứu
cho thấy, ở Việt Nam Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị
và Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 đã xác định nhiệm vụ của cải cách
tƣ pháp là bảo đảm để Tòa án là trung tâm và xét xử là hoạt động trung tâm.
Quan điểm đó xuất phát từ yêu cầu và các định hƣớng của nhiệm vụ xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở nƣớc ta.
Cải cách tƣ pháp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu và
định hƣớng xây dựng nhà nƣớc pháp quyền. Theo đó, các cơ quan tƣ pháp nói
chung và Tòa án nói riêng phải thực sự “phụng công, thủ pháp, chí công vô tƣ, là
chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân”. [12, Tr. 116].
Trong số các quan điểm và chủ trƣơng của Đảng ta về cải cách tƣ pháp thì
quan điểm và chủ trƣơng đề cao vai trò của Tòa án trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta là quan điểm mang
tính đột phá. Theo đó, về mặt nhận thức cũng nhƣ quá trình tổ chức thực tiễn và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status