1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam nằm ở vĩ độ từ 8
0
27’ Bắc đến 23
0
27’ Bắc, trên kinh độ từ
102
0
8’ Đông đến 109
o
27’ Đông. Với diện tích tự nhiên là 330.991km
2
, vùng
biển rộng lớn trên 1 triệu km
2
, với các đảo và quần đảo, vùng trời thuộc lãnh thổ
nước ta. Việt Nam phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, Campuchia,
phía Đông giáp biển Đông, với đường biển dài 3260km, đường biên giới trên bộ
dài 450km.
Tính đến hết năm 2006, dân số của Việt Nam đạt 84.155.800 người. Dân
cư đô thị chiếm 27,2% dân số, dân cư nông thôn chiếm 72,8% dân số. Tỷ lệ giới
tính được duy trì ổn định: Nam khoảng 49,1%, nữ khoảng 50,9%. Dân số Việt
Nam là loại dân số trẻ, 27,3% từ 0 đến 14 tuổi, 20,5% từ 14 đến dưới 18 tuổi,
45,2% từ 18 đến dưới 65 tuổi, chỉ khoảng 7,0% dân số có độ tuổi từ 65 trở lên
[12].
Lịch sử của dân tộc Việt Nam cho thấy chính lực lượng trẻ là thiếu niên
trọng và cần thiết”. Cụ thể hoá di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà
nước đã có nhiều chủ trương và biện pháp thích hợp. Và riêng đối với thế hệ trẻ,
với NCTN là đối tượng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Vì lẽ đó
mà nhiệm vụ “Đấu tranh phòng chống tội phạm lứa tuổi chưa thành niên” được
xác định là một đề án của chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm mà Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt từ năm 1998 [20].
Nhưng trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, trước xu
hướng hội nhập và mở cửa, toàn cầu hoá, song song với những cơ hội, chúng ta
còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức tiềm ẩn nhiều những nguyên
nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm (THTP). Việc đấu tranh phòng
chống tội phạm do NCTN thực hiện hiện nay không chỉ là vấn đề của Quốc gia
mà đã trở thành vấn đề được hầu hết các Quốc gia trên thế giới dành sự quan
tâm đặc biệt.
Vì những lý do trên đây, việc nghiên cứu đề tài “Đấu tranh phòng chống
tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở Việt Nam” trong điều kiện
hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn nhằm đề ra các giải pháp nâng
3
cao hiệu quả cho hoạt động đấu tranh phòng chống THTP do NCTN thực hiện ở
Việt Nam. 2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu đề tài: chỉ tập trung vào nghiên cứu THTP do NCTN
thực hiện ở Việt Nam từ năm 2000 – 2007, những nguyên nhân và điều kiện của
THTP do NCTN thực hiện dưới góc độ tội phạm và những biện pháp đấu tranh
phòng chống tội phạm của NCTN đang được thực hiện, trên cơ sở đó đề xuất để
tiếp tục hoàn thiện hơn nữa các biện pháp phòng ngừa trên phạm vi cả nước.
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
niên thực hiện ở Việt Nam từ năm 2000 – 2007.
Chương III: Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện ở Việt Nam.
5
CHƯƠNG I
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 - 2007
1. Thực trạng và diễn biến của tình hình tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện
Một người vi phạm pháp luật hình sự thì không có nghĩa là người đó khi
được sinh ra vốn là một tên tội phạm. Bởi vì như chúng ta đã biết nhân cách con
người được hình thành chịu sự ảnh hưởng rất lớn của giáo dục và hoàn cảnh môi
trường xung quanh, rồi cũng chính những yếu tố đó quyết định hành vi xử sự
của mỗi con người.
Có những đứa trẻ đang là con ngoan trò giỏi, bỗng một ngày lại vi phạm
pháp luật hình sự, gây những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ngược lại cũng có
những đứa trẻ sau khi phạm tội được giáo dục, cảm hoá, nhận ra lỗi lầm của
mình lại trở thành những công dân tốt của xã hội.
Theo Pháp luật quốc tế, cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới,
căn cứ để phân biệt NCTN là ở độ tuổi của họ. Ở mỗi quốc gia khác nhau thì độ
tuổi của NCTN lại được qui định khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào truyền thống
văn hoá, điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử lập pháp, tập quán và các yếu tố tâm
sinh lý của con người trong mỗi quốc gia đó.
Pháp luật Việt Nam qui định NCTN là người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ
18 tuổi [8], [9], [13], [15], [17]. Cụ thể, theo Điều 12, Bộ luật hình sự (BLHS)
Việt Nam năm 1999 qui định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự (TNHS) về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng
Tng s 596.969 34.831 5,83%
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, từ năm 2000 2007, số NCTNPT có
chiều hớng gia tăng khá đều đặn. THTP do NCTN thực hiện có diễn biến phức
tạp, trong cơ cấu THTP thì NCTNPT nói chung vẫn chiếm tỉ trọng tơng đối ổn
định, gần 6%.
Qua nghiên cứu số liệu thống kê của TANDTC còn cho thấy, các loại tội
do NCTN thực hiện tập trung chủ yếu ở 04 nhóm tội, tơng ứng với các chơng
7
trong BLHS 1999. Trong từng nhóm tội ấy, NCTN chỉ phạm vào một hoặc một
số tội danh cụ thể đợc qui định tại các Điều (Đ) của BLHS 1999.
- Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con
ngời (Chơng XII), các bị cáo là NCTN chỉ phạm vào 04 tội: Tội cố ý gây
thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác (Đ104); Tội giết
ngời (Đ93), Tội hiếp dâm (Đ111); Tội hiếm dâm trẻ em (Đ112).
- Nhóm các tội xâm phạm sở hữu (Chơng XIV), các bị cáo là NCTN chỉ
phạm vào 07 tội: Tội cớp tài sản (Đ133); Tội cỡng đoạt tài sản (Đ135); Tội
cớp giật tài sản (Điều 136); Tội trộm cắp tài sản (Điều 138); Tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản (Đ139); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Đ140); Tội huỷ
hoại hoặc cố ý làm h hỏng tài sản (Đ143).
- Nhóm các tội về ma tuý (Chơng XVIII), các bị cáo là NCTN chỉ phạm
vào 01 tội: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
tuý (Đ194).
- Nhóm các tội phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chơng XIX),
các bị cáo là NCTN chỉ phạm vào 04 tội: Tội vi phạm qui định về điều khiển
phơng tiện giao thông đờng bộ (Đ202); Tội phá hủy công trình, phơng tiện
quan trọng về an ninh Quốc gia (Đ231); Tội gây rối trật tự công cộng (Đ245);
Tội đánh bạc (Đ248); Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Đ249).
4 2003 3994 110,7% 10,7%
5 2004 2540 70,4% 29,6%
6 2005 5309 147,1% 47,1%
7 2006 6274 174% 74%
8 2007 6582 182,5% 82,5%
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Biểu đồ 1.1. Diễn biến THTP do NCTN thực hiện ở Việt Nam
từ năm 2000 2007
0%
50%
100%
150%
200%
Tỡnh hỡnh ti phm tng cng phn no t chỳng ta trc vn l cn
lm rừ thc trng ny, i ụi vi cụng tỏc u tranh phũng chng ti phm do
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
100%
95%
86,1%
110,7%
70,4%
147,1%
174%
182,5%
9
3 Về ma túy 2947 8,46
4 Về an toàn công cộng, trật tự
công cộng
1867 5,36
5 Các tội phạm khác 578 1,36
Tổng số 34831 100%
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao) 10
Biểu đồ 1.2. Cơ cấu tội phạm do NCTN thực hiện theo nhóm tội danh
X©m ph¹m tÝnh m¹ng søc khoÎ con
ng−êi
X©m ph¹m së h÷u
VÒ ma tuý
VÒ an toµn c«ng céng, trËt tù c«ng
céng
C¸c téi ph¹m kh¸c
Trong cơ cấu tội phạm do NCTN thực hiện phổ biến và điển hình nhất là
nhóm các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV) với 22.243 bị cáo, chiếm tới
63,86% tổng số bị cáo là NCTNPT; Nhóm các tội phạm xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người (Chương XII) với 7196 bị cáo,
chiếm 20,66% tổng số bị cáo là NCTNPT; Nhóm các tội về ma tuý (Chương
XVIII) với 2947, chiếm 8,46% tổng số bị cáo là NCTNPT; Nhóm các tội xâm
phạm về ATCC, TTCC (Chương XIX) với 1867 bị cáo chiếm 5,36%; Nhóm
7 Ti hip dõm v hip dõm tr em 1484 4,26
8 Ti vi phm ATGT ng b 902 2,59
9 Cỏc ti phm khỏc 5329 15,3
Tng s b cỏo l NCTNPT 34,831 100%
(Ngun: To ỏn nhõn dõn ti cao)
Biu 1.3. C cu ti phm do NCTN thc hin
(theo ti phm c th) t nm 2000 2007
Tội trộm cắp tài sản
Tội cớp tài sản
Tội cố ý gây thơng tích
Tội cớp giật tài sản
Tội giết ngời
Tội tàng trữ, vận chuyển ma
túy
Tội hiếp dâm
Tội vi phạm ATGT đờng bộ
Các tội phạm khác 12Các tội phạm cụ thể từ năm 2000 – 2007 do NCTN thực hiện ở Việt Nam
chủ yếu gồm 16 loại tội tương ứng với 16 tội danh được qui định trong BLHS
1999. Sau đây chúng ta cùng đi vào các tội danh cụ thể đó:
* Tội trộm cắp tài sản (Đ138): qua nghiên cứu 34831 NCTN bị truy tố từ
năm 2000 – 2007 cho thấy: Tội trộm cắp tài sản là tội được NCTN thực hiện
nhiều nhất với 9140 bị cáo, chiếm tới 26,24%. Những thiệt hại gây ra thường là
không đáng kể, những tài sản bị chiếm đoạt cũng chủ yếu là những đồ dùng
trong sinh hoạt gia đình hoặc cá nhân bởi những tài sản đó vừa dễ lấy trộm lại
giấu tài sản của gia đình chị Lan nên dễ dàng ra tay [21].
* Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
(Đ104) là tội chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu tội phạm do NCTN thực hiện. Từ
năm 2000 – 2007, theo số liệu thống kê của TANDTC thì đã truy tố 3793
NCTNPT cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác,
chiếm 10,89%. NCTNPT cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác chủ yếu là do va chạm với nhau trong lúc làm việc, trong lúc vui
chơi, hoặc do máu “yêng hùng”, muốn trở thành tâm điểm chú ý của bạn bè,
hoặc do động cơ trả thù cho người thân, hoặc cũng có thể do muốn trở thành
những tay hảo hán trong phim xã hội đen. Vũ khí để gây án thường đa dạng, dễ
sử dụng và thường là những vật thô sơ như gạch, dao, đá, vỏ chai, thậm chí là
những tuýp nước. Nạn nhân của loại tội phạm này thường là những người có thể
yếu hơn người phạm tội như trẻ em, kém tuổi, phụ nữ. Song điều nguy hiểm là ở
loại hành vi phạm tội này cho thấy sự coi thường tính mạng, sức khoẻ của người
khác, mang tính côn đồ, có trường hợp dẫn đến chết người hoặc gây cố tật suốt
đời cho nạn nhân. Đặc biệt trong thời gian gần đây, NCTN đã tham gia hoặc
thực hiện những hành vi cố ý gây thương tích nhưng ở mức độ rất nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng như: có tổ chức, sử dụng hung khí kiếm, côn, súng,
tính chất phạm tội côn đồ, hung hãn, hậu quả để lại là rất nghiêm trọng, để lại
thương tích, cố tật nặng cho nạn nhân, gây mất an toàn cho xã hội.
* Tội giết người (Đ93): Trong cơ cấu các tội do NCTN thực hiện thuộc
nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người khác
phải kể đến tội giết người do NCTN thực hiện. Tội giết người là tội đặc biệt
nghiêm trọng. Tội phạm do NCTN thực hiện những năm gần đây đã có diễn
14
biến khá phức tạp và việc NCTN tham gia thực hiện tội giết người từ năm 2000
– 2007 chiếm tới 4,79% với 1663 bị cáo trong tổng số 34.831 bị cáo là NCTNPT
đã bị truy tố.
vào người Nam ra hiệu hành động. Đông bảo anh Tiến dừng xe để Đông nhớ
đường, khi anh Tiến vừa chống 2 chân xuống đất thì Đông dùng tay phải cầm
dao vòng qua người Nam, kề phần lưỡi dao vào vùng cổ phía bên phải của anh
Tiến cứa mạnh từ trái sang phải. Theo phản xạ, anh Tiến vùng mạnh tay gạt dao
làm lưỡi dao bị bật khỏi chuôi vung xuống rìa đường bên phải, nhảy khỏi xe và
chạy về phía trước hô “cướp”. Do chạy xuống ruộng đã cày ải nên anh bị vấp
ngã và làm rơi sợi dây chuyền bạc. Được khoảng 70m thì Nam và Đông đuổi
kịp, Đông xông vào anh Tiến đấm đá, Nam dùng chân nhảy song phi vào người
anh Tiến làm anh ngã xuống ruộng, sau đó cả 2 cùng đấm đá anh Tiến. Anh
Tiến van xin chúng đừng giết anh và sẽ giao giấy tờ xe cho, nhưng chúng không
nghe. Đông dùng tay còng ghì cổ anh Tiến từ phía sau và giục Nam lấy dao
chém anh Tiến, Nam chém nhiều nhát vào người anh Tiến, có nhát chém cả vào
tay người Đông. Anh Tiến gạt tay làm con dao rơi xuống và vùng thoát khỏi tay
Đông chạy lên đường. Đông và Nam đuổi theo túm được anh Tiến và kéo xuống
ruộng. Đông bảo Nam đưa dao để Đông chém và chém nhiều nhát vào người
anh Tiến, sau đó Đông ngồi đè lên bụng anh rồi dùng dao cắt ngay cổ, anh Tiến
kêu “chết tôi rồi” và nằm im giả chết. Nam dùng chân đạp vào đầu anh vài nhát
rồi cùng Đông lật úp anh Tiến lên, móc một ví da màu đen trong túi quần anh.
Nghĩ anh Tiến đã chết, Đông vứt dao vào phần tường khu nghĩa trang, sau đó
Đông điều khiển xe máy và cả 2 tên đi theo đường bờ đê hướng Cao Quí – Tứ
Kỳ. Nam mở ví của anh Tiến thấy có 140.000đ cùng toàn bộ giấy tờ xe và giấy
tờ tuỳ thân của anh Tiến. Trên đường đi, chúng đỗ lại một mương nước để rửa
tay và thay quần áo, bỏ lại quần áo mặc khi gây án và chiếc cặp sách, sau đó
vào trạm y tế lau rửa vết thương của Đông rồi đi Hải Phòng để bán xe. Vì chúng
không phải là chủ sở hữu nên không bán được. Đến 7h45’ ngày 06.11.2006, 2
tên đến hiệu cầm đồ của anh Trần Trọng Duy ở Lễ Độ – Kim Anh – Kim Thành
– Hải Dương nhằm cầm đồ lấy tiền thì bị công an Kim Thành phát hiện.
TANDTP Hải Dương đã tuyên: Nguyễn Văn Đông và Phạm Đức Nam
phạm tội giết người và cướp tài sản [23].
Điều này được thể hiện ở một số vụ NCTNPT thực hiện như lừa đảo, lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
17
Về tính chất phạm tội có dấu hiệu phạm tội theo nhóm (2 người trở lên) ở
NCTNPT. NCTN thường tụ tập theo nhóm để phạm tội và thường xảy ra nhiều
ở các tội như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản...
Còn tội phạm ít tụ tập theo nhóm để thực hiện đó là tội giết người. Vì
NCTNPT giết người thường do bột phát, không có dự mưu từ trước, do không
kìm chế được tính “hăng máu” của tuổi trẻ.
Địa bàn phạm tội của NCTN xảy ra phổ biến ở các đô thị, thị xã, thị trấn,
nhất là các thành phố lớn. Theo số liệu của VKSNDTC thống kê về tội phạm do
NCTN thực hiện từ năm 2000 – 2007 thì địa bàn phạm tội của NCTN đứng đầu
cả nước là thành phố Hồ Chí Minh với 3.370 người, chiếm 11,83% tổng số
NCTNPT; Hà Nội với 2.433 người, chiếm 8,34% tổng số người NCTNPT; Nghệ
An là 935 người, chiếm 3,28% tổng số NCTNPT; Hải Phòng với 933 người,
chiếm 3,27% tổng số NCTNPT; các tỉnh, thành phố khác trong cả nước có số
NCTNPT cao là Vũng Tàu: 654 người (2,30% tổng số NCTNPT), Tây Ninh:
671 người (2,36% số NCTNPT), Đà Nẵng: 534 người (1,88% tổng số
NCTNPT), Nam Định: 528 người (1,85% tổng số NCTNPT), Cần Thơ là: 451
người (1,58% tổng số NCTNPT), Phú Thọ với 323 người chiếm 1,13% tổng số
NCTNPT [11].
Ở mỗi địa bàn khác nhau, tội phạm do NCTN thực hiện cũng có những
đặc trưng khác nhau, nếu như ở các vùng nông thôn và miền núi, tội phạm do
NCTN thực hiện chủ yếu và phổ biến là trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích
và một số ít tội ít nghiêm trọng khác thì các đô thị, ngoài những tội trên, các tội
rất đặc trưng cho vị thành niên còn là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản,
cướp giật tài sản, gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ.
Và một điều đáng chú ý nữa mà chúng ta dễ nhận thấy đó là:phạm tội của
lớp trẻ kéo theo sự thoái hoá về đạo đức, gây nên nỗi lo lắng của các bậc cha
mẹ, và của toàn xã hội về tương lai của thế hệ nối tiếp sự nghiệp của toàn dân
tộc. Đặc biệt là những trường hợp phạm tội phần lớn có hệ thống, đã bị công an
bắt, cảnh cáo nhưng vẫn phạm tội lại đã làm cho quần chúng hoài nghi cả khả
năng giáo dục của chính quyền, gây nên nỗi quan ngại và bất an trong nhân dân
và là những tấm gương xấu lôi kéo trẻ em sa vào con đường phạm tội.
3. Đặc điểm của nhân thân người phạm tội chưa thành niên
19
*Khi nghiên cứu THTP do NCTN thực hiện không thể không quan tâm
xem xét đến nhân thân của người này.
Đầu tiên ta xem xét về độ tuổi của NCTNPT, như đã biết nói về NCTNPT
tội là đề cập đến vấn đề vi phạm pháp luật hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi. Trong độ tuổi đó, Điều 12 của BLHS Việt Nam năm 1999 lại chia
thành 2 loại:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
- Người từ đủ tuổi 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Người CTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chiếm khoảng 40%
với 13.932 bị cáo, còn NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chiếm
60%, với 20.899 bị cáo [14]. Bị cáo ở độ tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đang
có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Và đặc biệt là bị cáo ở độ tuổi từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thời gian gần đây đã tham gia, thực hiện những tội
phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, có tổ chức, có tính chất côn đồ.
Xu hướng “trẻ hoá” tội phạm này cho chúng ta thấy sự phát triển về tâm lý và
khả năng nhận thức của NCTN trong điều kiện hiện nay là khác trước và đòi hỏi
chúng ta phải có biện pháp phòng ngừa, giáo dục thích hợp đối với lứa tuổi này.
Về giới tính: Qua nghiên cứu 34.831 bị cáo là NCTN, thì NCTNPT là
nam chiếm tỷ lệ rất cao, chiếm tới 96% với 33.438 bị cáo; nữ giới phạm tội
chiếm chỉ khoảng 4% với 1393 bị cáo trong tổng số NCTNPT.
đáng có.
Ở những em có những biểu hiện sai lệch ta luôn thấy các em không chăm
chỉ lao động giúp đỡ gia đình, người thân mà luôn lêu lổng, ham chơi hay tụ tập
thành từng nhóm đi quậy phá, trêu trọc bạn bè, không tới trường, bỏ học đi chơi
điện tử, chơi bài. Điều đáng lo ngại hơn cả là các em này không biết tự chăm
sóc, yêu quý bản thân. Sống bất cần, có thái độ ngang tàng, gan lỳ trước những
hành động sai trái. Thường xuyên vi phạm các qui định của nhà trường, khu
phố, thậm chí có những lời thô tục đối với cả cha mẹ của mình. Đây là một sự
phát triển lệch lạc đáng lo ngại về nhân cách của các em.
Các em còn có thái độ coi thường pháp luật, coi thường các chuẩn mực
đạo đức, chuẩn mực cuộc sống. Như việc các em hay tụ tập thành từng nhóm
nhỏ khoảng 5 – 10 em đi ăn cắp vặt để lấy tiền cho tiêu xài, ngồi nét, ăn uống...
Luôn sống vì bản thân, không nghe lời khuyên dạy của người xung quanh, có
21
thái độ sẵn sàng “đáp trả” nếu bị nhắc nhở nhiều lần. Với bạn bè thì luôn tỏ ra
coi thường có hành vi côn đồ như gần đây một nhóm khoảng 30 em ở thành phố
Biên Hoà, Đồng Nai mạo danh câu lạc bộ Manchester United để gây án cũng chỉ
vì xích mích với một thanh niên cùng phường mà nhóm này đã mang theo cả
hung khí chặn đường rồi dùng dao chém, sau đó lại xông vào điểm Internet đánh
những người đang chơi game ở quán rồi bỏ đi. Việc bọn chúng mặc áo thun có
in dòng chữ Manchester United là để khi đánh nhau không đánh nhầm người
mình [21].
*Về động cơ và mục đích phạm tội của các em được xác định khá cụ thể
và rõ ràng, chủ yếu là để lấy tiền tiêu xài, chơi điện tử, chơi lô đề, đánh bạc,
nghiện hút hoặc do thù hằn cá nhân, muốn thể hiện trước đám đông.
Về số lần phạm tội: số NCTN phạm tội lần đầu chiếm 38% với 13.236 bị
cáo, tái phạm chiếm 62% với 21.595 bị cáo. Nó cho thấy khả năng tiếp thu và
cải tạo của bị cáo, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời nó cũng phản
CHƯƠNG II
NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 2000-2007
Con người sinh ra không mang những yếu tố bẩm sinh của tội phạm mà
con người phạm tội là do những hiện tượng xã hội tiêu cực tác động. Ở NCTN
PT nguyên nhân dẫn các em đến con đường phạm tội xuất phát từ chính môi
trường sống đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực. Sau đây chúng ta xem xét
các nguyên nhân trong gia đình,nhà trường và xã hội tác động đến quá trình
phạm tội của người chưa thành niên.
1. Nguyên nhân trong gia đình
Nhân cách của một con người được quan tâm khi người đó tham gia vào
các quan hệ xã hội. Nhân cách của mỗi con người không phải là bản năng tự
nhiên mà nó là toàn bộ những đặc tính cá nhân, những kết quả cụ thể do tác
động của môi trường bên ngoài trong cả quá trình hoạt động của con người.
Nhân cách đồng thời là kết quả của sự điều chỉnh tích cực tác động qua lại hai
chiều giữa con người và môi trường sống. Sự phát triển của nhân cách luôn gắn
liền chặt chẽ với sự phát triển toàn diện về thể chất.
Người ta chia quá trình phát triển nhân cách thành 2 giai đoạn: giai đoạn
hình thành nhân cách và giai đoạn phát triển nhân cách. Giai đoạn trước có tính
chất quyết định đến giai đoạn sau và thông thường nó gắn với môi trường gia
đình. Chính vì vậy khi nghiên cứu nguyên nhân điều kiện dẫn NCTN đến việc
phạm tội yếu tố đầu tiên đề cập đến là môi trường và sự giáo dục của gia đình.
Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ em. Từ khi sinh ra đến lúc trưởng
thành phần lớn thời gian đứa trẻ sống trong gia đình cho nên gia đình đóng vai
trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ em. Gia đình là tế bào của xã hội, là cái
nôi thân yêu chăm sóc, nuôi dưỡng cả đời người là môi trường quan trọng giáo
dục nếp sống và hình thành nhân cách. Có thể nói, nhân cách của trẻ là tấm
gương phản chiếu đặc điểm hoàn cảnh của mỗi gia đình, lối sống và cách ứng sử
của Cảnh tham gia đường dây buôn bán ma tuý, buôn lậu, lại đi biền biệt cả
ngày vì chuyện làm ăn, buôn bán. Gặp con chỉ trong thời gian vài giờ đồng hồ,
vứt cho con một sấp tiền bảo cho con tiều sài và học tập, có nhiều tiền lại không
25
có bàn tay chăm sóc của mẹ, không có sự giáo dục của bố, nên em đã bị bọn
thanh niên xấu lợi dụng và đẩy em vào con đường phạm pháp. Cảnh nghiện
Hêrôin, để có tiền đáp ứng nhu cầu nghiện hút ngày một tăng, Cảnh đã tham gia
vào băng cướp chuyên giật dây chuyền của người đi đường [22].
14.176 bị cáo là NCTNPT (chiếm 40,7% tổng số bị cáo là NCTNTPT)
xuất thân từ những gia đình bình thường, đủ ăn, con em của những cán bộ, công
nhân viên chức. Đối với những em sống trong gia đình có bố mẹ sống bằng nghề
buôn bán, nên tư tưởng chạy theo đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, thường tính
toán thiệt hơn, bàn bạc mánh lời buôn bán làm ăn, kiếm tiền ngay trước mắt các
em. Chính sự tha hoá của cha mẹ đã đẩy các em tới hành vi, thủ đoạn gian lận,
lừa đảo và phạm tội. Nhưng đối với các em là con của những gia đình bình
thường chỉ đủ ăn, là con cái của cán bộ viên chức bị hư hỏng phạm tội thì sao?
Phải chăng cơ chế thị trường đã cuốn hút một bộ phận cán bộ này mải công việc
mà không có thời gian chăm sóc, giáo dục con cái. Một nguyên nhân khác được
kể đến là cũng có nhiều người không đủ tư cách nêu gương tốt cho con cái. Họ
cũng sống thực dụng chạy theo đồng tiền, làm giàu bằng tham nhũng, sống sa
đoạ, vô đạo đức. Những loại cán bộ viên chức này lại có chiều hướng ngày càng
tăng. Họ làm tổn hại đến uy tín của Nhà nước và lại là tấm gương xấu cho con
cái họ trong việc hình thành nhân cách.
Ngoài thực trạng trên đây, những yếu tố khuyết tật về hoàn cảnh gia đình
của các em được nêu sau đây, trong một chừng mực nào đó cũng có thể trở
thành nguyên nhân, điều kiện dẫn các em đến con đường phạm tội:
- Gia đình mà bố hoặc mẹ hoặc cả bố lẫn mẹ đang phải chấp hành hình
phạt tù. Sống trong môi trường này hiểm hoạ đối với trẻ em, không những bố