TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TÔN THIỆN PHƯƠNG
“VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ” CHUYÊN NGÀNH: TƯ PHÁP HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 505.14 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI - 2002
cơ quan VKS. Chính vì lẽ đó ngày 02/ 01/ 2002 Bộ chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới nêu " Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu
cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan
người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút
lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp".
Trên bình diên lý luận, vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự xuất
hiện một số vấn đề về mặt lý thuyết chưa được nhận thức thống nhất giữa các
cán bộ nghiên cứu và hoạt động thực tiễn nên việc làm sáng tỏ vấn đề này
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà cả thực tiễn áp dụng pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu:
Ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về vai trò của VKS trong xét
xử vụ án hình sự. Những nghiên cứu này đã đề cập đến các khía cạnh của chức
năng VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và giai đoạn xét
xử nói riêng. Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn dừng ở mức độ sơ lược và
2
chưa có tính hệ thống về vai trò của VKS. Có thể chỉ ra những nghiên cứu sau:
Luận văn Thạc sĩ Luật: " Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công tố
của VKSND trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Xuân Thanh; "Nhiệm
vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự" của
tác giả Nguyễn Văn Oanh hay Luận văn Thạc sĩ Luật : "Các chức năng tố tụng
cơ bản trong TTHS " của tác giả Lê Tiến Châu. Nổi bật là đề tài khoa học cấp
bộ của VKSNDTC “ Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt
động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”
Những Luận văn, đề tài trên nghiên cứu vai trò của VKS ở thủ tục xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự hoặc là nghiên cứu thông qua một chức năng thực
hành quyền công tố, chưa nghiên cứu vai trò của VKS trong cả xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm hình sự.
Xuất phát từ những nội dung trên, việc lựa chọn của chúng tôi đề tài với
VKS trong xét xử vụ án hình sự, qua đó giúp cho việc nhận thức đúng đắn,
thống nhất về vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự, cụ thể:
- Góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả.
- Các kiến nghị của tác giả liên quan đến các quy định của BLTTHS, trên
cơ sở đó làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quy định trên.
- Thông qua việc nghiên cứu, tác giả chỉ ra những hạn chế vướng mắc
trong quá trình thực hiện chức năng của VKS, từ đó đề xuất những giải pháp cụ
thể để khắc phục những hạn chế, thực hiện đầy đủ chức năng, khẳng định tốt
vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự.
Ngoài ra với nội dung công trình nghiên cứu này chúng tôi hy vọng rằng
luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các Sinh viên khoa luật Đại học Quốc
gia Hà nội và những ai quan tâm đến vai trò VKS trong xét xử vụ án hình sự.
6. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục. Nội dung của luận văn được trình bày trong hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về vai trò củaVKS
trong xét xử vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò
của VKS trong xét xử vụ án hình sự.
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ
CỦA VKS TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Xét xử vụ án hình sự:
1.1.1. Khái niệm:
Đối với xét xử vụ án hình sự chúng tôi cho rằng là Hoạt động nhân
danh quyền lực nhà nước do Toà án thực hiện, nhằm xem xét, đánh giá và ra
phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi tội phạm bị luật hình
sự cấm, không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các Toà án và
kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án hoặc quyết định .
Trong xét xử các vụ án hình sự, phân theo cấp độ xét xử có: Xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Vai trò của xét xử vụ án hình sự trong TTHS:
Quá trình giải quyết vụ án hình sự thường được bắt đầu từ khi cơ quan
có thẩm quyền nhận được tin báo về tội phạm đến khi bản án kết tội hoặc quyết
định của Toà án có hiệu lực được mang ra thi hành. Quá trình này được chia
thành các giai đoạn khác nhau phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ
quan tiến hành tố tụng và được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau, các giai đoạn đó
gồm: Khởi tố vụ án hình sự; Điều tra vụ án hình sự ; Truy tố và Xét xử vụ án
hình sự.
5
Mỗi giai đoạn của hoạt động TTHS có nhiệm vụ và định hướng khác
nhau nhưng hướng đến mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng
quy định pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Giải quyết
nhiệm vụ của các giai đoạn tố tụng thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến
hành tố tụng (cơ quan điều tra, VKS, Toà án) và người tiến hành tố tụng (Điều
tra viên, KSV, Thẩm phán, HTND, Thư ký phiên toà). Người tham gia tố tụng,
cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội là chủ thể góp phần vào giải quyết
vụ án hình sự.
Trong hoạt động TTHS thì xét xử được coi là giai đoạn trung tâm, bởi
lẽ:
Thứ nhất, các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra
nhằm mục đích chứng minh tội phạm và hành vi của người phạm tội phục vụ
cho việc xét xử. Thông qua hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, Toà án kiểm tra
6
quan, phiên toà với sự tham gia, theo dõi của đông đảo quần chúng vẫn được
coi là một cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra và đánh giá lại toàn bộ tính
hợp pháp và tính có căn cứ của bản Cáo trạng. Toàn bộ những yếu tố đó làm
cho hoạt động xét xử của Toà án có một giá trị không có gì có thể thay thế
được.
Vì vậy, xét xử hình sự có vai trò rất quan trọng trong TTHS. Xét xử
thông qua Toà án vừa là công cụ bảo vệ pháp chế XHCN, vừa là công cụ bảo
vệ quyền con người.
Để xác định phạm vi thực hiện vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình
sự chúng tôi đề cập đến thời điểm bắt đầu và kết thúc của hoạt động xét xử các
vụ án hình sự.
Vấn đề này, cho đến nay đối với nước ta ít được quan tâm nghiên cứu để
đi đến thống nhất. Còn đối với các nước trên thế giới thì có những quan niệm
như sau:
Các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ) do quan niệm
rằng TTHS bắt đầu từ thời điểm xét xử. [ 33, 13 ]. Vì vậy ở các nước này chức
năng xét xử xuất hiện đồng thời với thời điểm bắt đầu của TTHS và kết thúc
khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Đối với các nước theo hệ thống Luật lục địa, cho rằng chức năng xét xử
của Toà án bắt đầu từ khi nhận hồ sơ và quyết định truy tố của VKS (Viện công
tố) [ 35, 14 ] chuyển sang và kết thúc khi thi hành án xong. Qua nghiên cứu
pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật, chúng tôi cho rằng:
Hoạt động xét xử bắt đầu từ thời điểm Toà án có thẩm quyền nhận hồ sơ
và bản Cáo trạng do VKS chuyển đến, kết thúc khi bản án hoặc quyết định của
toà án có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ, nếu cho rằng chức năng xét xử bắt đầu từ
thời điểm Toà án mở phiên toà là quá hẹp, không có cơ sở và không giải thích
được những hành vi tố tụng của Toà án (Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà) kể từ
khi nhận được hồ sơ và quyết định truy tố từ VKS như: Các quyết định trong
quá trình chuẩn bị xét xử; Nhận, giải quyết các đơn thư khiếu nại, triệu tập
phiên toà nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải
là người phạm tội để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của
vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố [ 20, 310 ]
Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án hình sự đều phải trải qua các thủ
tục xét xử nói trên. Thông thường, vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm là
bắt buộc, còn xét xử phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm tuỳ thuộc vào
những căn cứ của các kháng cáo, kháng nghị theo thẩm quyền và theo luật định
để xác định, cần thiết hay không cần thiết việc toà án cấp trên mở phiên toà
xem xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án sơ thẩm chưa có hoặc đã có hiệu
lực pháp luật.
Khác với các hình thức xét xử khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bắt
buộc đối với bất kỳ vụ án hình sự nào. Để đảm bảo cho việc mở phiên toà công
khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo
trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, toà án phải tiến hành ngay công tác
chuẩn bị xét xử, xác định những điều kiện để có thể ra các quyết định có liên
quan đến việc mở phiên toà. Do lần đầu tiếp cận với vụ án hình sự thông qua
hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát chuyển sang, Thẩm phán được phân công chủ
toạ phiên toà phải tiến hành nhiều công việc khác nhau từ xác định thẩm quyền
xét xử, xem xét chứng cứ có trong hồ sơ vụ án v.v. mà công tác chuẩn bị xét
xử phải trải qua một thời gian nhất định. Khi thấy có đủ các điều kiện, phiên
toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được mở công khai nhằm xét vụ án hình sự
theo đúng quy định của pháp luật.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án các cấp :
8
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc phân định thẩm quyền
giữa các cấp Toà án căn cứ vào sự việc phạm tội, đối tượng phạm tội và nơi tội
phạm được thực hiện .
Về thẩm quyền xét xử theo sự việc được xác định theo khoản 1 Điều 145
BLTTHS. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng căn cứ Điều 3 Pháp lệnh tổ chức
Luật tố tụng hình sự đã quy định những biện pháp để đảm bảo cho Toà án
xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội .
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có cả nguyên nhân chủ
quan lẫn khách quan, nên trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không loại trừ
9
những trường hợp bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không đáp ứng
được những yêu cầu của pháp luật, như sai lầm trong việc định tội danh, quyết
định hình phạt, giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
Để khắc phục và sửa chữa những sai lầm có thể có ở thủ tục xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự . Bảo đảm thực hiện tốt mục đích của tố tụng đặt ra như đã
nêu trên. Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định một trình tự xét xử nhằm
xét lại bản án, quyết định của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có
kháng cáo, kháng nghị. Đó là xét xử Phúc thẩm vụ án hình sự :
" Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là việc toà án cấp trên trực tiếp của Toà
án đã xét xử sơ thẩm vụ án, mở phiên toà xem xét lại bản án hoặc quyết định
của cấp sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật
nhưng đã bị kháng cáo hoặc kháng nghị ”. [ 20, 365 ]
Theo Điều 204 BLTTHS tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Toà án
cấp trên trực tiếp xét lại những bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị .
Sau khi Toà án sơ thẩm đã ra bản án và quyết định mà không bị kháng
cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì bản án và quyết định có hiệu lực
pháp luật và được đưa ra thi hành. Vì vậy , chế độ hai cấp xét xử đối với một
vụ án không phải là đương nhiên . Việc xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có
kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp hoặc kháng cáo của
những người có quyền được kháng cáo theo quy định của Điều 205 BLTTHS.
Khi vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm
là bắt buộc để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết
sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự .
Việc kháng nghị của Viện kiểm sát khi phát hiện ra những sai sót của bản
án không những là quyền mà còn là nghĩa vụ. Viện kiểm sát có thể kháng nghị
toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định, đối với tất cả các bị cáo và
những người tham gia tố tụng khác hay chỉ với một số . Viện kiểm sát có thể
kháng nghị theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, tăng nặng hay giảm
nhẹ mức bồi thường , đề nghị xử bị cáo không có tội hoặc có tội .
Để làm căn cứ cho việc xem xét các nội dung trong kháng nghị tại phiên
toà phúc thẩm, trong kháng nghị của mình, Viện kiểm sát phải nêu rõ lý do,
mục đích của việc kháng nghị .
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm :
Theo các quy định của Luật tổ chức TAND năm 1992 sửa đổi thì thẩm
quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự được phân định như sau :
Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm
quyền phúc thẩm những vụ án mà bản án quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án quân sự cấp
quân khu và tương đương có thẩm quyền phúc thẩm những vụ án mà bản án
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp khu vực
bị kháng cáo, kháng nghị, Toà phúc thẩm TATC có thẩm quyền phúc thẩm đối
với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án quân sự Trung
ương có thẩm quyền phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực
pháp luật của Toà án Quân sự cấp quân khu hoặc tương đương bị kháng cáo,
kháng nghị .
Việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm phải chấp hành các quy định của
BLTTHS, đó là Điều 241 quy định phạm vi và Điều 215 quy định thời hạn xét
xử phúc thẩm.
Những người tham gia phiên toà phúc thẩm :
11
là vừa để xét lại, vừa xử lại bởi lẽ: Theo quy định tại khoản 4 Điều 254 và Điều
257 BLTTHS thì Hội đồng giám đốc thẩm lại có quyền sửa bản án hoặc quyết
định đã có hiệu lực pháp luật và tại Điều 256 BLTTHS cũng cho phép Hội
đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định phúc thẩm, và giữ nguyên bản
án hoặc quyết định sơ thẩm. Việc quy định như vậy, rõ ràng làm cho tính chất
Giám đốc thẩm không còn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
như Điều 241 BLTTHS . Vì vậy, theo chúng tôi cần sửa Điều 241 BLTTHS để
phù hợp với bản chất của Giám đốc thẩm, cũng như các Điều luật khác của
BLTTHS.
12
Việc xét xử theo thủ tục Giám đốc thẩm một bản án hoặc quyết định của
Toà án chỉ được tiến hành khi có đủ các điều kiện cần thiết sau đây:
Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật .
Trong quá trình giải quyết vụ án có sự vi phạm pháp luật .
Có kháng nghị của người có thẩm quyền theo các trình tự và thủ tục của
Luật TTHS đối với bản án, quyết định đó.
Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm :
Theo Điều 242 với tên gọi “ Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm " đã cụ thể hoá nội dung về căn cứ kháng nghị nên trong Điều 241
BLTTHS rằng, căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là những vi phạm pháp
luật hình thức và pháp luật về nội dung ở tắt cả các giai đoạn của tố tụng. Các
căn cứ đó là :
1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ.
2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình
tiết khách quan của vụ án.
3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố
hoặc xét xử.
4. Có những sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng BLHS.
Những người có quyền kháng nghị và thẩm quyền của họ khi kháng nghị
Tóm lại, với tính chất là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, do có vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án. Thủ tục Giám
đốc thẩm có một ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn đó là: Thủ tục Giám
đốc thẩm tạo ra cơ chế đảm bảo tính đúng đắn, tính hợp lý trong hoạt động xét
xử của Toà án, khắc phục được những sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án
đã thể hiện trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Mặt khác, thông qua Giám đốc thẩm Toà án cấp trên nắm bắt được những sai
lầm trong việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp dưới . Từ đó, kịp thời hướng
dẫn các Toà án áp dụng đúng pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử và kịp
thời kiến nghị đối với các cơ quan chức năng khắc phục những thiếu sót trong
áp dụng pháp luật và điều quan trọng nhất là góp phần hạn chế tình trạng oan
sai trong xử lý tội phạm.
d. Thủ tục Tái thẩm vụ án hình sự:
Trong luật tố tụng hình sự Việt nam, để khắc phục những sai lầm có thể
có trong quá trình xét xử vụ án hình sự, cùng với các thủ tục khác như thủ tục
xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm còn có thủ tục tái thẩm. Mỗi một thủ tục nêu
trên có tính chất và mục đích khác nhau. Nếu như xét xử phúc thẩm là việc Toà
án cấp trên trực tiếp xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án cấp dưới chưa
có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, hoặc kháng nghị. Xét xử giám đốc
thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng bị
kháng nghị vì phát hiện có việc vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án thì thủ
tục tái thẩm được hiểu:
" Tái thẩm là việc xét bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay
đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được
khi ra bản án hoặc quyết định đó ". ( Điều 260 BLTTHS )
Xuất phát từ định nghĩa trên về Tái thẩm có thể hiểu những điều kiện cần
và đủ để xét xử tái thẩm một vụ án hình sự bao gồm :
1. Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân
huyện. Viện trưởng VKS quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị Tái thẩm
đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân
sự khu vực.
Lưu ý thẩm quyền kháng nghị chỉ do Viện trưởng quyết định, Viện trưởng
Viện kiểm sát không uỷ quyền cho các Phó Viện trưởng của mình kháng nghị.
Tuy nhiên, việc quy định chủ thể của kháng nghị tái thẩm như trên nhưng
theo Điều 262 BLTTHS quy định thì người bị kết án, hoặc cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền phát hiện những tình tiết mới và
thông báo cho Viện kiểm sát và Toà án biết. Nếu tình tiết mới được thông báo
cho Toà án thì Toà án phải chuyển cho Viện kiểm sát. Viện trưởng Viện kiểm
15
sát có thẩm quyền kháng nghị Tái thẩm phải xác minh những tình tiết đó trước
khi kháng nghị .
Theo điều 266 BLTTHS thì thẩm quyền Tái thẩm cũng được quy định như
đối với thẩm quyền giám đốc thẩm tại Điều 248 BLTTHS.
Khi xét xử tái thẩm, những quy định đối với phiên toà giám đốc thẩm về
những người tham gia phiên toà, thành phần hội đồng giám đốc, thủ tục phiên
toà giám đốc thẩm, thời hạn và phạm vi xét xử giám đốc thẩm cũng được áp
dụng đối với phiên toà tái thẩm.
Hội đồng tái thẩm có quyền ra các quyết định như sau:
1. Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, nếu tình tiết mới được dùng làm căn cứ để kháng nghị không làm
thay đổi nội dung vụ án.
2. Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại
tuỳ thuộc vào tình tiết mới được phát hiện trong giai đoạn điều tra hoặc xét xử.
Sau khi bản án hoặc quyết định bị huỷ, việc điều tra lại hoặc xét xử lại được
tiến hành theo thủ tục chung.
3. Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án khi có một
xử vụ án hình sự VKS có hai chức năng là: Thực hành quyền công tố và Kiểm
sát hoạt động tư pháp. Để thấy được vai trò của VKS cần phải nghiên cứu, xem
xét dưới góc độ gắn liền với chức năng và quá trình thực hiện chức năng. Vì
vậy nghiên cứu vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự chúng tôi nghiên
cứu chức năng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp trong
xét xử vụ án hình sự của VKS
1.2.1. Chức năng thực hành quyền công tố
a. Khái niệm quyền công tố:
Nghiên cứu về quyền Công tố của Viện kiểm sát, cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn tư pháp hình sự, cho đến nay xung quanh cách hiểu như thế nào là
quyền công tố, bản chất của nó gì, phạm vi của nó ra sao ? và nội dung của nó
do các yếu tố nào hợp thành,v.v cũng chưa có một quan điểm thống nhất
được thừa nhận chung .
Trong lịch sử lập hiến và lập pháp của nước ta, khi quy định chức năng
nhiệm vụ của VKSND thì xuất hiện khái niệm quyền công tố và thực hành
quyền công tố. Đó là Điều 138, Hiến pháp năm 1980 và Điều 1, Điều 3 Luật tổ
chức VKSND năm 1981. Từ đó đến nay trong nghiên cứu Lý luận cũng như
hoạt động thực tiễn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này. Và như thế,
mặc nhiên nhận thức khái niệm “ Quyền công tố ” và “ Thực hành quyền công
tố ” ngày càng đi theo nhiều hướng khác nhau.
Trong khoa học Luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và
theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan
trọng . Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí
của Viện kiểm sát trong hệ thống các cơ quan Nhà nước nói chung và trong các
cơ quan tư pháp nói riêng .
Hiện nay trong sách báo pháp lý nước ta, còn có một số quan điểm, tựu
chung lại có quan điểm như sau:
Thứ nhất, đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền
công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố Bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội
trước phiên Toà [31,19]
Từ khái niệm trên, có thể xác định đối tượng, phạm vi, nội dung quyền
công tố như sau :
Đối tượng của quyền công tố là người phạm tội
Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự.
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện
hành vi phạm tội.
Quyền công tố xuất hiện khi tội phạm thực hiện và kết thúc khi bản án có
hiệu lực pháp luật .
b. Thực hành quyền công tố
Trong Khoa học luật TTHS , việc xác định quyền công tố và theo đó là
thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải
quyết được rõ ràng, rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc xác định chính
18
xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói
chung và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức
năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Từ đó mới
có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, hợp lý về mô hình tổ chức Viện kiểm
sát. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng
ta đang tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 và lần
thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về cải cách bộ máy nhà
nước, cải cách cơ quan tư pháp.
Trong các tài liệu pháp lý ở nước ta, chủ yếu người ta chỉ đề cập đến vấn
đề quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Khái niệm
thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi của nó, mối quan hệ giữa
thực hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
còn ít được đề cập và chưa rõ ràng. Một số chuyên đề gần đây ở Viện kiểm sát
quyền của Nhà nước, gắn liền với bản chất từng kiểu Nhà nước và chỉ có trong
19
lĩnh vực hình sự. Phạm vi của quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xẩy ra và
kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Đối tượng
tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Để bảo đảm thực
hành quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước ban
hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc
nội dung quyền công tố. Các quyền năng đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà
nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội , thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực
hành quyền công tố.
Ở Việt nam căn cứ vào các quy định của Nhà nước ta từ năm 1960 đến
nay thì Viện kiểm sát nhân dân chính thức là cơ quan được giao chức năng thực
hành quyền công tố và không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành
kiểm sát để sử dụng quyền công tố: bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát
phải trông nom, bảo đảm cho tốt
Thực tiễn hoạt động công tố mấy chục năm qua của Viện kiểm sát các cấp
cho thấy rằng 100% các vụ án hình sự đều do Viện kiểm sát truy tố và thực
hiện sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên
toà theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Cùng với những
hoạt động đó, Viện kiểm sát các cấp còn có trách nhiệm xem xét, bảo đảm cho
việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật; có
quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của cơ quan điều tra và
Toà án: Viện kiểm sát được áp dụng “ Các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình
sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội ”( Điều 13 BLTTHS
).
Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người
độ khác nhau. Chẳng hạn không phải cứ khởi tố là thực hành quyền công tố, và
chỉ có truy tố và buộc tội mới là thực hành quyền công tố.v.v. mà nội dung của
thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội .
Từ những suy nghĩ trên, chúng tôi cho rằng, phạm vi thực hành quyền
công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án của toà án có hiệu
lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của Luật TTHS.
Nội dung thực hành quyền công tố :
Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả
những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm
minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người
vô tội. Theo đó nội dung thực hành quyền công tố bao gồm:
Trong giai đoạn điều tra vụ án Viện kiểm sát thực hành quyền công tố
bằng các hình thức sau đây:
Phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như : Bắt khẩn cấp, gia
hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam .
Trực tiếp ra lệnh tạm giam bị can ( các Điều 63, 69, 70 Bộ luật TTHS ).
Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc
huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định ( Điều 77 Bộ luật TTHS
).
Bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ buộc tội bị can, làm rõ
những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự ( Điều 47 Bộ luật tố tụng
hình sự ).
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự VKS thực hành quyền công tố
bằng các hình thức sau đây:
Công bố quyết định truy tố bị can ra Toà án bằng bản Cáo trạng.
21
Quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà.
Thẩm vấn: Kiểm sát viên tham gia thẩm vấn để làm rõ những vấn đề liên
tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng
hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp tập trung chủ yếu vào hoạt động
áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng hình sự,
trước hết là cơ quan điều tra và Toà án. Theo quy định của Luật tổ chức
VKSND năm 2002 các hoạt động kiểm sát tư pháp được chia thành những lĩnh
vực khác nhau, gắn liền với từng giai đoạn tố tụng và tên gọi là: Công tác kiểm
sát điều tra; kiểm sát xét xử; kiểm sát giam giữ cải tạo và công tác kiểm sát thi
22
hành án. Mỗi công tác kiểm sát trên đây có đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ,
quyền hạn riêng, nhưng đều có quan hệ mật thiết với nhau, cùng thực hiện chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS. Ví như công tác kiểm sát điều tra
trong hoạt động tố tụng điều tra của cơ quan điều tra và một số cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng như hoạt dộng
của những cơ quan, tổ chức và người tham gia tố tụng điều tra.
Từ đó theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa kiểm sát hoạt động tư
pháp như sau: “ Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực
Nhà nước do Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm pháp
chế trong tố tụng hình sự ”.
Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi vụ án được khởi
tố, kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án.
b. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự:
Trong xét xử vụ án hình sự Viện kiểm sát kiểm sát tuân theo pháp luật
TTHS trong hoạt động xét xử của Toà án và của những người khác tham gia tố
tụng xét xử . Phạm vi của công tác này bắt đầu từ khi Toà án thụ lý hồ sơ vụ án,
kết thúc khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo,
kháng nghị .
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự được thực hiện
thông qua các hình thức và biện pháp:
luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp
luật.
Hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt đông tư pháp
trong xét xử có mối quan hệ mật thiết. Kiểm sát hoạt động tư pháp tạo điều
kiện cho hoạt động thực hành quyền công tố được thuận lợi hơn. Hoạt động
thực hành quyền công tố tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác kiểm
sát hoạt động tư pháp.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ
án hình sự không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để hoàn thành nhiệm vụ
chung: Bảo đảm cho việc xét xử tại phiên toà đúng pháp luật và người phạm tội
phải bị xét xử. Giữa hai chức năng trong quá trình tổ chức thực hiện có một số
nội dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, vừa thuộc chức năng
này, vừa thuộc chức năng kia và ngược lại. Chức năng này là tiền đề cho chức
năng kia và ngược lại
Các hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong xét xử
vụ án hình sự gồm có: Truy tố bị can ra trước Toà án; Công bố bản Cáo trạng
và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà thông qua Thẩm vấn, luận tội , tranh
luận ; Kết luận ở phiên Toà Phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm. Khi
KSV có mặt tại phiên toà sơ thẩm; Phúc thẩm , Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm
cùng đồng thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp.
Thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử đó là giám
sát tuân theo pháp luật TTHS của HĐXX cũng như của những người khác tham
gia tố tụng, như kiểm sát việc chấp hành thủ tục, thời hạn xét xử.
Kết thúc hoạt động xét xử của HĐXX, nếu xét thấy bản án hay quyết
định của Toà án có vi phạm pháp luật thì VKS thực hiện quyền kháng nghị, đó
là hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp. Trên cơ sở kháng nghị của VKS lại
phát sinh một trình tự xét xử mới theo các thủ tục Phúc thẩm, Giám đốc thẩm
hoặc Tái thẩm và tại các phiên toà này KSV đọc kết luận - Đó là thực hành
quyền công tố.