Vai trò của viện kiểm sát trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố thực tiễn trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ KIỀU DIỄM

VAI TRß CñA VIÖN KIÓM S¸T TRONG ¸P DôNG C¸C BIÖN PH¸P
NG¡N CHÆN TRONG GIAI §O¹N §IÒU TRA, TRUY Tè:
THùC TIÔN TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƯỢNG

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Kiều Diễm

biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số
nước trên thế giới ............................................................................... 12

1.2.1. Pháp luật tố tụng hình sự của Trung Quốc.......................................... 13


1.2.2. Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức .................... 14
1.2.3. Pháp luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga ..................................... 15
1.3.

Quá trình hình thành và phát triển những qui định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ...................................... 18

1.3.1. Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988 ............................................................................................. 18
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 ............................................................................................. 22
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HIỆN HÀNH VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..................26
2.1.

Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố .................................................. 26

2.1.1. Biện pháp bắt người ............................................................................ 26

khác có liên quan ................................................................................. 70
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân và chế độ đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên ........ 75
3.2.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tiến hành tố
tụng hình sự ......................................................................................... 78
3.2.4. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng và giữa cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan liên quan ..... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
PHỤ LỤC BẢNG BIỂU................................................................................ 87


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự

BPNC:

Biện pháp ngăn chặn

CQCA:

Cơ quan công an

CQĐT:

Cơ quan điều tra


Tổng số đối tượng bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hà Nội
từ năm 2009 đến năm 2013 ......................................................... 87

Bảng 2.4.

Tổng số đối tượng được trả tự do sau khi bị tạm giữ trên địa
bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013 .................... 88

Bảng 2.5.

Tổng số đối tượng bị tạm giam trên địa bàn thành phố Hà
Nội từ năm 2009 đến năm 2013 .................................................. 88

Bảng 2.6.

Tổng số đối tượng bị áp dụng BPNC cấm đi khỏi nơi cư trú,
bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chuyển
từ biện pháp tạm giữ trên địa bàn thành phố Hà Nội năm
2009 đến năm 2013 ..................................................................... 88

Bảng 2.7.

Tổng số đối tượng bị áp dụng BPNC cấm đi khỏi nơi cư trú,
bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chuyển
từ biện pháp tạm giam trên địa bàn thành phố Hà Nội năm
2009 đến năm 2013 ..................................................................... 89


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1.

hình sự điều chỉnh đó là cơ quan quyền lực Nhà nước với tội phạm và người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nhà nước đã giao quyền cũng như
trách nhiệm cho các cơ quan đó được áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tác
động đến đối tượng. Một điều thấy rất rõ là các biện pháp cưỡng chế được
áp dụng một chiều không phụ thuộc vào ý chí của bên bị áp dụng, chỉ cần
có những căn cứ điều kiện do pháp luật quy định. Các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế can thiệp nghiêm trọng
tới các quyền cơ bản của công dân. Việc áp dụng như thế nào để đảm bảo
hiệu quả cũng như bảo vệ được quyền công dân là rất quan trọng. Nó
không chỉ liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố
tụng, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn liên quan đến các quyền
cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, liên quan đến trách nhiệm bồi
thường trong trường hợp oan sai.
Thực tiễn cho thấy, không ít các trường hợp áp dụng các biện pháp
ngăn chặn một cách lạm dụng, thiếu căn cứ, hoặc còn “non” về các điều kiện
áp dụng. Việc áp dụng chỉ nhằm mục đích trước mắt là phục vụ thuận tiện cho
việc điều tra vụ án, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc có cả
trường hợp hợp pháp hóa tài liệu giấy tờ cần thiết để hồ sơ được phê chuẩn.
Mặc dù trên thực tế không thể phủ nhận rằng nhiều vụ án xảy ra nếu không áp
dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ gây khó khăn trong việc điều tra, truy tố
như: người phạm tội bỏ trốn, phạm tội mới, tiêu hủy chứng cứ… Không xem
xét đến tính cần thiết để áp dụng; tính không cần thiết, không có căn cứ để
hủy bỏ hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác vẫn xảy ra. Thực
1


trạng này không chỉ có trách nhiệm Cơ quan điều tra, mà trách nhiệm của
Viện kiểm sát nhân dân là rất quan trọng, thậm chí Viện kiểm sát chịu trách
nhiệm chính về việc áp dụng một số biện pháp ngăn chặn quan trọng. Vì pháp
luật tố tụng hình sự đã quy định một cách rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát

Hoàn thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Phạm Mạnh Hùng – Viện kiểm
sát nhân dân tối cao (Tạp chí kiểm sát số 21 năm 2007); Một số ý kiến về hoàn
thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự của tác
giả Nguyễn Đình Bình (Tạp chí kiểm sát số 5 năm 2008); Các biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự của tác giả Lê Thị Tuyết Nga (Tạp chí kiểm sát số
18 và 20 năm 2008); Cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của tác giả
Phạm Việt Hưng (Tạp chí kiểm sát số 7 năm 2010); Cần thay đổi biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bằng biện pháp trình diện của tác giả
Hoàng Việt Quang (Tạp chí kiểm sát số 7 năm 2011; Một số điểm mới về
những biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của tác
giả Trịnh Tiến Việt – Trần Thị Quỳnh (Tạp chí tòa án số 8 năm 2004); Áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự của tác giả Mai Bộ (Tạp chí tòa án nhân dân số 5 năm 2009); Biện
pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và một số kiến nghị tiếp tục
hoàn thiện biện pháp này theo tinh thần cải cách tư pháp của tác giả Lê Thị
Kim Âu (Tạp chí tòa án nhân dân số 4 năm 2011);....
Như vậy, vấn đề trên cũng rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở
những góc độ khác nhau, đều nhằm mục đích làm rõ các quy định của pháp
luật, việc áp dụng trên thực tế như thế nào, những vấn đề cần hoàn thiện.
Vì vậy, nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn là cần thiết, nhất là trong giai đoạn điều tra, truy tố,
3


giúp chúng ta nhận thức một cách có hệ thống vấn đề này về lý luận cũng
như thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vai

kê, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp so sánh, đối chiếu....
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận
văn gồm 3 chương.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA,
TRUY TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Việt Nam
Các biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng thường xuyên trong
các trường hợp cần thiết mà pháp luật quy định. Trong lĩnh vực TTHS, các
biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng áp dụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
đối với những đối tượng nhất định như: những BPNC: tạm giữ, tạm giam,
cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;
những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ: khám xét, thu giữ, tạm
giữ, kê biên tài sản;...
Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS nhằm bảo đảm xác định
sự thật vụ án, phát hiện, xử lý chính xác, kịp thời tội phạm, ngăn chặn và
phòng ngừa tội phạm. Để đạt được mục đích đó các cơ quan tiến hành tố tụng
trong từng giai đoạn TTHS áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS cho phù

định áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với những người
chưa bị khởi tố khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn
chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố xét xử và thi
hành án hoặc không cho họ tiếp tục phạm tội mới. Các BPNC bao
7


gồm bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [10, tr.52].
Ngoài ra, cũng có tác giả đưa ra khái niệm:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính bắt buộc của Nhà
nước do những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố
tụng và các cơ quan được quyền tiến hành tố tụng một số hoạt động
điều tra theo luật định áp dụng, tạm thời tước bỏ hoặc hạn chế một
phần quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo và trong trường hợp
đặc biệt có thể áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự
nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục gây hại cho xã hội
[34, tr.40].
Như vậy, ta có thể hiểu rằng: Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự là biện pháp cưỡng chế mà người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự áp
dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc người chưa bị khởi tố về
hình sự khi có những căn cứ luật định nhằm mục đích kịp thời ngăn chặn tội
phạm hoặc đảm bảo việc không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án hoặc không tiếp tục phạm tội.
1.1.2. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự Việt Nam
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2013, vai trò là: “Tác dụng, chức năng
trong sự hoạt động, phát triển của cái gì đó”[41].
VKSND có vai trò rất quan trọng trong hoạt động TTHS. Là một trong

Mặt khác, điều đó thể hiện ở quyền truy tố thuộc VKSND, là cơ quan
chịu trách nhiệm về mặt chứng cứ của vụ án trước TA. Trong trường hợp mà
TA đình chỉ vụ án hay tuyên bị cáo không phạm tội thì đều đồng nghĩa với
việc VKSND đã truy cứu trách nhiệm hình sự một người nào đó không đúng
9


pháp luật. Trong giai đoạn điều tra, hai chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra luôn được thực hiện đan xen nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn
nhau. Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố là chứng minh tội
phạm và xác định người phạm tội; mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra
là đảm bảo các hoạt động điều tra được đầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng
pháp luật. Công tác kiểm sát điều tra có hiệu quả sẽ là điều kiện để đảm bảo
cho hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND được đúng đắn và ngược
lại, công tác thực hành quyền công tố có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho hoạt
động kiểm sát điều tra phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong khi
tiến hành điều tra. Vì vậy, khi VKSND thực hiện tốt chức năng của mình sẽ
đảm bảo: không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn
chế quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và
nhân phẩm một cách trái pháp luật; không để lọt tội phạm và không làm oan
người vô tội; việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải
đúng pháp luật và có căn cứ; việc điều tra được tiến hành một cách khách
quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong
quá trình điều tra được phát hiện và khắc phục kịp thời [46].
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, VKSND thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử của TA, hoạt động của những
người tham gia phiên tòa. Thông qua đó nhằm đảm bảo việc TA chấp hành
đúng các quy định của pháp luật TTHS, đảm bảo bản án của TA đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật cũng như quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố
tụng được tôn trọng.

người có thẩm quyền theo pháp luật TTHS nhằm đảm bảo các các quy định
của pháp luật được áp dụng có căn cứ, tránh lạm dụng, cũng như đảm bảo các
quyền, lợi ích của công dân không bị xâm phạm.
So với giai đoạn xét xử thì vai trò của VKSND về việc áp dụng các
11


BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố thể hiện rõ hơn. Ở giai đoạn xét xử vai
trò của VKSND chỉ thể hiện ở việc thực hiện chức năng kiểm sát việc áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của TA, ví dụ: đối với biện pháp đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm khi kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp này của TA thì Kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát thẩm
quyền ra quyết định; căn cứ, điều kiện ra quyết định; thủ tục áp dụng. Nếu
quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
không có căn cứ và trái pháp luật thì VKSND có quyền kiến nghị hoặc kháng
nghị khắc phục,... Còn ở giai đoạn điều tra, truy tố VKSND có quyền thực
hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng các
BPNC của CQĐT.
Từ những phân tích trên ta rút ra được khái niệm về vai trò của
VKSND đối với việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố: Vai
trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra, truy tố là việc thực hiện các các chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong các hoạt động áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan, người có thẩm quyền
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn điều tra, truy tố
nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật được áp dụng có căn cứ cũng như
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước
trên thế giới

tiết để ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn. Trong trường hợp phê
chuẩn, CQCA phải thi hành ngay và kịp thời thông báo kết quả cho VKSND.
Trường hợp không phê chuẩn, VKSND phải nêu rõ lý do, nếu cần điều tra bổ
sung thì thông báo cho CQCA [44, tr.16].

13


Về biện pháp tạm giữ, CQCA có thể tiến hành tạm giữ đối với tội phạm
quả tang hoặc người bị tình nghi trong những trường hợp luật định. Nếu thấy
cần phải bắt giam người đang bị tạm giữ thì phải đề nghị VKSND thẩm tra
phê chuẩn trong vòng 3 ngày kể từ khi tạm giữ. Trường hợp đặc biệt có thể
gia hạn đề nghị thẩm tra và phê chuẩn từ 01 đến 4 ngày. Trong thời hạn sau
khi nhận được đề nghị phê chuẩn bắt của CQCA, VKSND phải ra quyết định
phê chuẩn hay không phê chuẩn. Trường hợp không phê chuẩn thì CQCA
phải thả ngay người bị tạm giữ và thông báo kết quả cho VKSND [44, tr.17].
Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và bảo lĩnh thì ngoài TA và
CQCA, VKSND có quyền áp dụng biện pháp này trong những trường hợp
luật định như: bị bệnh nặng, không thể tự chăm sóc bản thân; phụ nữ mang
thai hoặc cho con bú; là người phụng dưỡng duy nhất của người không đủ khả
năng chăm sóc bản thân;... [44, tr.17].
1.2.2. Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức
Cơ quan tiến hành TTHS của Cộng hòa Liên bang Đức bao gồm: cơ
quan Cảnh sát, Công tố và Tòa án. Theo đó cơ quan Công tố đóng vai trò là
trung tâm của quá trình tố tụng và được coi là cơ quan có trách nhiệm trong
lĩnh vực tư pháp hình sự [44, tr.81].
Theo BLTTHS của Cộng hòa Liên bang Đức thì BPNC bao gồm
các biện pháp sau: bắt, tạm giữ, tạm giam. Việc hủy bỏ hoặc thay thế các
BPNC do Thẩm phán xem xét, quyết định trên cơ sở đề nghị của Công tố
viên [44, tr.89].

gồm: Tạm giữ người bị tình nghi, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh của cá
nhân, giám sát của đơn vị quân đội, quản lý người bị tình nghi hoặc bị can là
người chưa thành niên, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, giam tại
nhà và biện pháp tạm giam [44, tr.52].
Các BPNC này được áp dụng khi có căn cứ cho rằng người bị tình
nghi, bị can: trốn tránh việc điều tra ban đầu, điều tra dự thẩm hoặc xét

15


xử; có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; có thể đe dọa người làm
chứng, những người khác tham gia tố tụng hình sự, tiêu hủy chứng cứ,
cũng như có những hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng đối với vụ
án. BPNC cũng có thể được áp dụng để bảo đảm thi hành án hoặc để
bảo đảm khả năng dẫn độ [8, Điều 97].
Về thẩm quyền áp dụng BPNC, BLTTHS quy định rõ đó là Điều tra
viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Toà án ra quyết định về
việc áp dụng BPNC, trong đó nêu rõ tội phạm mà người đó bị tình nghi hoặc
bị khởi tố và những căn cứ của việc áp dụng BPNC [8, Điều 101].
Về huỷ bỏ hoặc thay đổi BPNC, Điều 110 quy định rõ: BPNC bị huỷ
bỏ nếu việc áp dụng chúng là không cần thiết hoặc bị thay đổi bằng BPNC
khác nghiêm khắc hơn hoặc ít nghiêm khắc hơn nếu những căn cứ áp dụng
BPNC quy định tại Điều 99 Bộ luật này có thay đổi; việc huỷ bỏ hoặc thay
đổi BPNC được thực hiện theo quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán hoặc Toà án; trước khi vụ án được chuyển cho Toà
án thì BPNC do Kiểm sát viên lựa chọn, áp dụng. Dự thẩm viên, Điều tra
viên áp dụng BPNC theo yêu cầu bằng văn bản của Kiểm sát viên và việc
thay đổi, huỷ bỏ chỉ được thực hiện khi Kiểm sát viên đồng ý.
Biện pháp tạm giữ người bị tình nghi do CQĐT ban đầu, Dự thẩm viên
hoặc KSV áp dụng đối với người bị tình nghi thực hiện tội phạm mà có thể bị

Biện pháp này chỉ có Tòa án mới có quyền áp dụng.
Đối với biện pháp tạm giam cũng vậy. Điều 108 có quy định trong
trường hợp cần phải áp dụng biện pháp tạm giam thì Kiểm sát viên hoặc Dự
thẩm viên, Điều tra viên nếu được Kiểm sát viên đồng ý ra công văn đề nghị
TA xem xét, quyết định. Trong bản đề nghị cần chỉ rõ lý do và căn cứ cần
thiết phải tạm giam người bị tình nghi hoặc bị can và không thể áp dụng
BPNC khác đối với họ. Kèm theo bản đề nghị là những tài liệu khẳng định
tính có căn cứ của sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam. Đối với việc

17


Trích đoạn Những hạn chế, tồn tại Nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại Yêu cầu từ công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay Yêu cầu từ thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status