thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tp.hcm - Pdf 25


Sở khoa học và công nghệ TP. Hồ Chí Minh
hội luật gia Thành phố Hồ Chí Minh

B
B
á
á
o
oc
c
á
á
o
ok
k
h
h
o

g
h
h
i
i
ê
ê
n
nc
c


u
uk
k
h
h
o
o
a
ah

h

ố(
(
b
b


o
oc
c


o
o

ó
óc


c
ct
t
r
r


n
n
g
gv
v
à
àg
g
i
i


I


n
n
g
gt
t


i
ip
p
h
h


m
mm
m
u
u
a


t
t
r
r

ẻe
e
m
m

t
t
r
r
ê
ê
n

đ


ốh
h

ồc
c
h
h
í
ím
m
i
i
n
n
h
h



t
à
à
i
i
:
:

T
T
i
i
ế
ế
n
ns
s

ỹp
p
h

T
T
P
P
.
.H
H

ồC
C
h
h
c
c
h
h

ủn
n
h
h
i
i


m

đ





Lut

B Cụng an

3

Dng Thanh Biu Tin s

Lut Phú vin trng VKSNDTC

4

V Phi Long C nhõn

Lut Phú chỏnh tũa HS TAND TPHCM
5

Nguyn c Minh Th.s

Lut

P.trng phũng VKSNDTP.HCM

6

Phm Th

Lut

P.Chỏnh ỏn TAND TP HCM
12 Nguyn Vn Hu C nhõn

Lut

on LS TP.HCM

13

Phan Thanh Long

Tin s Trit hc B Cụng an
Mục lục

Mc lc ca tikhoa hc
1

Danh mục các chữ viết tắt trong đề tài
4

về trật tự xã hội với các lực lợng khác trong phát hiện,
điều tra tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
43
Chơng II Thực trạng tình hình tội phạm và hoạt động đấu
tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ
48
em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2.1 Tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
59
2.1.1 Một số tình hình có liên quan đến tội phạm mua bán
phụ nữ và trẻ em
59
2.1.2 Tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
53
2.2 Kết quả đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ
nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
82
2.2.1 Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục và phát động
phong trào quần chúng tham gia đấu tranh chống tội
phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
84
2.2.2 Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ
nữ và trẻ em
87
2.2.3 Công tác đấu tranh triệt phá các tụ điểm tội phạm và
xây dựng xã, phờng, thị trấn, cơ quan, đơn vị không có
tội phạm và tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em

3.2.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn
thành phố.
124
3.2.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến công tác
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ
và trẻ em
124
3.2.2.2 Tăng cờng các biện pháp phòng ngừa tội phạm mua
bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố
132
3.2.2.3 Nâng cao hiệu quả các biện pháp phát hiện tội phạm
mua bán phụ nữ và trẻ em
139
3.2.2.4 Tiếp nhận, xử lý tin báo về tội phạm mua bán phụ nữ
và trẻ em nhanh, có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
145
3.2.2.5 Tăng cờng các biện pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
149
3.2.2.6 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống
tội phạm mua bán phụ nữ trẻ em trên địa bàn thành phố
163

Kết luận
165

Danh mc ti liu tham kho
168 24. GS. TS. : Giaựo sử, tieỏn sú
25. TPCTC : Tội phạm có tổ chức.
26. UNODC : Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp
quốc
27. XHCN : Xaừ hoọi chuỷ nghúa
28. TANDTC :Toà án nhân dân tối cao.
Mở đầu

1-Lý do chọn đề tài :Hơn 30 năm qua, từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh đợc hoàn toàn giải
phóng, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện
của Đảng, nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã có những bớc phát triển vợt


nhiễm HIV/AIDS, tiềm ẩn những nhân tố xấu về an ninh quốc gia và trật tự an
toàn xã hội, đe doạ sự thành công của Chơng trình 3 giảm của thành phố Hồ
Chí Minh. Các phần tử xấu lợi dụng vấn đề này để nói xấu, tuyên truyền sai sự
thật, ảnh hởng đến uy tín của Đảng và Nhà nớc, cấp uỷ và chính quyền thành
phố .
Tình hình trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tập trung
ở một số vấn đề sau đây:
Về khách quan: Trong điều kiện kinh tế thị trờng và hội nhập quốc tế,
nhiều mâu thuẫn trong đời sống kinh tế - xã hội nảy sinh, nhất là sự phân hoá
giàu, nghèo, tình trạng thất nghiệp. Một số khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng
sa, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, dân trí thấp, nhiều phụ nữ, trẻ em và gia
đình họ ở trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhiều ngời bị lôi cuốn vào quá
trình tìm kiếm công việc làm ở thành phố Hồ Chí Minh, ở các đô thị hay ở nớc
ngoài. Mặt khác, do tác động ảnh hởng của nhiều yếu tố xấu nh các luồng văn
hoá độc hại, các tệ nạn xã hội nh mại dâm, ma tuý trong nớc và khu vực: bọn
tội phạm có tổ chức ở trong nớc móc nối với tội phạm ngời nớc ngoài khai
thác lợi dụng các điều kiện này để hoạt động phạm tội.
Về chủ quan: Nhận thức về tính nghiêm trọng, sự cần thiết và trách nhiệm
phải tăng cờng phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở nhiều cấp uỷ
Đảng, chính quyền, Ban ngành, đoàn thể cả nớc nói chung, thành phố Hồ Chí
Minh còn hạn chế. Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ
nữ, trẻ em cha đợc triển khai một cách toàn diện, đồng bộ; sự phối hợp giữa
các cơ quan chức năng thiếu chặt chẽ cơ chế tổ chức bộ máy thực hiện cha đáp
ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trong tình hình mới.
Những năm qua, công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em
luôn luôn gắn liền với công tác phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội nói
chung. Nhất là sau khi Chính phủ có Chỉ thị số 766/1998 ngày 17/9/1997 và ban

Malaysia, Cămpuchia,v.v. hành nghề mại dâm quy mô lớn .
Về hợp tác quốc tế: trong những năm qua, việc hợp tác quốc tế phòng
chống mua bán phụ nữ, trẻ em ngày càng đợc tăng cờng. Việt Nam đã tham
gia nhiều văn kiện quốc tế có liên quan, ký kết các Hiệp định tợng trợ t pháp
song ph
ơng, đặc biệt đã có nhiều hoạt động phối hợp tích cực với các nớc láng
giềng trong đấu tranh chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em qua biên giới.
Đợc sự chỉ đạo của Chính phủ, một số Bộ, ngành hữu quan đã phối hợp,
triển khai trên địa bàn thành phố nhiều dự án về phòng, chống mua bán phụ nữ,
trẻ em do các tổ chức quốc tế tài trợ nh UNICEF, ILO, IOM, UNODC và nhiều
tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ khác.
Mặc dù đã đạt đợc một số kết quả, nhng nhìn chung công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em của các ngành, các cấp
từ Trung ơng và thành phố còn cha đồng bộ, thiếu cơ chế phối hợp. Tỷ lệ điều
tra khám phá các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em còn rất thấp so với thực tế đã xảy
ra. Công tác điều tra cơ bản nắm tình hình cha thờng xuyên, cha kịp thời.
Công tác phát hiện các vụ việc có liên quan còn mang tính thu động, hầu nh
dựa vào đơn th tố giác của ngời bị hại hoặc gia đình của họ. Công tác quản lý
nhân khẩu, hộ khẩu tạm trú, tạm vắng cha tốt, nhất là vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng sa. Hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực phòng, chống tội phạm
mua bán phụ nữ, trẻ em cha đợc bổ sung hoàn thiện, nhất là chúng ta cha
nắm đợc số lợng và thực trạng phụ nữ, trẻ em bị mua bán đang sống ở nớc
ngoài.
Cán bộ làm công tác trong lĩnh vực này ở các ngành, các cấp cha đợc
thờng xuyên cập nhật kiến thức cơ bản, thiếu các thông tin trong và ngoài nớc;
tổ chức lực lợng và các trang thiết bị phục vụ công tác đấu tranh chống tội

khác dới góc độ pháp luật, kinh tế, Khoa học an ninh về đấu tranh phòng,
chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em.
ở nớc ta và nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm gần đây
tình hình tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em xảy ra ngày càng phức tạp, nghiêm
trọng và có xu hớng gia tăng. Một bộ phận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trong
nớc, chủ yếu từ các vùng nông thôn ra thành phố Hồ Chí Minh để làm gái mại
dâm. Một số bị mua bán từ thành phố Hồ Chí Minh ra nớc ngoài nh Hồng
Kông, Ma Cao, ôxtrâylia, Malaysia và các nớc khác. Ngoài ra, tình hình phụ
nữ Việt nam bị dụ dỗ, lừa gạt, buôn bán sang Đài Loan qua hình thức môi giới
hôn nhân, trẻ em Việt Nam bị bán ra nớc ngoài qua hình thức cho, nhận con
nuôi ngời nớc ngoài trong những năm qua cũng là vấn đề rất phức tạp, gây ảnh
hởng tới an ninh, trật tự, sự bền vững gia đình của nhân dân thành phố.
Ngày 14-7-2004 Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Quyết định
130/2004/QĐ-TTg phê duyệt Chơng trình hành động phòng, chống tội phạm
buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010.
Đến nay ở nớc ta đã có một số bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa
học, luận án nghiên cứu các vấn đề phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em. Các công trình trên chủ yếu do các nhà khoa học, các cán bộ thực tiễn Bộ
Công an, Viện KSNDTC, TANDTC, Hội LHPN Việt nam và một số cơ quan
chức năng trung ơng tiến hành. Tuy nhiên cha có một công trình nghiên cứu
nào nghiên cứu sâu trên phạm vi thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề đấu tranh
phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em phục vụ Chơng trình 3 giảm của
thành phố.
Trên thế giới và ở nớc ta đã công bố một số công trình khoa học sau về
đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em :
- Công ớc chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Liên hợp quốc
công bố năm 2000. Việt Nam ký tham gia từ 2-12-2000. Công ớc có 2 Nghị

hiện Chơng trình 130/CP của Chính phủ tại Thành phố Hồ Chí Minh của
CATP Hồ Chí Minh tại Hội nghị của Chính phủ, tháng 4-2007.
Những đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nói trên đều đề cập đến tội
phạm mua bán phụ nữ và trẻ em và công tác phòng, chống tội phạm mua bán
phụ nữ và trẻ em. Song phần lớn những nghiên cứu đó chủ yếu tiếp cận từ nhiều
khía cạnh khoa học khác nhau nh: Xã hội học, Lý luận Nhà nớc và Pháp luật,
Khoa học hình sự trên địa bàn cả nớc. Cho đến nay cha có một công trình
nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm
mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4- Nội dung nghiên cứu :
1- Nội dung nghiên cứu :
Dới góc độ Tội phạm học, Xã hội học nhóm tác giả tập trung nghiên
cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua
bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó xác định
những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em; những
nguyên nhân hạn chế, tồn tại của các cơ quan quản lý Nhà nớc, các cơ quan
tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các giải pháp, biện pháp đấu tranh phòng,
chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trớc năm 2006, đồng thời đề xuất
những giải pháp khả thi nhằm đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với tội
phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, có thể
nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Đề tài này chúng tôi tập trung nghiên
cứu dới góc độ Tội phạm học, Xã hội học. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực
trạng, nguyên nhân, điều kiện. Khái quát toàn bộ hoạt động đấu tranh phòng,
chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, từ đó hình thành các quan điểm lý
luận chỉ đạo cho các hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ
nữ và trẻ em.

Để đạt đợc mục đích nêu trên, các tác giả đã dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm cơ bản của Đảng, của Nhà nớc về công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, chính sách hình
sự của Nhà nớc ta đối với các hành vi phạm tội mua bán phụ nữ và trẻ em để
nghiên cứu đề tài này. Ngoài ra các tác giả đã sử dụng các phơng pháp: phơng
pháp điều tra xã hội học; phơng pháp so sánh; phơng pháp lịch sử; phơng
pháp thống kê, phơng pháp tổng hợp, phỏng vấn v.v.
Các tác giả đã nghiên cứu sử dụng các t liệu của Viện Nhà nớc và
Pháp luật, những thông báo chính thức của Tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế, Cơ
quan phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), các báo
cáo của Văn phòng Interpol Việt Nam, Cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công an;
các báo cáo tổng kết của Bộ Công an, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
Nhân dân tối cao từ năm 1998 đến nay, các bản án đã có hiệu lực về tội phạm
mua bán phụ nữ và trẻ em, các bản kết luận điều tra của cơ quan Công an; các
báo cáo sơ kết, tổng kết của các ngành: Công an Thành phố, Viện kiểm sát, Tòa
án nhân dân, TP. Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến nay.
Những kiến nghị về các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm mua
bán phụ nữ và trẻ em đợc tác giả lựa chọn, nghiên cứu trên cơ sở các tài liệu và
tham luận trong các cuộc tọa đàm, trao đổi và các cuộc hội thảo khoa học, diễn
ra trong phạm vi toàn quốc cũng nh ở địa bàn TP. Hồ Chí Minh bàn về phòng
chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em.
Là những cán bộ hoạt động thực tiễn trong ngành: Công an, Tòa án,
Kiểm sát, đã từng quan tâm và nghiên cứu về phòng chống tội phạm, trớc thực
trạng tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ngày càng diễn biến phức tạp và rất
nghiêm trọng trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất trăn trở trớc hiểm hoạ này,
mong muốn tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần đề ra những giải
pháp cơ bản để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em

trong việc tuyên truyền giáo dục, lãnh đạo, chỉ đạo v.v nhằm nâng cao hiệu quả
trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa
bàn TP. Hồ Chí Minh.
7. Cơ cấu của đề tài
Đề tài bao gồm: Phần mở đầu, kết luận và 3 chơng, tài liệu tham khảo.
Chơng I: Nhận thức chung về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em và
đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em.
Chơng II: Thực trạng tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em và
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ở TP. Hồ
Chí Minh trong những năm gần đây.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Chơng 1
nhận thức chung về Tội PHạM MUA BáN PHụ Nữ và TRẻ EM
Và đấu tranh phòng chống TộI PHạM
MUA BáN PHụ Nữ Và TRẻ EM
1.1. Nhận thức chung về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em.
1.1.1. Khái niệm tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em.
Tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em (MBPNTE ) đã có lịch sử xuất hiện t
lâu đời và hiện vẫn tồn tại, đang gây ra những nhối cho toàn xã hội. Thế nhng
nh thế nào là tội phạm MBPNTE thì cha có khái nìệrn thống nhất. Để đấu
tranh có hiệu quả với tội phạm MBPNTE, vấn đề nhận thức về khái niệm tội
phạm MBPNTE có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở lý luận, cũng là điểm xuất
phát lý luận đầu tiên cho việc đa ra các giải pháp đấu tranh, phòng ngừa tội
phạm.
Thuật ngữ "mua bán" theo nghĩa thông thờng đợc hiểu là một hoạt động

Italia. Liên Hợp Quốc đã tổ chức ký kết Công ớc đấu tranh chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia. Công ớc còn kèm theo hai Nghị định th về chống
buôn ngời và nhập c bất hợp pháp.
Nghị định th về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán ngời, đặc biệt
là mua bán phụ nữ và trẻ em ngày 15/1 l/2000 lần đầu tiên đã đa ra đợc một
định nghĩa về "buôn bán ngời" tơng đối toàn diện đợc cộng đồng quốc tế
thừa nhận (117 nớc ký và 46 nớc phê chuẩn) và đợc quy định tại Điều 3 nh
sau: "Buôn bán ngời đợc hiểu là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa
chấp và nhận ngời nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe doạ dùng bạo lực hay
các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế
dễ bị thơng tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt đợc sự
đồng ý của một ngời kiểm soát đối với những ngời khác vì mục đích bóc lột.
Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc các hành vi
bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cỡng bức, nô lệ hay
những hình thức tơng tự nô lệ, khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể. . . ".
Theo định nghĩa tại Điều 3 của Nghị định th thì các yếu tố cơ bản của
hành vi mua bán ngời thành niên bao gồm:
1) Là hành vi tuyển mộ. vận chuyển. chuyển giao. . . .
2) Là ph
ơng thức: lừa gạt, cỡng ép, dối trá hoặc lạm dụng quyền lực;
3) Nhằm mục đích bóc lột hoặc lạm dụng tình dục.
Định nghĩa đã thừa nhận việc buôn bán ngời nói chung, mua bán phụ nữ
và trẻ em nói riêng không chỉ nhằm mục đích bóc lột tình dục mà bao gồm cả
những mục đích khác nh sử dụng vào việc lao động cỡng bức, khổ sai, nô lệ và
các hình thức tơng lự nh nô lệ, các hình thức này đã đợc luật pháp quốc tế
quy định. Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm "buôn bán ngời" ít đợc đề cập
do trên thực tế cha thấy báo cáo nào có vụ việc buôn bán đàn ông, pháp luật
Việt Nam chủ yếu đề cập đến việc MBPNTE. Cụm từ "mua bán phụ nữ và trẻ
em" đợc dùng khá phổ biến trong các vãn bản pháp luật của Nhà nớc ta,
nhng cũng cha có một định nghĩa chính thức, toàn diện thế nào là buôn bán

119 và Điều 120 BLHS, nhng khái niệm MBPNTE cũng không đợc quy định
cụ thể mà chỉ mô tả dới dạng khái quát "Ngời nào mua bán phụ nữ thì bị phạt
tù từ hai năm đến bảy năm" (khoản 1 Điều 119- BLHS); "Ngời nào mua bán,
đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em . . . " (khoản 1 , Điều 120 BLHS). Trong Luật
hôn nhân và gia đình cũng quy định "Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu
tố nớc ngoài để mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ" (khoản 3,
Điều 103), song trong Luật hôn nhân và gia đình cũng không quy định khái niệm
thế nào là mua bán phụ nữ. Một số nhà khoa học có đa ra các khái niệm khác
nhau về tội phạm MBPNTE;
Từ những phân tích trên chúng ta có thể khái niệm tội phạm MBPNTE nh sau:
Tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội, đợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình
sự, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm
của phụ nữ và trẻ em, thể hiện ở hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để
mua bán, trao đổi phụ nữ (trên 16 tuổi) và trẻ em (dới 16 tuổi) nh một thứ
hàng hoá.
Nh vậy, khái niệm trên đã xác định tội phạm MBPNTE là hành vi nguy
hiểm cho xã hội đã đợc hình sự hoá trong BLHS, do chủ thể có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện. và xác định hình thức lỗi đợc( thực hiện là cố ý,
quan niệm phù hợp với đặc điểm pháp lý và đặc tính hình sự của loại tội phạm
này. Mặt khác, khái niệm mô tả khái quát hành vi phạm tội thể hiện ở hành vi
khách quan là mua bán, trao đổi đối tợng là phụ nữ và trẻ em nh một thứ hàng
hoá. Tuy nhiên để thực hiện hành vi mua bán, ngời phạm tội có thể thực hiện
những hành vi đi liền trớc hành vi có tính chất tiền đề, giúp sức cho hành vi
mua bán diễn ra nh thu gom "hàng", cất giấu, vận chuyển "hàng", song đây
không phải là hành vi khách quan của tội phạm mà chỉ là những thủ đoạn không
thể thiếu để thực hiện hành vi khách quan, nằm trong đặc điểm hình sự của loại

MBPNTE qua biên giới là những tội phạm độc lập song việc quy định tình tiết
"để đa ra nớc ngoài" là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, điều này
đã thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nớc ta với loại tội phạm này.
Qua việc nghiên cứu khái niệm tội phạm MBPNTE ban chủ nhiệm đề tài
rút ra một số nhận xét sau: Mặc dù cha có khái niệm toàn diện về "mua bán phụ
nữ, trẻ em" thông qua một số quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam cũng nh
cách hiểu chung khi áp dụng thì khái niệm "buôn bán phụ nữ, trẻ em" trong pháp
luật Việt Nam đã có nhiều điểm tơng đồng với khái niệm trong Nghị định th
về chống buôn bán ngời của Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên trong pháp luật Việt
Nam có một số điểm khác với định nghĩa của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là việc
xác định hành vi cụ thể của buôn bán ngời. Pháp luật Việt Nam không viện dẫn
cụ thể những hành vi khách quan đợc viện dẫn trong định nghĩa của Nghị định
th về buôn bán ngời thể hiện sự buôn bán bao gồm: "tuyển mộ, vận chuyển,
chuyển giao, chứa chấp và nhận ngời . . . vì mục đích bóc lột".
Nh vậy thuật ngữ "buôn bán" đợc hiểu rộng hơn "mua bán" trong luật
hình sự Việt Nam. Vì Luật hình sự Việt Nam quy định "mua bán" là hành vi
khách quan của tội phạm, chỉ đợc coi là hành vi khách quan của tội phạm đối
với hành vi trao đổi tiền - "hàng" còn những hành vi tuyển mộ, vận chuyển,
chuyển giao . . . phụ nữ và trẻ em chỉ là những hoạt động để thực hiện hành vi
khách quan "mua bán" xảy ra, và với những vụ án đồng phạm thì vai trò của họ
có thể chỉ là ngời giúp sức. Bên cạnh đó mục đích buôn bán cũng có những
điểm khác nhau. Ví dụ: mục đích bóc lột là dấu hiệu bắt buộc trong định nghĩa
của Liên Hợp Quốc về buôn bán ngời, nhng theo pháp luật Việt Nam thì trong
tội MBPNTE mục đích bóc lột không phải là dấu hiệu bắt buộc
Mặt khác, phạm trù "trẻ em" theo pháp luật của Việt Nam (Luật Bảo vệ,
chăm sóc giáo dục trẻ em) là ngời dới 16 tuổi. trong khi đó theo Công ớc
quốc tế về quyền trẻ em và Nghị định th chống buôn bán ngời thì trẻ em là

thu gom, bắt cóc, chiếm đoạt, vận chuyển, cất giấu, tập kết phụ nữ và trẻ em . . .
nhng đây chỉ là những hành vi nhằm thực hiện hành vi khách quan mua bán",
bản thân những hành vi nêu trên không phải là hành vi khách quan của tội phạm
mà chỉ là những hành vi mang tính chuẩn bị, hành vi đi liền trớc, hành vi giúp
sức cho hành vi mua bán mà thôi.
Đối với hành vi MBPNTE qua biên giới thì hành vi phạm lội có một dấu
hiệu khách quan đặc trng là dấu hiệu "qua biên giới". Nh vậy, có thể hiểu việc
MBPNTE nhằm đa qua biên giới Việt Nam ra nớc ngoài, yếu tố này đợc xác
định trên cơ sở đờng biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ của Nhà nớc Cộng
hoà XHCN Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 1, Hiến pháp năm 1992 thì lãnh thổ của Nhà nớc
Cộng hoà XHCN Việt Nam bao gồm ". . . đất liền, các hải đảo, vùng biển và
vùng trời". Nh vậy hành vi MBPNTE qua biên giới là MBPNTE nhằm đa ra
ngoài lãnh thổ của Việt Nam sang nớc khác. Chúng ta cũng cần lu ý tội phạm
MBPNTE qua biên giới không có nghĩa là bắt buộc việc mua bán đó phải diễn ra
bên ngoài biên giới quốc gia hoặc đã xảy ra bên ngoài biên giới quốc gia, mà nó
còn bao gồm cả những hành vi MBPNTE đã diễn ra trong nội địa nhng "để đa
ra n
ớc ngoài" nh trờng hợp các đờng dây buôn bán phụ nữ quốc tế đã thu
gom phụ nữ các tỉnh Miền Tây và Miền Đông Nam Bộ đa về thành phố Hồ Chí
Minh và đa xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status