Vai trò của Viện kiểm sát trong áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra,
truy tố. Thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nguyễn Thị Kiều Diễm
Khoa Luật
Luận văn ThS. Luật hình sự và tố tụng hình sự; Mã số: 60 38 01 04
Người hướng dẫn: TS. Đỗ Thị Phượng
Năm bảo vệ: 2014
Abstract. Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn vai trò Viện
kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự,
bao gồm 06 biện pháp: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Từ đó thấy rõ vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm
sát nhân dân và chỉ ra những tồn tại cần khắc phục để đề xuất những giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao vai trò của các cơ quan tư
pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nhằm đảm bảo các hoạt động TTHS của CQĐT, VKSND được thuận lợi thì việc
áp dụng các BPNC là cần thiết trong việc làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, tạo điều
kiện cho hoạt động điều tra, truy tố cũng như đảm bảo cho quá trình thi hành án sau này.
Nhưng vấn đề cần quan tâm là làm sao để các BPNC này được áp dụng khi có đủ điều
kiện, có căn cứ luật định, thực sự cần thiết và đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân thì vai trò của VKSND đối với vấn đề này là rất quan trọng, cần quan tâm và
phát huy hơn nữa. Hiến pháp và pháp luật đã quy định VKSND thực hiện hai chức năng
là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Việc đảm bảo thực hiện hai
chức năng này có hiệu quả, góp phần không nhỏ trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự
nói chung, việc áp dụng các BPNC của các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng đạt được
hiệu quả và có ý nghĩa thực sự. Đồng thời đảm bảo được quyền lợi của người bị bắt,
người bị tạm giữ, tạm giam, người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Đây là những vấn đề rất quan trọng, cần quan
tâm nâng cao hơn nữa để các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn nhằm xử lý đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Để
Nguyễn Ngọc Anh (2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb
Chính trị Quốc gia.
2.
Lê Thị Kim Âu (2011), “Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và một số
kiến nghị tiếp tục hoàn thiện biện pháp này theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa
án nhân dân, (4), tr.10-13.
3.
Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011),
Báo cáo chính trị.
4.
Bộ chính trị Ban Chấp hành hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị
quyết 08 ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời
gian tới.
5.
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 49
ngày 02/6/2005, về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
6.
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận số 79KL/TW ngày 28/7/2010, về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và
Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng
hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học
Luật Hà Nội.
13.
Trần Văn Độ (2012), “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp
tạm giam”, Tạp chí kiểm sát, (21), tr.37-45.
14.
Đỗ Văn Đương (2012), “Chế định kiểm sát viên trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Thông tin khoa học kiểm sát, (5,6), tr.7485.
15.
Lê Thị Tuyết Hoa (2008), “Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm
sát, (18&20), tr.60-65.
16.
Phạm Việt Hưng (2010), “Cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 về biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú”, Tạp chí kiểm sát, (7), tr.33-35.
17.
Trần Minh Hưởng (2011), Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng
hình sự ở Việt Nam, Nxb Lao Động.
24.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung
năm 2013).
25.
Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1960.
26.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 1981.
27.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988.
28.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 1992.
29.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002.
30.
36.
Hoàng Minh Thành (2010), “Bàn về sự chế ước và quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát
nhân dân với Cơ quan cảnh sát điều tra các cấp”, Tạp chí kiểm sát, (15), tr.10-14.
37.
Bùi Quang Thạch (2013), “Những vướng mắc, bất cập từ các quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 và những kiến nghị sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (5),
tr.17-22.
38.
Lê Hữu Thể (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai
đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
39.
Nguyễn Duy Thuân (1999), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Những vấn đề
về lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân.
40.
Trần Quang Tiệp (2004), Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.
41.
Từ điển tiếng Việt (2013), Nxb Từ điển bách khoa.
Trịnh Tiến Việt (2004), “Một số điểm mới về những biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (8), tr.15-18.
49.
Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân
dân.
50.
Nguyễn Hồng Vinh (2013), “Hoàn thiện pháp luật hiện hành để tăng cường trách nhiệm công tố
trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”,
Tạp chí kiểm sát, (1), tr.35-37.