Vấn đề đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật tại thành phố Hà Tĩnh hiện nay - Pdf 26

Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Kề từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986) cho tới nay, diện
mạo đất nước ta có nhiều bước chuyển rỏ rệt, nền kinh tế phát triễn vượt
bậc, đời sống xã hội không ngừng được nâng cao, vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh
tế đa dạng và năng động ấy, do nhều nguyên nhân khác nhau mà tình hình
VPPL trong xã hội Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
nói riêng cũng không ngừng tăng lên và ngày cáng diễn biến hết sức phức
tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự nghiệp xây dựng và phát triễn Tổ
quốc XHCN. Đó là hiện tượng được xã hội quân tâm và trở thành chủ đề
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, dưới nhiều cách tiếp cận: luật học, tâm
lý học, giáo dục học, tội phạm học, xã hội học…Đấu tranh phòng, chống
VPPL vì vậy đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng không chỉ đối với Đảng,
Nhà nước mà đó là nhiệm vụ chung của xã hội.
Thực hiện theo đúng chủ tương của Hiến Pháp năm 1992 của Nhà nước
CHXH Việt Nam (sửa đổi bổ sung vào năm 2001) đã quy định:
“Nhà Nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan Nhà Nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp
luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi pham Hiến pháp và
pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà Nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” (Điều 12).
Trong thời gian qua, hoạt động đấu tranh phòng, chống VPPL trong cả
nước nói chung và ở các địa phương nói riêng đã được triễn khai thực hiện
với nhiều phương thức, biện pháp khác nhau, tính chất, quy mô ngày càng
lớn và đã đưa lại những kết quả tích cực.
Góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống VPPL của toàn dân

Vi phạm pháp luật không chỉ là một hành vi độc lập mà đi kèm theo nó
là xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, hiện
nay hành vi này này càng trở nên phức tạp, đa dạng và phổ biến hơn so với
trước. Do vậy, đề tài phân tích và làm rỏ những hành vi này trên cơ sở lý
luận và thực tiễn khách quan ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố
Hà Tĩnh nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu:
4
Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của Chủ nghĩa
Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan
điểm, đường lối và chính sách của Đảng Và Nhà nước về đấu tranh phòng
chống tội phạm. Bên cạnh sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật,
đề tài còn sử dụng các phương pháp so sánh, lôgic, phân tích, chứng minh và
tổng hợp.
5
Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
B. PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT.
1.1 Khái niệm:
“Sống và làm việc theo pháp luật” Đảng và nhà nước ta luôn lấy pháp
luật làm khuôn mẩu điều chỉnh các quan hệ pháp sinh trong xã hội. Do đó
mọi hành xử của bất kỳ một chủ thể nào cũng phải nằm trong khuôn khổ mà
pháp luật cho phép. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau trong xã hội
vẫn xẩy ra nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật. Để đấu tranh phòng, chống
vi phạm pháp luật có hiệu quả đối với hiện tương tiêu cực này, điều quan
trọng đầu tiên là chúng ta phải biết và hiểu được thế nào là vi phạm pháp
luật ? vi phạm pháp luật có những đặc điểm gì? Và nó có những yếu tố cầu
thành nào? Để làm rỏ vấn đề này tác giả xin đi vào việc tìm hiểu cơ sở lý

của pháp luật, nó gây ra hoặc đe doạ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Trong các sự kiện pháp lý thì hành vi là đại bộ phận, cũng như trong vi
phạm pháp luật mọi sự biến luôn được thực hiện dưới dạng hành vi. Hành vi
này được thể hiện dưới hai dang hành động (tác vi) hoặc không hành động
(bất tác vi). Nó là sự kiện xẩy ra phụ thuộc trực tiếp vào ý chí của con người
và thể hiện ra bên ngoài ý chí của hành vi đó. Điều này có nghĩa, chúng ta
không thể coi là vi phạm pháp luật ý nghĩ, tư tưởng, nhận thức, ý chí của con
người nếu chúng ta không bểu hiện ra bên ngoài trong hành vi cụ thể. Điều
này đã được C.Mác viết khẳng định: ngoài hành vi của mình ra, tôi hoàn
toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của
nó”. V.I.Lenin cũng khẳng định rằng: hành vi của con người là dấu hiệu duy
nhất để đánh giá, kết luận về sự suy nghĩ hay tâm trạng của nó. Vì vậy mà
chúng ta không thể coi là vi phạm pháp luật của sự kiện xẩy ra mà không
phụ thuộc vào ý chí và nhận thức của con người (như: hạn hán, lụt lội…).
Dấu hiệu thứ hai, mang tính chất bắt buộc duy nhất đó là tính chất trái
pháp luật, như đã nói ở phần đặc điểm của vi phạm pháp luật. Một hành vi bị
coi là vi phạm pháp luật tức là nó làm trái với pháp luật, vượt quá giới hạn
mà pháp luật cho phép, đi ngược lại, làm khác với những quy định của pháp
luật. Hình thức trái pháp luật dưới dạng hành động tức là làm điều mà pháp
luật cấm hoặc không đúng với pháp luật. Còn tính chất trái pháp luật dưới
dạng không hành động là không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật đã
quy định cho mọi người.
Dấu hiệu thứ ba, con người tồn tại trong một xã hội luôn xác lập nhiều
mối quan hệ khác nhau. Chính vì thế chỉ cần một hành vi của con người
cũng có thể tác động tới các quan hệ xã hội khác theo hướng tích cực hoặc
tiêu cực. Nhưng hành vi vi phạm pháp luật thì đều xâm phạm trật tự pháp
luật, gây thiệt hại chung cho xã hội, hoặc thiệt hại trực tiếp về người và của
7
Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
cho từng thành viên cụ thể cho xã hội. Trong đó thiệt hại cho xã hội là rất

quả mà hành vi đó gây ra.
Tính chất của khách thể vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng việc
xác định mức nguy hiểm của hành vi trái pháp luật (xâm phạm tới an ninh
quốc gia, an toàn giao thông đường bộ, quan hệ nhân thân, tính mạng, sức
khoẻ, tài sản, kỷ luật lao động…).
1.2.3 Chủ thể của vi phạm pháp luật
8
Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có trách nhiệm
pháp lý (năng lực hành vi) thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Và năng lực
hành vi, trách nhiệm pháp lý của chủ thể phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng
sức khoẻ (xác định chủ thể đó có bị mất, bị hạn chế hay chưa đủ năng lực
hành vi hay không?).
1.2.4 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là trạng thái tâm lý bên trong của
chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật. Gồm các yếu tố: lỗi, mục đích,
động cơ vi phạm pháp luật.
Trong đó lỗi là yếu tố bắt buộc. Do vậy, hành vi trái pháp luật mà
không có lỗi thì không bị coi là vi phạm pháp luật, có nghĩa chủ thể của
hành vi đó không bị pháp luật truy cứu trách nhiệm pháp lý. Đó chính là
nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Một người bình thường có năng
lực pháp luật, tức khoẻ mạnh về mặt tâm lý, có lý trí và tự do ý chí, hoàn
toàn có thể lựa chọn cho mình một phương án hành vi phù hợp với lợi ích
của xã hội, của cộng đồng và cần phải thấy trước hậu quả hành vi của mình.
Nếu coi thường lợi ích của xã hội và lợi ích của cá nhân khác, có thể nhận
thấy được hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng
mong muốn hoặc để mặc hay do sơ suất để nó xẩy ra thì đó là hành vi có lỗi.
Như vậy, lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ của chủ thể đối với
hành vi nguy hiểm cho hội của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi
đó. Lỗi căn cứ vào hậu quả và hành vi của chủ thể đó). Yếu tố lỗi thể hiện

mong muốn cho hậu quả đó xẩy ra. Như vây, chủ thể thực hiện hành vi nhận
thức đầy đủ về tính chất và mức độ hành vi xâm phạm do hành vi của mình.
(1’): Mức độ lỗi này chỉ đạt được một mức độ nào đó (có thể
gây ra hậu quả cũng có thể không). Điều này phải căn cứ vào hành vi của
chủ thể.
(2): Ý chí của chủ VPPL là nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội
do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu
quả đó xẩy ra. Như vậy, khi chủ thể thực hiện hành vi trái PL thì chủ thể đó
đã nhân thức được tính chất của hành vi đó còn hậu quả thì lại chưa rỏ ràng,
theo họ hậu quả có thể xẩy ra hoặc có thể không xẩy ra, có nghĩa là “tuỳ nó”
(2’): Lúc này ý chí của người vi phạm đã có sự suy giảm.
(3): Lỗi vô ý do quá tự tin là trường hợp người VPPL nhìn thấy trước
hậu quả cho xã hội do hành vi của mình gây ra, không kỳ vọng, tin tưởng
hậu quả không thể xẩy ra hoặc nó xẩy ra và mình có đủ khả năng để ngăn
ngừa hậu quả đó. Như vậy chủ thể VP nhận thức được đầy đủ hành vi của
mình còn hậu quả thì mong muốn không xẩy ra.
(3’): Ý chí trong hình thức lỗi này của chủ thể làm trái PL bị suy giảm,
nhưng trên thực tế vẩn xẩy ra hậu quả.
(4): Đây là trường hợp người PL do khách quan, cẩu thả mà không
nhận thấy trước hậu quả của thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra,
mặc dù có thể nhận thấy hoặc cần phải nhận thấy trước. Chủ thể không nhận
thức được cả hành vi và hậu quả, làm cho hậu quả xẩy ra trên thực tế.
(4’): Ý chí của chủ thể đối với lỗi vô ý do cẩu thả bị suy giảm.
Mỗi một hành vi thể hiện của người VPPL luôn chứa đựng một động cơ
nhất định. Động cơ tức là lý do thúc đảy chủ thể thực hiện hành vi VPPL.
Động cơ khác với mục đích, mục đích là mục tiêu mà chủ thể muốn đạt tới
khi thực hiện hành vi VPPL. Việc xác định động cơ và mục đích trong nhiều
trường hợp có ý nghĩa quan trọng để tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện VPPL,
nhân thân chủ thể vi phạm PL. Từ đó áp dụng biện pháp thích hợp nhằm
nâng cao công tác giáo dục, cải tạo người vi phạm.

trẻ em cũng như các VP trong lĩnh vực quản lý Nhà nước; cũng như trong
lĩnh vực dân sự và kỷ luật gây xôn xao dư luận làm cho người dân rất bức
xúc và lo lắng…
Trong cả nước tình hình vi phạm về an toàn giao thông tăng cao so với
cùng kỳ năm ngoái không chỉ tại các thành phố lớn như: Hà Nội, TP.Hồ Chí
Minh, Đà Nẳng, Hải Phòng, Vinh mà còn tăng nhanh ở các địa phương trong
phạm vi cả nước, làm cho số lượng người chết, bị thương và thiệt hại về tài
sản lên cao.
Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường cũng tăng cao
với các hành vi tinh vi, xảo quyệt hơn của không ít các cá nhân, doanh
nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước như: vụ công ty Vê Đan, công ty bột
ngọt Miwon, công ty giấy Bãi Bằng, công ty supe phốt phát và hoá chất Lam
Thao…đã gây ảnh hưởng nghiệm trọng cả sức khoẻ và đời sống vật chất của
nhân dân ở các vùng lân cận và “góp phấn” vào việc phá hoại và ô nhiễm
nặng nề môi trường sống của loài người
Các vi phạm hành chính tại các cơ quan ban ngành cũng không kém
phần tăng nhanh, xẩy ra ngay cả các cơ quan bảo vệ pháp luật, chỉ trong
12
Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
vòng ba năm (từ năm 2006-2008) cả nước đã có tới hành chục ngàn vụ khiếu
kiện, tố cáo cuả người dân liên quan tới đất đai, nhà ở, quyết định hành
chính của các cơ quan NN, đặc biệt là ở Thanh Hoá, Hải Phòng, Vinh, Hà
Nam...
Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực dân sự như: hôn nhân - gia đình,
thừ kế, hợp đông dân sự. Và cả các vi phạm kỷ luật trong lao động, trương
học, trong cơ quan xý nghiệp cũng không giảm so với những năm trước.
Trước thực tế như hiện nay, trong nội bộ từng ngành, từng lĩnh vực các
cơ quan chức năng đã tích cực tăng cường công tác đấu tranh, phòng chống
VPPL bằng cách “tự xử”, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm khắc các hành vi
VPPL, thực hiện các đợt truy quét trên phạm vi rộng cả nước, đã phá được

Bài niên luận Nguyễn Thị Trang
hiện sai phạm về kinh tế gần 7.000 tỷ đồng, trên 4 triệu USD, hơn 400.000
EURO. Bên cạnh đó Thủ tương Chính phủ cũng đã ký nghị quyết ban hành
chiến lược Quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2010 và ký kết nhiều
công ước với Liên Hợp Quốc về đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Trong công cuộc bảo vệ, gìn giữ môi trường bền vững, phòng ngừa
những tác động xấu tới môi trường và ứng phó kịp thời sự cố môi trường,
hành vi vi phạm môi trường. Cuối năm 2007 Bộ Tài Nguyên-Môi Trường
cùng phối hợp với Bộ Công an thành lập lực lượng cảnh sát môi trường.
Đồng thời, năm 2008 Thủ Tướng Chính Phủ ban hành chỉ thị 24/2008/CT-
TTg yêu cầu các Bộ , nghành, các địa phương khẩn trương thực hiện một số
công việc cấp bách, theo đó Bộ Tài Nguyên - Môi Trường đã phối hợp với
các Bộ, nghành trị nhiều địa phương tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý
kịp thì, nghiêm minh các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó tập
trung vào các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất chế xuất,
các lành nghề, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cơ quan
Công An đã đẩy mạnh công tác phòng ngừa, phát hiện xử lý dân sự và hành
chính các hành vi buôn bán, vân chuyển trái phép, nhất là vận chuyễn qua
biên giới các chất phóng xạ, rác thải, lâm sản, các loại động vật hoang dã,
quý hiếm, không để các loại phương tiện cơ giới đã hết niên hạn sử dụng
tham gia giao thông gây ô nhiểm môi trường. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác
bảo vệ môi trường, nhất là xử lý chất thải, đồng thời xây dựng cơ chế giám
sát, kiểm tra về môi trường, kiên quyết đìng chỉ các hoạt động với các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không có hệ thống phương tiện, biện pháp xử
lý chất thải và các biện pháp khắc phục sự cố môi trường.
Đối với các đơn khiếu kiện, tố cáo của nhân dân có VPPL đã được các
cơ quan ban ngành liên quan xác minh làm rỏ ngay, rất thận trọng khi sắp
xếp, phân công công việc và giải quyết kịp thời, đáp ứng một phần nguyện
vọng của nhân dân.
Đối với các hành vi trốn thuế và các hành vi VPPL khác của các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status