ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ HỒNG THẮM
PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
VÀ THỰC TIỄN THỰC THI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ HỒNG THẮM MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG
CHỨNG VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 6
1.1. Khái quát về công chứng và hoạt động công chứng 6
1.1.1. Quan niệm chung về công chứng và hoạt động công chứng 6
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của hoạt động công chứng 10
1.2. Pháp luật công chứng của Việt Nam 15
1.2.1. Khái niệm pháp luật về công chứng 15
1.2.2. Sự phát triển của công chứng và pháp luật công chứng Việt Nam 15
1.2.3. Khái niệm công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện hành 25
1.3. Một số đặc điểm trong quy định công chứng của một số nƣớc trên
thế giới 35
1.3.1. Công chứng ở Cộng hòa Pháp 37
1.3.2. Công chứng ở Anh - Mỹ 40
1.3.3. Công chứng ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 42
Tiểu kết chƣơng 1. 45
Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG VÀ THỰC TIỄN THỰC THI
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 46
2.1. Quy định của pháp luật công chứng hiện hành về thành lập và hoạt
động của tổ chức hành nghề công chứng 46
2.1.1. Pháp luật về thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng 46
2.1.2. Pháp luật về công chứng viên 62
2.1.3. Các bất cập trong quy định của pháp luật về công chứng 72
LCC 2006 Luật công chứng 2006
Tổ chức HNCC Tổ chức hành nghề công chứng
UBND Ủy ban nhân dân
VPCC Văn phòng công chứng
CCV Công chứng viên 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, hoạt động công chứng ở nước ta đã có những
bước chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Đồng thời khẳng định được vị trí, vai trò của công chứng trong đời
sống xã hội, đáp ứng được nhu cầu công chứng của nhân dân trong nền kinh tế
thị trường. Hoạt động công chứng đã tạo ra các bằng chứng, sự an toàn pháp lí
cần thiết cho các hợp đồng và các giao dịch dân sự khác, thúc đẩy sự hợp tác
giao lưu kinh tế, thương mại, góp phần vào việc phòng ngừa các tranh chấp, vi
phạm pháp luật tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động công chứng với thực tiễn cuộc
sống, tại kì họp thứ 10 Quốc hội khóa XI ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật công
chứng số 82/2006/QH11 về công chứng (LCC 2006) đã được thông qua và có
hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2007; cùng với sự ra đời của LCC 2006, các văn
bản quy phạm pháp luật về hoạt động công chứng cũng lần lượt được ban hành
như: Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 5
năm 2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ kí (Nghị định số 79/2007/NĐ-CP); Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04
tháng 01 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Luật công chứng là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý các
giao dịch dân sự, nhưng đến nay, do biến động của tình hình thực tế có nhiều
vấn đề mà Luật công chứng chưa tiên liệu được. Điều này dẫn đến thực tiễn
thi hành pháp luật công chứng hiện nay ở trên địa bàn cả nước nói chung, trên
địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được khắc
phục để hoạt động này phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong thực tiễn
cuộc sống.
Thành phố Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, nơi tập trung của cả nước về
kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội. Với đặc điểm là dân số đông, đô thị hóa
diễn ra nhanh chóng, các hoạt động kinh tế diễn ra sôi động, phức tạp - đặc biệt
3
là các giao dịch về bất động sản nên thực tiễn thực thi pháp luật về công chứng
tại Hà Nội có nhiều thuận lợi song cũng phát sinh nhiều bất cập. Bởi vậy, tác
giả đã chọn thành phố Hà Nội là địa bàn nghiên cứu cho luận văn.
Với các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về thành lập và
hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực tiễn thực thi trên địa
bàn thành phố Hà Nội hiện nay” cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Công chứng, với tư cách là một chế định bổ trợ tư pháp trong hệ thống
pháp luật Xã hội chủ nghĩa, xuất hiện tại Việt Nam chưa lâu. Tuy nhiên, trong
thời gian qua, kể từ khi Luật công chứng ra đời, đã có một số đề tài luận án,
luận văn nghiên cứu về lĩnh vực này. Cụ thể như: Tuấn Đạo Thanh, Luận án
Tiến sĩ Luật học, “Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước
trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện
pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay”, 2008; Phạm Thị Mai Trang,
Luận văn thạc sĩ Luật học, “Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực
trạng và giải pháp”, 2011; Nguyễn Quang Minh, Luận văn thạc sĩ luật học,
“Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay”, 2008; Nguyễn Chí Thiện,
Luận văn thạc sĩ luật học, “Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng ở nước
nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật về công chứng.
Ba là, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về công chứng và
nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
Với khuôn khổ của Luận văn, luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích một
số quy định của pháp luật công chứng hiện hành về thành lập và hoạt động tổ
chức HNCC và thực tiễn hoạt động của các tổ chức HNCC trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
• Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm
5
của Đảng cộng sản Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng những phương pháp
nghiên cứu luật học truyền thống như phương phương pháp phân tích, phương
pháp tổng hợp, pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, tư
duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải … nhằm làm sáng tỏ nội dung và
phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4. Những đóng góp mới của Luận văn
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật công chứng
hiện hành.
Thứ hai, đánh giá, tổng kết được kết quả hoạt động của các tổ chức
HNCC trên địa bàn thành phố Hà Nội sau hơn sáu năm Luật công chứng có
hiệu lực.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật công chứng, phát triển hoạt động công chứng trên địa bàn
thành phố Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
bao gồm 3 chương.
Mã cổ xưa. Sự ra đời của nghề công chứng ở Cộng hòa La Mã cổ đại được
hình thành từ năm 106 đến năm 43 trước công nguyên, và gọi là notaries
(công chứng) hay scribae (thầy tư tế). Về sau, trong luật La Mã đó là người
ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của
Tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy
chuyển nhượng sở hữu. Họ là nhánh lâu đời nhất trong ngành luật còn tồn tại
đến ngày nay trên khắp thế giới [1].
7
Theo các cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề
sớm xuất hiện trong lịch sử loài người với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản
và làm chứng, tính chất của nghề CCV là một nhân viên công. Các nhân viên
công, còn được gọi là ''thư ký'' là những người chuyên chép thuê. Thời gian
trôi qua đã có sự thay đổi về tính chất nghề nghiệp trong các mối quan hệ giữa
các lĩnh vực công - tư. Một số là nhân viên thường trực gắn bó với Viện
nguyên lão và Tòa án, có trách nhiệm lưu giữ các biên bản, sao chép lại giấy
tờ của nhà nước, hỗ trợ các quan tòa về các thủ tục pháp lý và ghi vào sổ các
bản án và phán quyết của quan tòa [50, tr.10].
Pháp luật dân sự đã trải qua thời kỳ trung cổ đến thời kỳ phục hưng từ
thế kỷ 12 trở đi, thời kỳ này, công chứng phát triển thành tổ chức nghề luật ở
hầu hết các nước Châu Âu và Châu Mỹ.
Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, từ trước tới nay trên
thế giới luôn cùng tồn tại ba hệ thống công chứng: Hệ thống công chứng La
tinh (Luật viết), hệ thống công chứng Anglo-sacxon ( Anh - Mỹ) và hệ thống
công chứng nhà nước bao cấp (Collectiviste).
- Hệ thống công chứng La tinh (chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống
luật La mã, còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law). Hệ thống này
tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Anh);
châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ - La tinh, bang
Quebec của Canada, bang Luisane của Hoa Kỳ, một số nước châu Á (Nhật
không phát triển, ở đó, vai trò công chứng chủ yếu là nhằm bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản cá nhân [18].
Có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô hình công chứng tự do so với mô
hình công chứng nhà nước. Đó là sự đề cao, phát huy trách nhiệm cá nhân của
CCV, tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực để các CCV phát huy
tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt động của mình, giảm nhẹ sự bao cấp
của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước tinh giản, gọn nhẹ, tách bạch chức năng
quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực công
9
chứng. Mô hình tổ chức này không chỉ tiết kiệm cho ngân sách nhà nước mà còn
tăng thu ngân sách thông qua việc đóng thuế của các CCV. Về mặt tổ chức và
hoạt động, mô hình công chứng tự do tạo ra sự linh hoạt về mặt tổ chức, bảo
đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của nhân dân.
1.1.1.2. Hoạt động công chứng
Từ các quan niệm về công chứng ở trên, có thể thấy được, hoạt động
công chứng là hành vi của CCV nhằm lập, chứng nhận tính xác thực của các
hợp đồng, giao dịch với mục đích đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể
tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Khởi nguồn của hoạt động công chứng là hoạt động của xã hội, với vai
trò làm chứng của quần chúng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch,
khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự tranh chấp, lật
lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công chứng chính là
nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao
dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. Như vậy, công chứng là
một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc.
Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế,
thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà
nước, góp phần bảo đảm ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự,
Đặc điểm này của hoạt động công chứng được biểu hiện như sau: Các
phòng công chứng, VPCC thực hiện hoạt động công chứng bằng kiến thức
chuyên môn nghề nghiệp của các CCV là những người do Nhà nước bổ
nhiệm với đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn quy định nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng. Các CCV thông qua các thao
tác nghề nghiệp của mình, giúp khách hàng thể hiện ý chí, nguyện vọng, thỏa
thuận bằng văn bản, đảm bảo cho ý chí của họ phù hợp với pháp luật, không
trái đạo đức xã hội. Đồng thời, CCV còn kiểm tra, tư vấn góp ý để khách hàng
có thể thể hiện được đầy đủ ý chí, nguyện vọng của chính họ một cách chính
xác rõ ràng nhất trong các văn bản công chứng.
11
CCV bằng sự kiến thức pháp luật và kinh nghiệm nghề nghiệp, với sự
khách quan, vô tư phải đảm bảo xác định đúng chủ thể, đối tượng, nội dung,
tính chất của hợp đồng giao dịch, xác định các quan hệ pháp lý phát sinh xung
quanh yêu cầu công chứng, hậu quả pháp lý có thể xảy ra.
Ví dụ: khi tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô của
khách hàng thì ngoài việc xác định các nội dung cơ bản của hợp đồng theo
quy định pháp luật như bên mua, bên bán, tình trạng chất lượng tài sản, giá cả
và phương thức thanh toán CCV còn phải xác định các quan hệ pháp lý liên
quan khác, gồm:
- Quan hệ sở hữu: sở hữu chung hay sở hữu riêng
- Quan hệ giao dịch bảo đảm: tài sản có đang đảm bảo cho việc thực hiện
nghĩa vụ nào khác hay không như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh );
- Quan hệ thừa kế: tài sản có liên quan đến di sản thừa kế hay không?
Đồng thời CCV còn phải giải thích rõ cho khách hàng biết họ sẽ phải
chịu những hậu quả pháp lý gì khi tranh chấp xảy ra nếu có sự dối trá, giả tạo,
không trung thực trong quá trình giao kết hợp đồng thì.
Sau khi xác định rõ các vấn đề trên, các bên trong hợp đồng ký vào văn
bản trước sự chứng kiến của CCV. CCV công nhận tính xác thực, hợp pháp
có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham
gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác”.
Có thể thấy, văn bản công chứng được tạo lập trước hết không nhằm
tạo ra chứng cứ và càng không phải mục đích duy nhất làm chứng cứ. Văn
bản công chứng được tạo lập, trước hết đảm bảo giá trị thực hiện đối với các
bên trong giao dịch, đồng thời có giá trị đối với cả bên thứ ba. Hợp đồng, giao
dịch khi đã được công chứng theo các quy định của pháp luật thì giá trị pháp
lí của hợp đồng, giao dịch đó sẽ được nhà nước thừa nhận. Văn bản đã được
công chứng sẽ có ý nghĩa ràng buộc các bên tự nguyện thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình mà không cần sự phán xét của Tòa án. Trừ khi bên có
nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện theo văn bản đã công chứng thì bên còn
13
lại trong hợp đồng, giao dịch có quyền yêu cầu tòa án xét xử theo quy định
của pháp luật. Điều này có nghĩa là văn bản đã được công chứng luôn tạo ra
một biện pháp an toàn cho các bên khi tranh chấp xảy ra. Đây chính là giá trị
chứng cứ của các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng. Trong trường hợp
có tranh chấp xảy ra, những văn bản đã được công chứng chính là bằng chứng
không thể chối cãi giữa các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Từ đó, quyền,
lợi ích hợp pháp của các bên được bảo vệ và bảo đảm thực hiện.
Trên thế giới hiện nay, các hệ thống công chứng khác nhau có quan
điểm khác nhau khi xác định giá trị chứng cứ của văn bản công chứng.
- Hệ thống công chứng Anglo-Sacxon là công chứng hình thức, khi
thực hiện công chứng, các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của Giáo
hội chỉ chú trọng đến tính xác thực về mặt hình thức như: nhận diện đúng
khách hàng, xác định đúng thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi lại sự
kiện pháp lý hoặc thỏa thuận của các bên hoặc ý chí của người yêu cầu công
chứng mà không quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lý của đối tượng
hợp đồng, không cần biết thỏa thuận có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay
Mặt khác, hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo-
Saxon đều coi công chứng là một nghề tự do. CCV hoạt động độc lập, tự chịu
trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên, đó là một nghề đặc
biệt, đòi hỏi CCV phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ
được nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác thực cho các hợp đồng
vốn rất phức tạp, bởi vậy, CCV do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo
các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ
hành nghề
[50, tr.14]
.
Hệ thống công chứng Collectiviste là một thể chế công chứng được tổ
chức khá chặt chẽ, hoạt động chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của nhà nước
thông qua việc cấp ngân sách hành chính để đầu tư cơ sở vật chất, trả lương
và hoạt động. Tổ chức công chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháp
trong bộ máy hành pháp của Chính phủ. CCV hầu hết đều là công chức, nhân
15
viên nhà nước, hưởng lương từ nguồn ngân sách quốc gia và được hưởng mọi
chế độ chính sách theo quy chế công chức [15, tr.22].
Hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết các nước đã
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên đã có những sự thay đổi nhất định.
Pháp luật đã xác định công chứng là một nghề tự do đặt dưới sự quản lý của
Nhà nước và đang từng bước cải cách từ mô hình công chứng nhà nước sang
mô hình công chứng tự do.
Vấn đề quản lý của Nhà nước đối với hoạt động công chứng đã được
LCC 2006 cùng các Nghị định hướng dẫn quy định cụ thể trong các điều luật
về thành lập tổ chức HNCC, thủ tục công chứng, phí công chứng, tiêu chuẩn
CCV, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công chứng tất cả đều chịu sự
quản lý của các cơ quan nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước về công
chứng là sự phối hợp giữa Chính phủ, Bộ tư pháp, Bộ Ngoại giao; Bộ, cơ
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1991
Cách mạng Tháng 8 thành công, bộ máy nhà nước thực dân phong kiến
bị đập tan, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng với việc xây
dựng bộ máy nhà nước kiểu mới, ngày 01/10/1945 Chính quyền cách mạng
đã quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bổ
nhiệm một CCV người Việt Nam thay thế cho CCV người Pháp tại Hà Nội,
những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy
định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tiếp sau đó, Nhà nước ta ban hành sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945
“Ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ” và Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/02/1952
quy định “Thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất”.
Theo hai Sắc lệnh này, một số việc chứng nhận các giấy tờ giao cho Uỷ ban
kháng chiến hành chính (nay là Ủy ban nhân dân - UBND) các cấp thực hiện.
Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, căn cứ vào các
quy định tại Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính Phủ) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ
chức tư pháp, ngay sau khi bắt đầu công cuộc đổi mới, hoạt động công chứng
17
Việt Nam đã được triển khai. Ngày 10/10/1987 Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số
574/QLTPK (Thông tư 574/QLTPK) về công chứng nhà nước. Công tác công
chứng của UBND các địa phương được cải tiến và nâng cao chất lượng, đồng
thời thành lập phòng công chứng nhà nước tại thành phố Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu lớn về công chứng và
có đủ điều kiện cần thiết. Sau mấy chục năm không tổ chức hoạt động công
chứng thì đây là bước cần thiết để đúc rút những kinh nghiệm tiếp tục từng
bước xây dựng tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta [15, tr.40].
Sau khi Thông tư 574/QLTPK ra đời thì khái niệm đầu tiên về “công
chứng” của nước ta mới chính thức được quy định, theo đó,
Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm
Giai đoạn này, hệ thống công chứng ở nước ta được chính thức thành
lập kể từ khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày
27/02/1991 (Nghị định số 45/HĐBT) về Công chứng nhà nước. Từ đó đến
trước khi Luật công chứng ra đời, Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các
nghị định về công chứng đó là:
+ Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 (NĐ số 31/CP) về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước.
+ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 (NĐ số 75/2000/NĐ-
CP) về công chứng, chứng thực.
Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nước ra đời đã đặt ra cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt động công chứng -
một chức năng nhà nước rất cần thiết trong cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Theo Nghị định số 45/HĐBT, quan niệm của nhà nước ta về
công chứng cũng có những thay đổi nhất định. Điều 1, Nghị định này xác
định: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng
và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây
19
gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, theo khái niệm này, mục đích
của hoạt động công chứng được xác định rõ là “việc chứng nhận tính xác
thực các hợp đồng và giấy tờ”, nhiệm vụ mà nó phải thực hiện vẫn là bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức… Bên cạnh vai trò quản lý nhà
nước bằng pháp luật - “góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa”, thì vai trò bổ trợ tư pháp của hoạt động công
chứng trong việc xác nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ, sau khi
các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ trong việc
giải quyết các tranh chấp sau này. Giai đoạn này, chúng ta đã mô phỏng mô
hình công chứng nhà nước, mô hình đặc trưng của hệ thống các nước xã hội