1
M U
1. p thit c
Trong TTHS nước ta, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trò rất quan
trọng đối với cả tiến trình giải quyết vụ án hình sự. Kết quả của giai đoạn điều tra
vụ án hình sự đóng vai trò quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động
buộc tội và là cơ sở, nền tảng để các chức năng TTHS khác trong các giai đoạn tố
tụng tiếp theo được tiến hành. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự với hoạt động tố
tụng chủ đạo là hoạt động của CQĐT, được đánh giá là giai đoạn tố tụng tiềm ẩn
nhiều nhất nguy cơ sai sót, vi phạm pháp luật, kể cả những sai sót, vi phạm pháp
luật nghiêm trọng dẫn đến việc truy cứu TNHS oan, sai.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKS có chức năng, nhiệm vụ
THQCT và kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT và các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Với chức năng, nhiệm vụ đó, VKS
giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn điều tra, đảm bảo tính pháp chế của hoạt động
điều tra, ngay từ khi khởi tố, bắt giữ người phạm tội, yêu cầu điều tra thu thập
chứng cứ cho đến khi kết thúc điều tra nhằm làm rõ toàn bộ sự thật khách quan của
vụ án, nhằm mục đích phát hiện nhanh chóng, chính xác, điều tra để truy tố mọi tội
phạm. Hoạt động THQCT và KSĐT của VKS hướng đến tính chính xác, khách
quan của quá trình chứng minh sự thật của vụ án hình sự thuộc phạm vi trách nhiệm
của CQĐT, bảo đảm việc truy cứu TNHS có căn cứ và hợp pháp, ngăn ngừa xảy ra
các trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội.
Thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, từ khi có Nghị quyết
số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới”, hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đã
có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, tạm giam,
phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can, kiểm sát các hoạt động điều tra ngày
trường hợp VKS truy tố, tòa án tuyên không phạm tội là 532 trường hợp, đạt tỷ lệ
0,05% tổng số bị can bị khởi tố, điều tra); tình trạng trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ
sung thời gian qua đã phản ánh chất lượng hoạt động của CQĐT và VKS, tuy từng
bước đã được hạn chế nhưng chuyển biến còn chậm, số lượng vụ bị trả hồ sơ
3
nhiều lần mà vẫn chưa đủ chứng cứ kết tội bị cáo còn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số
vụ án đã quyết định truy tố (trong 10 năm, tòa án các cấp trả hồ sơ cho VKS để
điều tra bổ sung là 22.262 vụ, chiếm tỷ lệ 3,8% trên tổng số 584.457 vụ VKS đã
truy tố. Số vụ án do tòa án cấp tỉnh các địa phương trả lại các đơn vị nghiệp vụ
của VKSND tối cao trong các năm 2008 và 2009 lên tới 44,5%); hiệu quả về mặt
xã hội trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của hoạt động thực thi chức năng,
nhiệm vụ của VKS trong điều tra vụ án hình sự chưa cao, thể hiện qua thực tế:
hoạt động KSĐT ở một số đơn vị kiểm sát còn mang tính hình thức, nặng về phát
hiện vi phạm có tính thủ tục mà chưa phân tích sâu để làm rõ bản chất vi phạm
pháp luật đó đã ảnh hưởng như thế nào đến tính khách quan, tính toàn diện của vụ
án để có thể kiến nghị CQĐT có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục; công tác kiến
nghị phòng ngừa tội phạm ở cả ba cấp kiểm sát còn hạn chế, chưa gắn thống kê tội
phạm với việc phân tích tình hình tội phạm, các đặc điểm, đặc trưng, thủ đoạn của
từng loại tội phạm để tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong việc đề ra các biện
pháp phòng ngừa tội phạm một cách hiệu quả, gắn đấu tranh phòng, chống tội
phạm với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với những tồn tại, hạn chế nêu trên, hoạt động của VKS hiện nay
đang đứng trước nhiều thách thức lớn lao xuất phát từ những yếu cầu, đòi hỏi của
công cuộc đổi mới, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế, xã hội của Việt Nam theo
hương hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hóa. Hệ lụy nghiêm trọng trước mắt
của những thách thức này là tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp, khó
tiên liệu, dự báo với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng, thủ đoạn phạm
thực hiện hoạt động THQCT theo phương hướng gắn với hoạt động điều tra; đổi
mới phương thức KSĐT ngay từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và
trong suốt quá trình điều tra, nhằm bảo đảm không để lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp
luật; góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,
dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,
phụng sự Tổ chức Việt Nam XHCN.
Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của đấu tranh phòng, chống tội
phạm, của cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, tác
5
giả chọn vấn đề “Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự theo
yêu cầu cải cách tư pháp” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học.
2. u
Đối tượng nghiên cứu
Từ thực tiễn công tác kiểm sát cho thấy số lượng vụ án thuộc thẩm quyền
thụ lý của TAND các cấp chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu thụ lý án hình sự chung
của các CQĐT. Điều này kéo theo hoạt động điều tra và hoạt động THQCT và
KSHĐTP trong giai đoạn điều tra do CQĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân và
VKSND thực hiện là chủ yếu trong thực trạng điều tra, truy tố nói chung. Nhằm
đạt được tính đại diện, tiêu biểu của kết quả và sự thuận lợi trong nghiên cứu, tác
giả luận án chọn đối tượng nghiên cứu là hoạt động của VKSND theo qui định của
BLTTHS năm 2003 trong điều tra vụ án hình sự. Đây là hoạt động nhằm thực hiện
chức năng THQCT, KSHĐTP trong giai đoạn điều tra được tiến hành bởi người
tiến hành tố tụng của VKS.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, luận án nghiên cứu hoạt động của VKSND trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự, từ khi vụ việc vi phạm pháp luật bị CQĐT trong lực lượng
quá trình soạn thảo các văn bản pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của
VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như Luật tổ chức VKS, BLTTHS,
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự
4. Kt cu ca lu
Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan tình hình và kết quả nghiên cứu liên
quan đến luận án, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
kết quả nghiên cứu được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Nhận thức chung về hoạt động của viện kiểm sát trong điều tra
vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong điều tra vụ án hình sự.
Chương 3: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của viện kiểm sát
trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp.
7
TNG QUAN V
KT QU
Việc nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự để tăng cường khả năng phát hiện và xử lý hiệu quả các loại
tội phạm, bảo vệ quyền tự do, dân chủ, quyền con người trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự luôn dành được sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước, và
được tranh luận ở nhiều diễn đàn khoa học.
1.
Vấn đề vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố trong hệ thống
pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như vấn để hoàn thiện nó không phải
là vấn đề mới. Tuy nhiên việc nghiên cứu thực tiễn và lý luận để nâng cao hiệu
ở nước ngoài, đặc biệt là việc nghiên cứu BLTTHS của một số nước cùng với việc
nghiên cứu các ý kiến đánh giá tổng quan của một số học giả nước ngoài thể hiện
qua các trang thông tin điện tử là hoạt động nghiên cứu có giá trị rất quan trọng
trong việc xây dựng và đề xuất các phương hướng, biện pháp hoàn thiện về pháp
luật, chế độ chính sách đối với cán bộ tư pháp. Tuy nhiên, các kinh nghiệm có
được từ việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài nói chung đều có điểm hạn chế là
tính tương thích, phù hợp đối với điều kiện, hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội,
truyền thống pháp luật của Nhà nước ta không phải ở khía cạnh, vấn đề nào cũng
đạt được mà đòi hỏi sự chọn lọc, biến đổi nhất định. Trên thế giới hiện nay, không
có nước nào có cơ quan công tố/ VKS với tư cách như là một hệ thống cơ quan
độc lập và phục vụ cho chính thể nhất nguyên như ở Việt nam; Hệ thống cơ quan
công tố, VKS ở một số nước tuy có nhiều điểm tương đồng hoặc về văn hóa, hoặc
về truyền thống pháp luật, hoặc về các mục tiêu chính trị, kinh tế, nhưng chỉ có giá
trị tham khảo khi nghiên cứu để chọn lọc những giá trị tốt đẹp nhằm tìm kiếm và
xây dựng các phương hướng và hoàn thiện theo yêu cầu cải cách tư pháp, như:
Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,…đã thực
hiện. Cũng cần chú ý hạn chế xu hướng trọng vọng các yếu tố nước ngoài trong
khoa học pháp lý, nên việc đề xuất sửa đổi chính sách, pháp luật cần phải thận
trọng và phải được đặt dưới tiêu chí đánh giá quan trọng, là sự phù hợp với điều
kiện chính trị, kinh tế xã hội và truyền thống pháp luật Việt Nam.
9
Tuy nhiên, với sự hạn chế thường thấy của việc nghiên cứu trong nước,
nghiên cứu sinh không có nhiều cơ hội tiếp cận trực tiếp với các công trình nghiên
cứu chuyên sâu ở nước ngoài liên quan đến đề tài. Cơ hội tiếp xúc, nghiên cứu
trực tiếp với các nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài của nghiên cứu sinh là
việc tham dự khóa học ngắn hạn do United Nations Asia and Far East Institute
(UNAFEI) tổ chức tại Nhật bản trong năm 2009 về vấn đề "Luật và Đạo đức nghề
hướng hội nhập và học hỏi lẫn nhau về ưu điểm giữa các truyền thống pháp luật
thể hiện khá phổ biến trong các quan điểm về cải cách, đổi mới trong khoa học
hình sự, TTHS hiện nay; Các công trình nghiên cứu có nhiều ảnh hưởng đến đề tài
như: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra của Lê Hữu Thể và các tác giả năm 2008; Tăng cường trách nhiệm của
công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài khoa học
cấp bộ, Hà Nội, 2008; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục
TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài khoa học cấp bộ, 2011; Một số
vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố
với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp của Nguyễn Hải Phong và
các tác giả. Đây là những nghiên cứu có tính toàn diện khái quát rất cao về lý luận
và thực tiễn của hoạt động của VKS không chỉ trong điều tra hình sự mà còn ở các
giai đoạn tố tụng khác (như Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ, Viện khoa học
VKSND tối cao, Hà Nội, 1999; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đổi
mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài khoa học cấp bộ,
2011). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này hoặc quá rộng, quá bao quát,
toàn diện nên không trùng lặp về phạm vi nghiên cứu với đề tài, hoặc quá hẹp,
chuyên sâu, chi tiết, mang nặng tính mô phạm và thiên về diễn giải, hướng dẫn
thực hiện các thao tác nghiệp vụ kiểm sát đối với cán bộ kiểm sát (như Một số vấn
đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với
hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp). Các công trình nghiên cứu trên
chưa chỉ rõ sự bất cập, hạn chế của pháp luật thực định về hoạt động của VKS
trong điều tra vụ án hình sự. Điểm mà tác giả chưa tìm thấy trong các nghiên cứu
trên là sự nhìn nhận, đánh giá về ưu điểm, hạn chế cả về lý luận và thực tiễn hoạt
động của VKS trong điều tra vụ án hình sự từ góc độ thực tiễn. Trong đó, không
chỉ là những hạn chế của những quan điểm, lý luận hiện được công nhận một cách
11
12
đổi nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành kiểm sát nhân dân", tạp chí
Kiểm sát 17/2012; Trần Văn Độ, "Hoàn thiện các qui định của BLTTHS về biện
pháp tạm giam", tạp chí Kiểm sát 21/2012; Trần Đình Nhã, "Chế định điều tra tội
phạm trong BLTTHS", tạp chí Kiểm sát 21/2012; Đỗ Văn Đương, "Phân định rõ
thẩm quyển quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp và sửa đổi, bổ
sung chế định chứng cứ trong BLTTHS", tạp chí Kiểm sát 16/2012; Đào Trí Úc,
"Đề xuất đổi mới VKS ở Việt nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới", tạp
chí Kiểm sát số 12/2013; Lê Đức Xuân, Phạm Lan Phương, "Vai trò cơ quan công
tố các nước trên thế giới trong việc KSĐT các vụ án hình sự", tạp chí Kiểm sát số
13/2013; Lê Thị Tuyết Hoa, "Thực trạng và một số kiến nghị nhằm tăng cường
trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra", tạp chí Kiểm sát số 08/2014; Bên cạnh đó, tác giả còn tìm thấy một số tài
liệu có ý nghĩa là những đánh giá tổng kết, khái quát cao kết quả và những hạn
chế, yếu kém của công tác kiểm sát trong quá trình hình thành và phát triển (như
Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các công tác của ngành kiểm sát
nhân dân qua 50 tổ chức và hoạt động, Hà Nội, 2010; Báo cáo kết quả tổng kết 8
năm thi hành BLTTHS năm 2003, Hà Nội, 2012). Theo quan điểm của tác giả các
nghiên cứu này thiên về đúc kết kinh nghiệm, tổng hợp, đánh giá ưu, khuyết điểm
của hoạt động kiểm sát theo hai hướng hoặc quá bao quát, toàn diện đến toàn bộ
hoạt động nghiệp vụ kiểm sát hoặc quá tỉ mỉ đối với từng hoạt động kiểm sát cụ
thể nên không có cùng mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, các bài báo
được đăng tải trong các tạp chí trong và ngoài ngành kiểm sát, đặc biệt là của
Lãnh đạo VKSND tối cao, trở thành nguồn tài liệu tham khảo có tính chất định
hướng nghiên cứu quan trọng đối với đề tài.
Trong những năm gần đây, các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc VKSND tối
cao đã triển khai nghiên cứu nhiều chuyên đề nghiệp vụ nhằm phân tích, đánh giá
thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng THQCT và KSĐT các loại án
Các nghiên cứu học thuật về VKS nói chung và các nghiên cứu về hoạt
động của VKS trong điều tra hình sự nói riêng không nhiều. Luận văn thạc sĩ luật
học điển hình là: Vũ Thị Xuân Nhuệ "Một số hoạt động KSĐT án kinh tế tại
TP.Hồ Chí Minh 1991-1996"; Đoàn Tạ Cửu Long "Công tác KSĐT án trị an tại
Thành phố Hồ Chí Minh từ 1996 -2000 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"; Võ
14
Phước Long "Chức năng của VKSND trong TTHS" năm 2007; Đoàn Tấn Minh
"Hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự mà bị can là
người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Tiền giang" năm 2008; Nguyễn Văn Tấn
"Hoạt động KSĐT các tội phạm về ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai
đoạn hiện nay" năm 2008. Công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ, có: Nguyễn Thị
Mai Nga "Cơ sở lý luận và thực trạng của điều tra và truy tố các tội phạm về ma
túy", Nhà xuất bản thông tin và truyền thông năm 2012; Đào Hữu Dân Mối quan
hệ giữa cơ quan cảnh sát điều tra với VKS trong điều tra vụ án hình sự, Luận án
tiến sĩ luật học Trường Đại học cảnh sát nhân dân năm 2006; Các kết quả nghiên
cứu thể hiện trong các Luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, tuy có một số vấn đề
thuộc cơ sở lý luận có quan điểm, đánh giá khá tương đồng với đề tài, như các vấn
đề về Công tố; THQCT; KSHĐTP;… Tuy nhiên, các nghiên cứu này, so với đề
tài, có nhiều quan điểm khác biệt và khác về phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Các nghiên cứu khoa học về VKS nói chung là khá hiếm, hiện chưa có công trình
nghiên cứu về lý luận và thực tiễn ở cấp độ thạc sĩ và tiến sĩ về hoạt động của
VKS trong điều tra vụ án hình sự.
Về hoạt động nghiên cứu riêng của nghiên cứu sinh nhằm thực hiện đề tài,
gồm có: chuyên đề "Cơ sở khoa học của hoạt động THQCT và KSHĐTP trong
điều tra hình sự" năm 2010; chuyên đề "Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng
hoàn thiện hoạt động THQCT, KSHĐTP trong điều tra hình sự theo yêu cầu cải
cách tư pháp" năm 2011; chuyên đề "Thực trạng hoạt động của VKS trong điều
Để góp phần xác định được những cơ sở cần thiết cho việc cải cách, nâng cao
hiệu quả hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự thì trước hết những vấn đề
trong nhận thức chung và thực tiễn của hoạt động THQCT, KSHĐTP phải được xác
định rõ. Tiếp đến, cần làm việc làm rõ các yếu tố của yêu cầu cải cách tư pháp đối với
hoạt động của VKS trong TTHS cũng như những kinh nghiệm tiến bộ, phù hợp với
điều kiện, hoàn cải cải cách tư pháp thực tế của Việt Nam để xây dựng cơ sở cho việc
đề xuất phương hướng, biện pháp mang tính cấp thiết, toàn diện, khả thi nhằm nâng
cao chất, lượng hiệu quả cho hoạt động của VKS trong TTHS.
Để hoàn thành đề tài "Hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp", mục tiêu nghiên cứu của đề tài, kết quả
nghiên cứu phải trả lời được những câu hỏi:
16
- Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của VKS trong điều tra vụ án
hình, có những vấn đề gì cần nghiên cứu để đảm bảo tính nhất quán trong nhận
thức và thực hiện?
- Ưu điểm và hạn chế của truyền thống tổ chức, hoạt động của VKSND
Việt Nam là gì và những kinh nghiệm quí của thế giới có tính khả thi đối với Việt
nam trong việc tổ chức, hoạt động của cơ quan công tố nhằm thực hiện cải cách để
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự
như thế nào?
- Mục đích, yêu cầu, nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đối với nền
tư pháp nói chung và đối với VKS trong điều tra vụ án hình sự là gì?
- Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, hoạt động THQCT và KSĐT vụ án
hình sự có những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nào?
- Những phương hướng, nội dung, giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới, nâng
cao hiệu quả hoạt động THQCT và KSĐT vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư
pháp là gì?
số vấn đề quan trọng, phức tạp được kết hợp cả hai cách tiếp cận nêu trên nhằm
làm rõ được vấn đề nghiên cứu một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, tác giải không
lựa chọn pháp pháp nghiên cứu, luận giải các vấn đề của luận án như các công
trình nghiên cứu về hoạt động của VKS thường sử dụng. Đó là hoặc qua thiên về
khía cạnh học thuật hoặc quá thiên về khía cạnh thực tiễn khi nghiên cứu các vấn
đề lý luận. Việc giải quyết các vấn đề thực tiễn thì thiên về khía cạnh mô tả, giải
thích mang tính mô phạm cho người đọc hiểu về thực tiễn tác nghiệp kiểm sát.
Tác giả lựa chọn cách nhìn nhận, nghiên cứu, đánh giá vấn đề về nhận thức và
thực tiễn hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn, thông qua
các yếu tố của một quan hệ pháp luật (khái niệm, mục đích, chủ thể, đối tượng,
phạm vi, nội dung, hình thức thể hiện) mà không phân tích sâu vào việc diễn giải
thực tiễn công tác kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự, nhằm đạt được kết quả
nghiên cứu có giá trị.
18
C
NHN THC CHUNG V HONG CA
VIN KIU TRA V
1.1. iu tra v
1.1.1 Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Để hiểu rõ khái niệm điều tra vụ án hình sự, trước hết cần phải nghiên cứu,
làm rõ các khái niệm liên quan, đó là: Điều tra và điều tra vụ án hình sự.
Theo từ điển tiếng Việt [53], điều tra là hoạt động tìm hỏi, xem xét để biết
trinh sát tiến hành, thường diễn ra trước khi khởi tố vụ án hình sự, phải tuân theo
trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định. Mỗi
hình thức điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như
trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra.
Theo từ điển tiếng Việt [64, tr: 05, 1090], nghĩa chung nhất của vụ án hình
sự được hiểu là sự việc vi phạm pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định cần được xét xử trước tòa án. Do vậy, chỉ khi nào một hành vi vi phạm
pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc truy cứu TNHS
(điều tra, truy tố, xét xử) đối với chủ thể thực hiện hành vi đó thì việc truy cứu
trách nhiệm đó mới trở thành vụ án hình sự.
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của TTHS, trong đó CQĐT và
những cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng mọi
biện pháp điều tra do pháp luật TTHS quy định nhằm thu thập chứng cứ chứng
minh làm rõ vụ án hình sự. So với khái niệm điều tra hình sự, khái niệm, điều tra
vụ án hình sự có phạm vi hẹp hơn điều tra hình sự về không gian và thời gian.
Như vậy, để làm rõ khái niệm điều tra, cần tiếp cận ở hai giác độ: Điều tra
với nghĩa là một giai đoạn tố tụng và điều tra với nghĩa là hoạt động tố tụng.
Khi phân tích điều tra với nghĩa là một giai đoạn tố tụng, cần phải đề cập
đến các khía cạnh sau: Thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc, thời hạn, chủ thể
tiến hành, chủ thể tham gia tố tụng, nhiệm vụ của giai đoạn này. 20
- Thứ nhất, về thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời hạn điều tra.
Đối với tất cả các vụ án hình sự, thời điểm bắt đầu của giai đoạn điều tra là
khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi hoàn thành nhiệm vụ điều tra. Tuy
nhiên, trách nhiệm điều tra chủ yếu nhưng không chỉ bắt đầu tại thời điểm ban
TTHS có sự khác biệt so với cách hiểu trong khoa học điều tra hình sự.
Theo cơ cấu qui định của BLTTHS năm 2003, có thể thấy rằng điều tra ban
đầu được bắt đầu từ khi tiếp nhận, tố giác, tin báo về tội phạm đến khi khởi tố vụ
án hoặc không khởi tố vụ án, thời hạn điều tra ban đầu rất ngắn. Chủ thể tiến hành
tố tụng trong điều tra ban đầu là các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt
động điều tra. Điều tra ban đầu được tiến hành trong một số trường hợp khi mà
thông tin về tội phạm chưa rõ ràng và chưa đầy đủ để có thể quyết định khởi tố vụ
án hình sự.
Trong khoa học điều tra hình sự, giai đoạn điều tra được nhiều giáo trình,
tài liệu chia ra: “điều tra ban đầu” và “điều tra tiếp theo” - điều tra vụ án hình sự.
Tuy vậy, về phương diện lý luận, điều tra ban đầu với ý nghĩa là một giai đoạn
điều tra trong khoa học điều tra hình sự vẫn còn là vấn đề cần phải trao đổi. Một
xu hướng được nhiều sự đồng tình của cả học giả lẫn cán bộ thực tiễn pháp lý là
xây dựng và phát triển các hoạt động quan trọng, then chốt trong TTHS thành các
giai đoạn tố tụng cụ thể để đẩm bảo hiệu quả của từng hoạt động chức năng tố
tụng lẫn cả quá trình tố tụng và điều tra ban đầu cũng nằm trong xu hướng đó.
Mặc dù chưa được xác định rõ ràng nhưng thuật ngữ “điều tra ban đầu” cho
phép được hiểu đây là một giai đoạn. Sau điều tra ban đầu là giai đoạn “điều tra
tiếp theo”. Tuy vậy sự khác nhau, căn cứ để phân biệt “điều tra ban đầu” và “điều
tra tiếp theo” trong khoa học điều tra hình sự chưa được làm rõ. Về phương diện
lý luận và thực tiễn, việc phân chia quá trình thực hiện hoạt động điều tra thành
các giai đoạn khác nhau là vấn đề phức tạp, cần phải tiếp tục nghiên cứu. Mặt
khác, phạm vi đề tài này không cho phép đề cập sâu về khái niệm điều tra ban đầu
trong khoa học điều tra hình sự nên tác giả chỉ nêu ra mà không làm rõ nội hàm
của khái niệm này.
- Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra
So với giai đoạn khởi tố vụ án, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rộng hơn và
phức tạp hơn.
23
không đề nghị truy tố bị can nào đó trong vụ án phải có căn cứ pháp lý và phải
được xem xét một cách cẩn trọng.
- Xây dựng kết luận điều tra và hoàn thiện hồ sơ vụ án
- Tiến hành các biện pháp cần thiết phục vụ cho việc điều tra, xử lý người
phạm tội (áp dụng BPNC, áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác như
khám xét, kê biên tài sản…)
Hoạt động của CQĐT bao gồm hoạt động điều tra và các hoạt động khác.
Hoạt động điều tra là các hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu nhằm làm rõ vụ án.
Hoạt động khác là những hoạt động phục vụ cho công tác điều tra làm rõ vụ án và
truy cứu TNHS đối với bị can, bảo đảm quyền cho bị can và những người tham
gia TTHS. Mặc dù cũng do Điều tra viên tiến hành nhưng theo nghĩa hẹp đây
không phải là hoạt động điều tra vì không nhằm thu thập chứng cứ.
- Thứ ba, chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra
Chủ thể chính của hoạt động điều tra là CQĐT có thẩm quyền theo qui định
của BLTTHS năm 2003. Mặc dù theo qui định của pháp luật, tiến hành hoạt động
điều tra còn có VKS có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui
định của Điều 112 BLTTHS năm 2003 và một số cơ quan khác được giao tiến
hành một số hoạt động điều tra ban đầu theo qui định của BLTTHS năm 2003 và
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự. Tuy nhiên, chỉ có CQĐT có thẩm quyền mới là
chủ thể chính của hoạt động điều tra vụ án hình sự.
Xét về chức năng tố tụng hoạt động của CQĐT và VKS là hoạt động của
Cơ quan tiến hành tố tụng, có cùng chức năng buộc tội nhưng mỗi cơ quan có
chức năng nghiệp vụ khác nhau.
Tham gia tố tụng vào giai đoạn điều tra có thể bao gồm tất cả các diện
người tham gia tố tụng theo qui định của BLTTHS năm 2003, tùy theo phạm vi và
tính chất của từng vụ án. Tuy nhiên, hai dạng người tham gia tố tụng là bị can, bị
minh tính xác thực, tính liên quan của từng tình tiết cấu thành tội phạm và các tình
tiết khác để giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan, toàn diện chứ không đơn giản
là chứng minh các vấn đề được qui định tại các Điều 63, 302 BLTTHS năm 2003.
Chẳng hạn, để xác định người nào đó trực tiếp thực hiện tội phạm, trước tiên phải
có chứng cứ khẳng định người đó có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ
án; Do đó, CQĐT phải truy tìm dấu vết con người, lấy lời khai người bị hại, lời
25
khai người làm chứng khẳng định chính mắt mình nhìn thấy người này thực hiện
tội phạm Phạm vi chứng minh những vấn đề thực tế của vụ án trong giai đoạn
điều tra rộng hơn phạm vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do
pháp luật TTHS quy định.
Khi thực hiện hoạt động điều tra vụ án hình sự thường phải áp dụng các
biện pháp cưỡng chế TTHS
Để kịp thời ngăn chặn người phạm tội tiếp tục gây án hoặc gây cản trở cho
việc thu thập chứng cứ vụ án, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thường phải
áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét chỗ ở,
khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể; tiến hành các hoạt động điều tra khác
liên quan đến quyền cơ bản của công dân như triệu tập để lấy lời khai những
người có liên quan, hỏi cung bị can. Do đó, hoạt động điều tra thường tiềm ẩn
nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền con người đối với
người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội.
Hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt động thu thập chứng cứ phục vụ
cho hoạt động buộc tội
Trong tố tụng theo truyền thống thẩm vấn cũng như trong tố tụng theo
truyền thống tranh tụng, hoạt động điều tra nói chung bao giờ cũng là bộ phận hợp
thành chức năng buộc tội của Nhà nước nhưng về bản chất, THQCT là chức năng
của cơ quan công tố (VKS) giữ vai trò quyết định, còn điều tra là hỗ trợ, thu thập